Khoảng Cách Giàu Nghèo Ngày Càng Tăng Trên Quy Mô Toàn Cầu

--- Bài mới hơn ---

  • Vấn Đề Chênh Lệch Giàu Nghèo Với Quá Trình Hội Nhập Thương Mại Toàn Cầu
  • Vì Sao Xe Máy Nhập Không Tắt Đèn Vào Ban Ngày?
  • Đọc Truyện Tứ Đại Mỹ Nhân Xinh Đẹp Và Tứ Đại Thiếu Gia Hào Hoa
  • Tứ Đại Mỹ Nhân Xinh Đẹp Và Tứ Đại Thiếu Gia Hào Hoa
  • 10 Lý Do Để Bắt Đầu Yêu!
  • Thứ sáu, 25/01/2019 04:34

    Khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng

    Trong báo cáo “Lợi ích Công hay Tài sản Tư” vừa được Oxfam công bố ngày 21-1-2019, cho thấy khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn đang hủy hoại cuộc chiến chống nghèo đói, gây tổn thất cho nền kinh tế cũng như châm ngòi cho làn sóng bất bình diễn ra trên toàn cầu. Báo cáo cho thấy các chính phủ đang khiến cho bất bình đẳng trở nên trầm trọng hơn qua việc đầu tư không thích đáng cho các dịch vụ công như dịch vụ chăm sóc y tế và giáo dục, mặt khác lại áp thuế thấp cho các tập đoàn và các nhóm giàu có, và thất bại trong việc chống trốn thuế. Báo cáo này cũng chỉ ra rằng phụ nữ và trẻ em gái là những nạn nhân chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do bất bình đẳng kinh tế gia tăng.

    Báo cáo của Oxfam chỉ ra rằng, hiện số lượng tỉ phú đã tăng gấp đôi kể từ sau khủng hoảng tài chính. Trong giai đoạn 2022-2018, tính trung bình cứ 2 ngày lại có thêm 1 tỉ phú mới. Số tỷ phú trên toàn thế giới hiện đang ở mức kỷ lục là 2.208 người, sở hữu khối tài sản lớn hơn bao giờ hết. Tổng khối lượng tài sản của 26 người giàu nhất thế giới đạt 1,4 nghìn tỷ USD trong năm 2022 – tương đương với tổng tài sản của khoảng 3,8 tỷ người nghèo nhất thế giới. Tuy nhiên, thực tế các cá nhân và tập đoàn giàu có hiện lại đang đóng mức thuế thấp hơn so với mức họ phải đóng. Mức thuế mà các cá nhân và tập đoàn giàu có phải đóng cũng đang được cắt giảm đáng kể. Ví dụ, tỉ lệ cao nhất về thuế thu nhập cá nhân ở các nước giàu giảm từ 62% vào năm 1970, xuống còn 38% năm 2013. Tỉ lệ trung bình này ở các nước nghèo là 28%.

    Do đó, Oxfam ước tính, nếu như chỉ cần 1% người giàu nhất thế giới đóng thêm 0,5% thuế tài sản, thì chúng ta đã có nhiều tiền hơn cả mức chi phí cho toàn bộ 262 triệu trẻ em đang thất học được tiếp cận giáo dục, và cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe cứu mạng sống cho 3,3 triệu người trên thế giới. Oxfam đưa ra khuyến cáo rằng, các quốc gia trên thế giới cần áp dụng hệ thống thuế công bằng hơn, nâng tỷ lệ thuế đối với thu nhập cá nhân và tăng thuế doanh nghiệp, cắt giảm tình trạng trốn thuế của các công ty lớn và siêu giàu.

    Không những vậy, hiện nay ở nhiều quốc gia, một môi trường giáo dục tốt hay dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng đã trở thành một khái niệm xa xỉ mà chỉ giới giàu có mới đủ khả năng chi trả. Mỗi ngày, thế giới có khoảng 10.000 người chết vì không tiếp cận được dịch vụ y tế mà họ có khả năng chi trả. Ở các nước đang phát triển, một đứa trẻ sinh ra trong gia đình nghèo có khả năng tử vong trước 5 tuổi cao gấp đôi so với đứa trẻ sinh ra trong gia đình giàu có. Ở các nước như Kenya, một đứa trẻ của gia đình giàu có sẽ có trình độ học vấn cao gấp đôi so với đứa trẻ của một gia đình nghèo.

    Cần giải pháp cụ thể thu hẹp khoảng cách giàu nghèo

    Báo cáo trên của Oxfam được công bố trong bối cảnh các lãnh đạo chính trị và kinh tế thế giới đang tham dự Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF 2022) diễn ra tại Davos, Thụy Sĩ. Bản báo được đưa ra với mục đích kêu gọi sự quan tâm của cộng đồng quốc tế trước tình trạng khoảng cách giàu nghèo đang gia tăng.

    Theo các chuyên gia, để giảm khoảng cách giàu nghèo, các quốc gia cần tăng tốc độ thực hiện xóa đói giảm nghèo bằng những nỗ lực to lớn hơn nữa, như tăng phạm vi lựa chọn và khả năng tiếp cận với các nguồn lực hiện có, kiểm soát tốt hơn các rủi ro, đảm bảo môi trường bền vững cũng như bảo đảm sự tham gia rộng rãi hơn của dân chúng trong quá trình lập kế hoạch và ra quyết định. Việc mở rộng sự lựa chọn trong lĩnh vực phát triển con người là một chiến lược quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo của các nước. Người nghèo cần phải có nhiều cơ hội hơn trong việc lựa chọn nghề nghiệp cũng như lối sống. Đồng thời, người nghèo cũng cần phải được hưởng thụ một cách hợp lý và công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản.

    Một phần quan trọng trong nỗ lực thu hẹp khoảng cách giàu nghèo còn là xóa đói giảm nghèo cho phụ nữ, vì đói nghèo tác động tới phụ nữ và trẻ em nhiều hơn nam giới. Phụ nữ có ít cơ hội lựa chọn hơn vì bị hạn chế bởi bổn phận đối với xã hội và gia đình, bởi các giá trị và quan niệm truyền thống về giới tính và phụ nữ bị đặt ở địa vị thấp hơn nam giới, thậm chí bị lạm dụng. Xóa nghèo ở nữ giới là mở rộng điều kiện lựa chọn về nghề nghiệp, việc làm và giáo dục, cũng như quyền sử dụng đất đai và khả năng vay vốn. Vấn đề bình đẳng giới cũng phải được đưa vào chiến lược xóa đói giảm nghèo của mỗi nước…

    Và quan trọng hơn, các chuyên gia đã khuyến cáo rằng, nếu các chính phủ không tập trung giải quyết vấn đề khoảng cách giàu nghèo và bất bình đẳng, thì mục tiêu xóa đói giảm nghèo cùng cực vào năm 2030 sẽ không thể thực hiện được và gần một nửa tỷ người sẽ vẫn phải sống trong tình trạng nghèo đói cùng cực.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Bài 4: Các Nước Đông Nam Á (Cuối Thế Kỉ Xix
  • Vì Sao Thái Lan (Xiêm) Là Nước Duy Nhất Trong Khu Vực Ở Đông Nam Á Không Trở Thành Thuộc Địa Của Các Nước Phương Tây?
  • Sửa Lỗi Không Bắt Được Wifi Trên Điện Thoại Android
  • Kết Nối Wifi Không Có Mạng Internet: Phải Làm Gì Lúc Này?
  • Tại Sao Wifi Có Dấu Chấm Than Và 3 Phút Khắc Phục Triệt Để Lỗi Chấm Than Wifi
  • Toàn Cầu Hóa Chênh Lệch Giàu Nghèo

    --- Bài mới hơn ---

  • Đèn Xe Máy Phải Bật Sáng Khi Nổ Máy Có Phù Hợp Với Việt Nam?
  • Honda Lead 2022: Giá Xe Lead 125 Hôm Nay
  • Tại Sao Yêu Nhau Không Đến Được Với Nhau?
  • Tại Sao Chúng Ta Lại Yêu Quý H’hen Niê?
  • Tại Sao Các Cô Gái Lại Yêu Thích Hoa?
  • Trên các phương tiện thông tin đại chúng, không chỉ ở Việt Nam mà hầu như trên toàn thế giới, người ta nói rất nhiều về sự nghèo đói và hiện tượng chênh lệch giàu nghèo. Tuy nhiên, ở đây có một điểm cần làm rõ, đó là phải phân biệt sự nghèo đối với khoảng cách chênh lệch giàu nghèo, sự nghèo đói và chênh lệch giàu nghèo với nhận thức về chúng. Cần phải khẳng định rằng toàn cầu hóa chỉ làm cho sự nghèo đói xuất hiện và được chú ý hơn, chứ không phải làm cho người ta nghèo đói hơn. Trước đây, khi tất cả mọi người đều nghèo đói, nhất là trong một thế giới ít thông tin, sự nghèo đói bị chìm đi. Thế nhưng, toàn cầu hóa, với luồng thông tin thông thoáng, đã khiến người ta cảm nhận rõ ràng hơn sự nghèo đói của mình trong mối tương phản với sự giàu có của những dân tộc khác. Cũng bởi thế mà một số người vội vã đổ lỗi cho toàn cầu hóa, quên mất rằng chính nó đã, đang và sẽ đem đến cho dân tộc mình rất nhiều cơ hội phát triển.

    Toàn cầu hóa đã thổi vào các quốc gia một luồng sinh khí mới, hay ít ra, buộc các quốc gia, thêm một lần nữa, phải nhìn lại chính mình, phải xác định những mặt mạnh, mặt yếu của chính mình để tận dụng các cơ hội và đối mặt với những hiểm họa mà nó mang lại.

    Hãy nhìn lại những diễn biến gần đây của thế giới để thấy rằng, sự luân chuyển mạnh mẽ dòng vốn giữa các quốc gia, quá trình chuyển giao công nghệ sôi động cùng với sự phổ biến các tiêu chuẩn về lao động và môi trường đã giúp và buộc các quốc gia, nhất là những nước thuộc thế giới thứ ba, cải thiện bức tranh kinh tế xã hội của mình như thế nào. Toàn cầu hóa có tác động quan trọng nhất là khai thác việc sử dụng một cách hiệu quả lợi thế so sánh của các quốc gia, và hơn thế nữa, nó giúp các quốc gia phát huy những lợi thế ấy. Dường như, lý thuyết về việc khai thác chi phí nhân công rẻ đã không còn tuyệt đối đúng và giữ nguyên màu sắc nguyên thủy của nó nữa. Trước đây, khi toàn cầu hóa còn ở mức thấp, các nước giàu chỉ khai thác lao động về mặt số lượng, hay nói khác đi, họ chỉ tận dụng những lao động cơ học, thay vì tạo điều kiện để tăng cường hàm lượng chất xám của nhưng lao động ấy. Ngày nay, toàn cầu hóa buộc các quốc gia phải tăng cường chất lượng lao động cũng như tiêu chuẩn hóa lao động của mình, phải đặt vấn đề về việc sử dụng lao động tù nhân lao động trẻ em… thay vì khai thác theo kiểu bóc lột như trước đây.

    Toàn cầu hóa cũng đã làm thay đổi tư duy của mọi người về hoạt động đầu tư của các nước giàu. Trước đây, người ta nhìn nhận nó đơn thuần như một quá trình khai thác tài nguyên, mà kẻ hưởng lợi duy nhất là những nước đi đầu tư. Ngày nay, hoạt động này được công nhận như một quá trình hợp tác “win-win”, đôi bên đều có lợi. Các nước đầu tư đã, đang và sẽ tái phân phối sự giàu có của mình, giúp các nước nghèo đói khai thác và chỉ cho họ cách thức để tạo ra sự giàu có cho riêng mình. Bên cạnh đó, các nước đầu tư cũng có thể mở rộng thị trường của mình qua việc làm cho một bộ phận dân cư ở các nước nhận đầu tư trở nên giàu có hơn, và do đó, có điều kiện tiêu dùng sản phẩm của mình. Cũng nhờ thế, quá trình này phần nào giúp các nước đang phát triển giải quyết vấn đề việc làm và gia tăng những điều kiện thuận lợi để thực hiện các chương trình xoá đói giảm nghèo.

    Tuy nhiên, chúng ta cũng nên ý thức về những ảnh hưởng tiêu cực mà toàn cầu hóa mang đến. Thứ nhất, toàn cầu hóa buộc các quốc gia phải đối mặt với những nguy cơ tụt hậu, nó cũng buộc các quốc gia phải chấp nhận thay đổi, mà đôi khi là những thay đổi đau đớn. Toàn cầu hóa sẽ chỉ ra những hạn chế về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, sẽ khiến các doanh nghiệp phải tham gia vào một cuộc chơi với những luật chơi khắc nghiệt, để hoặc tận hưởng những cơ hội mà nó mang lại, hoặc chấp nhận bị phá sản. Vì thế, nó sẽ kéo theo hệ quả thất nghiệp như là nguyên nhân của sự lan tràn các tệ nạn xã hội.

    Thứ hai, toàn cầu hóa chỉ ra một cách rõ ràng sự lạc hậu của năng lực một dân tộc, năng lực doanh nghiệp và năng lực cá nhân. Hơn bất kỳ lúc nào, người ta sẽ phải đánh giá một cách sâu sắc về “tính có thể mua bán được” của những giá trị lao động của mình. Thứ ba, toàn cầu hóa cũng sẽ yêu cầu các quốc gia phải giải bài toán đánh đổi tăng trưởng về kinh tế với tính ổn định của chính trị và xã hội. Bởi nó thổi vào các quốc gia những luồng tư duy mới rất có thể gây ra những xáo trộn tạm thời. Ô nhiễm môi trường cũng là vấn đề nan giải của các quốc gia và của cả thế giới trước nhịp điệu phát triển vũ bão của khoa học công nghệ. Nhưng trên hết, dân chủ hóa đóng vai trò then chốt, bởi lẽ chỉ có dân chủ hóa mới cho phép chúng ta huy động tiềm năng sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, hợp lý hóa đời sống kinh tế chính trị, tăng sức cạnh tranh và cuối cùng là sự phát triển bền vững.

    Cũng tương tự như vậy, chúng ta phải nhận thức lại vấn đề chênh lệch giàu nghèo. Xét về mặt xã hội học, sự chênh lệch giàu nghèo trở thành vấn đề xã hội thực sự và làm nảy sinh những vấn đề mang tính tâm lý tác động không tốt tới nhiều mặt của đời sống xã hội. Điều này thể hiện qua việc xuất hiện và tồn tại tâm lý hằn học với sự giàu có, đố kỵ với những nhà kinh doanh, ác cảm với những người thành đạt không theo quan niệm truyền thống cũ. Trên các phương tiện thông tin đại chúng, người ta đổ lỗi cho kinh tế thị trường, cho toàn cầu hóa hoặc tự do thương mại, coi đó như là mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng, buôn lậu, và các hành vi trục lợi hoặc tạo ra ưu thế và lợi ích cho người giàu, hạn chế và làm thiệt hại đến quyền lợi của người nghèo và là nguyên nhân khiến khoảng cách giàu nghèo ngày càng mở rộng. Tâm lý tiêu cực này nảy sinh trên cơ sở nhận thức không đúng đắn về sự chênh lệch giàu nghèo. Nhận thức lại vấn đề sẽ giúp chúng ta hình thành tâm lý xã hội đúng đắn và chỉ có như vậy mới đưa ra được những biện pháp phù hợp để xoá đói giảm nghèo tiến tới thu hẹp khoảng cách phát triển vốn là hố sâu ngăn cách giữa nhiều quốc gia, nhiều cộng đồng đang cùng sống chung dưới một mái nhà thế giới.

    Chúng ta cần nhận thức chênh lệch giàu nghèo là hiện tượng tất yếu của xã hội. Chúng ta không thể xoá bỏ được chênh lệch giàu nghèo bởi nó thể hiện kết quả của chênh lệch năng lực tự nhiên giữa các cá thể. Điều chúng ta có thể làm được là nâng cao mức sông của người nghèo thông qua việc nâng cao năng lực của chính họ. Chỉ có trên cơ sở đổi mới quan điểm như vậy chúng ta mới xây dựng được một tâm lý xã hội tích cực đối với vấn đề chênh lệch giàu nghèo. Đây cũng chính là tiền đề để thu hẹp khoảng cách giàu nghèo.

    Có người đã trả lời rằng có thể. Câu chuyện này cho thấy tâm lý nóng vội muốn đốt cháy nhiều thứ để phát triển, nhưng cũng cho thấy cả sự phiến diện trong cách tư duy của chúng ta về một sự phát triển thực sự. Giàu có thịnh vượng không phải là một toà lâu đài đẹp được xây dựng chỉ sau một đêm như ước mơ của anh bạn trẻ nêu trên. Chúng ta không thể tư duy hời hợt như vậy bởi vấn đề phải được giải quyết trên quy mô quốc gia và quốc tế, trên cơ sở phối hợp các chính sách đã được phân tích và nghiên cứu thấu đáo

    Một số người chủ trương rằng để giải quyết vấn đề nghèo đói tạo lập sự bình đẳng xã hội phải thực hiện nhiều hơn nữa các giải pháp ưu đãi người nghèo thông qua các biện pháp điều tiết thu nhập của nhà nước. Những giải pháp này còn có thể áp dụng trong điều kiện hiện nay, khi Việt Nam chưa bị ràng buộc quá khắt khe bởi những hiệp ước kinh tế song phương hoặc đa phương, tức là, khi nhà nước còn có không gian đủ tự do để sử dụng nhiều biện pháp hỗ trợ sản xuất thông qua các hình thức ưu đãi cho người nghèo. Nhưng các hình thức ưu đãi như vậy không thể là giải pháp dài hạn. Về thực chất, đó chỉ là sự bố thí trên quy mô xã hội và sẽ không bao giờ cho phép chúng ta giải quyết dược cơ bản vấn đề nghèo đói. Hơn thế nữa, trong tương lai, khi tiến trình hội nhập kinh tế đạt đến quy mô và trình độ cao, nhiều hình thức ưu đãi sẽ không còn có thể áp dụng, bởi sẽ bị coi là trợ cấp thương mại, điều cấm kỵ trong xu thế tự do hóa thương mại.

    Rõ ràng, chúng ta phải đi con đường khác để tìm ra những giải pháp cơ bản có thể xoá đói giảm nghèo phù hợp với các chuẩn mực quốc tế cũng như xu hướng phát triển của thời đại.

    Theo chúng tôi, trên phương diện vĩ mô, chúng ta có thể tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau đây:

    Thứ nhất, nâng cao năng lực cho người lao động đê họ có thể cạnh tranh thắng lợi, hoặc chí ít, giúp người lao động không bị thua thiệt trong quá trình toàn cầu hóa. Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập thương mại, cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn, trong khi năng lực tự nhiên của người lao động tại các nước nghèo lại nhanh chóng trở nên lạc hậu với yêu cầu của thị trường và rất dễ bị gạt ra bên lề của sự phát triển. Ngư lao động tại các nước nghèo như Việt Nam cần được nâng cao năng lực để tham gia vào quá trình hội nhập, đó mới là hạt nhân của chính sách xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển. Để làm được như vậy, đổi mới giáo dục – đào tạo phải là bước đi đầu tiên và tất yếu trong chiến lược xoá đói giảm nghèo. Vấn đề không chỉ ở chỗ nhiều người nghèo không có điều kiện tiếp cận hệ thống giáo dục – đào tạo, mà còn ở chỗ hệ thống giáo dục – đào tạo hiện nay quá xa rời thực tế thị trường lao động, không đảm bảo trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Vì thế, năng lực cạnh tranh cá nhân của họ vẫn rất yếu kém, khiến họ là những người đầu tiên thua thiệt trong cạnh tranh khi quá trình hội nhập ngày càng sâu sắc.

    Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu một cách linh hoạt và thích hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong quá trình hội nhập. Cần phải nói rằng chuyển dịch cơ cấu là quá trình tất yếu xảy ra trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, chuyển dịch đến đâu, chuyển dịch như thế nào, chuyển dịch chất lượng lao động theo hướng nào là chuẩn mực quốc tế cũng như xu hướng phát triển của thời đại.

    Theo chúng tôi, trên phương diện vĩ mô, chúng ta có thể tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau đây:

    Thứ nhất, nâng cao năng lực cho người lao động để họ có thể cạnh tranh thắng lợi, hoặc chí ít, giúp người lao động không bị thua thiệt trong quá trình toàn cầu hóa. Trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập thương mại, cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn, trong khi năng lực tự nhiên của người lao động tại các nước nghèo lại nhanh chóng trở nên lạc hậu với yêu cầu của thị trường và rất dễ bị gạt ra bên lề của sự phát triển. Ngư lao động tại các nước nghèo như Việt Nam cần được nâng cao năng lực để tham gia vào quá trình hội nhập, đó mới là hạt nhân của chính sách xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển. Để làm được như vậy, đổi mới giáo dục – đào tạo phải là bước đi đầu tiên và tất yếu trong chiến lược xoá đói giảm nghèo. Vấn đề không chỉ ở chỗ nhiều người nghèo không có điều kiện tiếp cận hệ thống giáo dục – đào tạo, mà còn ở chỗ hệ thống giáo dục – đào tạo hiện nay quá xa rời thực tế thị trường lao động, không đảm bảo trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Vì thế, năng lực cạnh tranh cá nhân của họ vẫn rất yếu kém, khiến họ là những người đầu tiên thua thiệt trong cạnh tranh khi quá trình hội nhập ngày càng sâu sắc.

    Thứ hai, chuyển dịch cơ cấu một cách linh hoạt và thích hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong quá trình hội nhập. Cần phải nói rằng chuyển dịch cơ cấu là quá trình tất yếu xảy ra trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, chuyển dịch đến đâu, chuyển dịch như thế nào, chuyển dịch chất lượng lao động theo hướng nào là một vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn và nghiêm túc hơn.

    Chẳng hạn, chúng ta luôn nói về việc phát triển các làng nghề mà quên mất rằng nghề ấy, hay làng nghề ấy cho ra những sản phẩm không còn những giá trị thị trường như trước nữa, và do đó, thị trường lao động ấy cũng không nên khuyến khích nữa. Chúng ta đã bàn nhiều về chuyển dịch lĩnh vực sản xuất, nhưng do những nghiên cứu nửa vời, chúng ta lại rơi vào tình trạng chuyển từ một lĩnh vực kém hiệu quả này sang một lĩnh vực kém hiệu quả khác. Kết quả là chúng ta đã nghèo lại còn nghèo hơn, vì việc đầu tư sai hướng đã gây lãng phí cả năng lực vật chất cũng như thời gian. Bởi vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu không thể thực hiện bằng mọi giá mà cần được nghiên cứu một cách khoa học để tạo ra những thay đổi tích cực và phù hợp với nhu cầu của thị trường. Trong mọi trường hợp, chúng ta không được quy quá trình chuyển dịch cơ cấu đơn thuần về các đối tượng sản xuất, mà cần phải chuyển địch cơ cấu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu quản lý và cả cơ cấu thị trường lao động. Nếu không, chuyển dịch cơ cấu có thể lại là sự thua thiệt của người nghèo và rốt cục, khoảng cách giàu nghèo không những không bị thu hẹp mà còn có nguy cơ mở rộng hơn.

    Thứ ba, phát triển nông thôn như là hạt nhân của chiến lược xoá đói giảm nghèo. Với một quốc gia mà đa số người dân sống ở nông thôn như Việt Nam, khu vực nông thôn là lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong chiến lược xoá đói giảm nghèo. Theo những số liệu chính thức, hiện còn quá nhiều người nông dân Việt Nam có mức sống dưới đô la/ ngày. Vì thế, nông thôn là địa bàn chính, phát triển nông thôn là một giải pháp cốt lõi, để xoá đói giảm nghèo. Nếu được đào tạo kỹ năng để chủ động tham gia vào quá trình hội nhập, người lao động nông thôn sẽ không phải ra thành thị chỉ để làm các nghề nặng nhọc. Họ có thể xây dựng cuộc sống mới và hưởng thụ thành quả ngay trên mảnh đất quê hương bởi cuộc sống ở đây cũng cần phát triển để không bị tụt hậu so với nhịp phát triển chung trong một thế giới đang toàn cầu hóa mạnh mẽ.

    Cuối cùng xây dựng đô thị giàu có và thịnh vượng, tạo động lực thúc đẩy cả nền kinh tê. Xoá đói giảm nghèo phải được đặt trong bối cảnh phát triển kinh tế chung của một quốc gia. Các nước đang phát triển muốn cho nền kinh tế cất cánh, muốn đất nước phồn vinh, muốn xoá đói giảm nghèo phải có động lực đủ mạnh. Trên phương diện thị trường, khu vực đô thị giàu có với sức mua lớn sẽ kích thích sản xuất ở nông thôn, tạo lối ra cho sản phẩm và dịch vụ từ khu vực nông thôn, và do đó, có thể đẩy nhanh quá trình giảm nghèo cho nông dân hiện chiếm đại bộ phận cư dân cả nước. Chính vì thế, nếu chúng ta thành công trong việc giải bài toán tăng cường sức mua đô thị, bộ mặt của nông thôn sẽ được cải thiện hơn rất nhiều. Tuy nhiên, để tăng cường sức mua đô thị, chúng ta cũng nên có những thay đổi về chính sách thuế thu nhập. Hiện nay, chính sách thuế thu nhập của chúng ta ít nhiều mang tính chất “cào bằng”, bỏ qua sự khác nhau giữa các khu vực địa lý, tức là bỏ qua những yếu tố địa kinh tế, mà quên mất rằng tiền cũng như nước, nó sẽ chảy từ nơi có cột nước cao đến nơi có cột nước thấp. Do đó, nếu chúng ta làm cho mức nước ở các đô thị thấp, thì sức nén đẩy tới những vùng xa xôi khác cũng sẽ thấp. Thành công của một số nước trong việc phát triển đô thị chỉ ra rằng, việc phát triển các đô thị lớn thành các trung tâm kinh tế giàu có và thịnh vượng sẽ đóng vai trò các đầu tầu tạo động lực thúc đẩy cả nền kinh tế cất cánh.

    Qua tất cả những gì đã trình bày ở trên, chúng tôi muốn khẳng định rằng xoá đói giảm nghèo không phải là vấn đề của riêng người nghèo mà là của toàn xã hội. Tuy nhiên, giải pháp cho vấn đề không nằm ở chỗ tiếp tục khoét sâu khía cạnh tâm lý của việc phân biệt giàu nghèo, chia rẽ các lực lượng trong xã hội và đổ lỗi cho những lực lượng này hoặc lực lượng khác, mà ở chỗ nhận thức một cách khách quan và khoa học các quy luật và hiện tượng nhằm xây dựng những chiến lược phát triển phù hợp. Một chính sách thực tế và sáng suốt hơn để xoá đói giảm nghèo, trong bối cảnh hiện nay khi toàn cầu hóa đang ngày càng trở thành xu thế áp đảo trong mọi lĩnh vực đời sống phát triển phải là tăng cường hợp tác giữa các lực lượng, giữa các quốc gia, không kể giàu nghèo, đồng thời nâng cao mức sống tối thiểu cho người dân thông qua việc cải thiện năng lực phát triển của chính họ.

    Mọi chương trình xoá đói giảm nghèo chỉ có thể thành công khi chính người nghèo trở thành chủ thể trong cuộc chiến chống đói nghèo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Thích Vì Sao Khu Vực Xích Đạo Là Nơi Có Lượng Mưa Nhiều Nhất Trên Trái Đất?
  • Tại Sao Xương Người Già Giòn Và Dễ Gãy Hơn So Với Người Lớn Và Trẻ Nhỏ?
  • Tại Sao Xương Người Già Giòn Và Dễ Gãy?
  • Lý Giải Tại Sao Xương Người Già Giòn Và Dễ Gãy Hơn Xương Trẻ Em
  • Cách Kiểm Tra Và Sửa Lỗi Wifi Có Dấu Chấm Than Trên Điện Thoại Android
  • Tại Sao Nhu Cầu Than Đá Trên Thế Giới Lại Luôn Có Xu Hướng Tăng?

    --- Bài mới hơn ---

  • Thế Hệ Sinh Sau 2000 Có Gì Đặc Biệt?
  • Tại Sao Kinh Doanh Theo Mạng Là Xu Thế Của Thế Kỷ 21?
  • Hiv Là Gì? Tại Sao Lại Gọi Là Căn Bệnh Thế Kỷ?
  • Đọc Chương 42: Vì Người Mà Dao Động
  • Tại Sao Lại Có Tên Gọi Thành Phố Hồ Chí Minh? Sài Gòn Đổi Thành Thành Phố Hồ Chí Minh Từ Bao Giờ?
  • Công nghiệp khai thác than xuất hiện tương đối sớm và được phát triển từ nửa sau thế kỉ XIX. Sản lượng than khai thác được rất khác nhau giữa các thời kì, giữa các khu vực và các quốc gia, song nhìn chung, luôn có xu hướng tăng lên về số lượng tuyệt đối. Trong vòng 50 năm qua, tốc độ tăng trung bình là 5,4%/năm, còn cao nhất vào thời kì 1950 – 1980 đạt 7%/năm. Từ đầu thập kỉ 90 đến nay, mức tăng giảm xuống chỉ còn 1,5%/năm.

    Tại sao nhu cầu than đá trên thế giới lại có xu hướng tăng?

      Lý do chính: Than đá là nguồn nhiên liệu sản xuất 38% lượng điện trên toàn thế giới. Nhu cầu sử dụng điện tăng đương nhiên kéo theo tiêu thụ than đá tăng. Trong bài viết “Giải thích thế nào về xu hướng than đá được sử dụng nhiều hơn trên thế giới ?” đăng trên trang mạng The Conversation, nhà kinh tế Carine Sebi thuộc Đại học quản trị Grenoble, Pháp (GEM) cho biết 2/3 lượng than đá được dùng để sản xuất điện, phần còn lại phục vụ cho công nghiệp, chủ yếu là ngành luyện kim.
      Chuyên gia Carine Sebi dẫn nguồn dữ liệu của cơ quan nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực năng lượng Enerdata cho biết trong giai đoạn 2010-2017, mức tiêu thụ than đá để sản xuất điện tăng tỉ lệ thuận với mức tiêu thụ điện nói chung, lần lượt là 2,8%/ năm và 3%/năm.

      Nếu như tại Pháp, chỉ có 1,8% lượng điện được sản xuất từ các nhà máy nhiệt điện dùng than đá, và ở Trung Đông chỉ khoảng gần 3%, thì tại nhiều nước, tỉ trọng này vẫn rất lớn, chẳng hạn Ba Lan (78%), Ấn Độ (75%), Trung Quốc (68%), Indonesia (58%), Philippines (50%). Con số này ở Việt Nam là 34%.
      Trung Quốc là nước có nhu cầu cao nhất về than đá. Hiện giờ, Trung Quốc tiêu thụ tới ¼ tổng lượng than đá khai thác được trên toàn thế giới. Các nguồn năng lượng sạch chưa đủ đáp ứng nhu cầu nên Trung Quốc chủ yếu vẫn phải dựa vào nhiệt điện. Nhu cầu điện của Trung Quốc tăng trung bình 7%/năm kể từ năm 2005. Xét về số lượng, Trung Quốc sử dụng nhiều than đá nhất thế giới để phục vụ ngành sản xuất điện.

    Sản lượng than đá tiêu thụ tăng mạnh nhất ở khu vực nào trên thế giới ?

      Hiện nay, trên thế giới có hai xu hướng trái ngược nhau. Trong khi một số nước đã giảm tỉ trọng nhiệt điện, thì có một số nước khác lại đẩy mạnh sản xuất điện từ than đá. Nhóm nước thứ hai cũng thường là các quốc gia khai thác nhiều than đá nhất. Ấn Độ, tỉ trọng nhiệt điện đã tăng thêm 7% từ năm 2010 đến năm 2022. Mức tăng ở Indonesia là 18%, Philippines 15%. Việt Nam cũng là nước có tỉ trọng nhiệt điện tăng mạnh (+14%). Tại Nhật Bản, sau thảm họa Fukushima, nhiều nhà máy điện nguyên tử đã phải đóng cửa. Trong bối cảnh đó, nước Nhật phải dựa nhiều vào than đá để sản xuất điện. Tỉ trọng nhiệt điện than tại nước này vì thế tăng mạnh trong giai đoạn 2011-2015. Philippines và Việt Nam là hai trong số các nước có trữ lượng than đá lớn và đã tận dụng nguồn nhiên liệu này để sản xuất điện, tránh phụ thuộc về năng lượng.
      Ngược lại, tỉ trọng nhiệt điện than giảm mạnh ở Mỹ (-15%), châu Âu (-10%). Trung Quốc, cho dù vẫn là nước tiêu thụ nhiều than nhất thế giới để sản xuất điện, nhưng chính quyền cũng đã triển khai các chính sách môi trường và năng lượng để hạn chế sử dụng than đá để giảm nạn ô nhiễm môi trường, nhờ vậy tỉ trọng nhiệt điện than cũng được giảm 10%.

    Có nhiều nước mới phát triển về nhiệt điện than hay không ?

      Điều đáng ngạc nhiên, theo nhà kinh tế Carine Sebi, là trong bối cảnh thế giới đấu tranh chống biến đổi khí hậu, nhiều quốc gia đề ra mục tiêu đóng cửa triệt để các nhà máy nhiệt điện than (Pháp – năm 2022, Anh và Ý – năm 2025, Hà Lan – năm 2030 và Đức – năm 2035), thì hiện giờ lại có thêm khoảng 20 nước, trong đó có 9 nước châu Phi, 3 nước Trung Mỹ, hai nước Trung Đông và 2 nước châu Á đang hướng về than đá. Từ nay đến năm 2025, hơn 70 nhà máy nhiệt điện than tại những nước này sẽ được đưa vào hoạt động.

    Nhu cầu than đá sẽ tăng hay giảm trong những năm tới ?

      Theo dự báo mà cơ quan dự báo Enerfuture của tổ chức nghiên cứu năng lượng Enerdata công bố vào tháng 01/2019 và được chuyên gia Carine Sebi trích dẫn, từ nay đến năm 2040, tỉ trọng nhiệt điện than trong cơ cấu nguồn điện trên thế giới sẽ chỉ giảm 10 điểm, xuống còn 27,6%. Trung Đông, châu Mỹ la-tinh và châu Âu sẽ là 3 khu vực có tỉ trọng nhiệt điện than thấp nhất thế giới, lần lượt là 1,9%, 4% và 7,4%. Ấn Độ (54,2%), Indonesia (44,3%) và Trung Quốc (38,7%) vẫn sẽ là 3 nước có tỉ trọng nhiệt điện than cao nhất do có trữ lượng than đá dồi dào và mang lại nhiều lợi nhuận về kinh tế. Nhưng nếu xét về mức độ giảm, thì Trung Quốc sẽ dẫn đầu (-24,6%).
      Xét về ngắn hạn và trung hạn, nhu cầu điện trên thế giới vẫn tiếp tục tăng, nhất là do nhu cầu ở các nước có nền kinh tế mới nổi tăng mạnh, đồng thời sẽ có thêm nhiều lĩnh vực sử dụng điện, nhất là xe hơi chạy bằng điện. Theo một báo cáo của Cơ quan năng lượng quốc tế công bố ngày 30/05/2018, từ cuối năm 2014 đến cuối năm 2022, số xe hơi chạy điện trên thế giới đã tăng gấp 5 lần. Tính đến cuối năm 2022, trên thế giới có khoảng 3,1 triệu xe hơi điện lưu thông, gần 2/3 số đó là xe chạy điện 100%. Theo dự báo của Cơ quan năng lượng quốc tế, từ nay đến năm 2030, số xe hơi chạy điện sẽ tăng lên đến 125-220 triệu chiếc.
      Trong năm 2022, hơn 50% số xe hơi điện bán được là tại Trung Quốc. Nhưng nếu so sánh với các nước khác, trong khi số xe hơi điện chỉ chiếm 2,2% tổng số xe bán được tại Trung Quốc, thì tại Bắc Âu, tỉ lệ này là cao hơn rất nhiều (Na Uy 39,2%, Island 11,7% và Thụy Điển 6,3%). Tại Pháp, so với năm 2022, số xe hơi bán được tăng 18%, còn tại Đức và Nhật, con số này tăng gấp đôi.
      Hiện giờ, chính phủ nhiều nước đã đề ra kế hoạch cấm xe chạy bằng xăng và diesel, chuyển hoàn toàn sang xe hơi chạy điện : Na Uy – năm 2025, Hà Lan – năm 2030, Scotland – năm 2032, Pháp và Anh – năm 2040. Xe hơi chạy điện sẽ khiến nhu cầu sử dụng điện tăng, nhu cầu than đá vì thế khó có thể giảm nhanh.

    LIÊN HỆ HỢP TÁC MUA BÁN THAN VỚI LEC THÔNG QUA HÌNH THỨC

    • Gọi điện đến số hotline: (+84) 901 388 136.
    • Gửi yêu cầu đến địa chỉ email: [email protected]
    • Liên hệ qua facebook tại: https://www.facebook.com/LecGroupVietNam

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Tiếng Anh Lại Phổ Biến Nhất Trên Thế Giới?
  • Vì Sao Chuỗi Điện Thoại Siêu Rẻ Của Thế Giới Di Động Đóng Cửa Chỉ Sau Chưa Đầy 1 Năm Hoạt Động?
  • Tại Sao Phải Đóng Cửa Boom Online, Hãy Để Boom Lạc Trôi Theo Thời Gian
  • Dubai Ở Đâu? Tại Sao Dubai Giàu Có Nhất Thế Giới? Điểm Du Lịch Nào Đẹp Nhất Dubai?
  • Những Lý Do Bật Lửa Zippo Nhanh Hết Xăng Và Cách Khắc Phục
  • Thu Hẹp Khoảng Cách Giàu Nghèo

    --- Bài mới hơn ---

  • Bộ Lạc Là Gì? Phân Tích Hiện Tượng Xã Hội Này / Tâm Lý Xã Hội Và Các Mối Quan Hệ Cá Nhân
  • Bóng Đá Bị Sa Lầy Trong Nạn Phân Biệt Chủng Tộc Đã Quá Lâu
  • Những Tiếng Giả Khỉ Và Góc Nhìn Của Một Ngôi Sao Bóng Đá Về Phân Biệt Chủng Tộc
  • Nhức Nhối Nạn Phân Biệt Chủng Tộc Trong Bóng Đá
  • 3 Cách Kiểm Tra, Phân Biệt Túi Coach Thật Và Giả Chuẩn Nhất
  • Máy của bạn không hỗ trợ nghe xem

    Thu hẹp khoảng cách giàu nghèo

    Từ vựng

    world leaders: các nhà lãnh đạo thế giới

    charity: tổ chức từ thiện

    urgent action: hành động khẩn cấp

    narrow the gap: thu hẹp khoảng cách

    global elite: nhóm nhỏ những người tinh hoa nhất, giàu có nhất

    Bài khóa

    The rich are getting richer and the poor are getting poorer.

    That’s what world leaders who are gathering for the start of the World Economic Forum are being told this week.

    The charity Oxfam says that by 2022, 50 percent of the world’s wealth will be owned by the richest one percent of the population.

    They say urgent action is needed to narrow the gap between the global elite and the other 99 percent.

    Bài dịch

    Người giàu thì ngày càng giàu lên và người nghèo thì ngày càng nghèo đi.

    Đó là những gì các nhà lãnh đạo thế giới hiện đang tụ họp tại Diễn đàn Kinh tế Thế giới tuần này sẽ được nghe.

    Tổ chức từ thiện Oxfam nói tới năm 2022, 50% tài sản của cả thế giới sẽ thuộc sở hữu của những người giàu nhất vốn chiếm 1% toàn bộ dân số thế giới.

    Họ nói cần có hành động khẩn cấp để rút ngắn khoảng cách giữa những người giàu có nhất toàn cầu và số người còn lại chiếm 99% dân số thế giới.

    Bài tập

    global elite / world leaders / narrow the gap / charity / urgent action

    Giải đáp

    1. Growing scientific evidence of accelerating greenhouse gas emissions, melting icecaps and the shrinking capacity of “sinks” to absorb emissions means we need bold, urgent action by government to drive down emissions to zero.

    2. “We also recognise the importance of helping the lagging regions narrow the gap in growth rates.”

    3. While world leaders were formulating an international response to modern climate change, archaeologists were discussing a serious shift in climate that happened 2,500 years ago.

    4. Stephen Sackur asks “is it time we challenged the power of the global elite?”

    5. Filmmakers and charity workers are joining forces to raise awareness of the dangers of childbirth in Bangladesh.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Từ Vựng Tiếng Anh Về Vấn Đề Xã Hội Hiện Nay
  • Cách Phát Âm Tiếng Việt Qua Các Vùng Miền
  • Các Kiểu Nhà Trong Tiếng Anh
  • Hướng Dẫn Cách Viết Bài Luận Tiếng Anh Về Bình Đẳng Giới
  • Cách Phân Biệt Mẫu Câu: Ai
  • Tại Sao Một Số Quốc Gia Nghèo, Trong Khi Số Khác Lại Giàu?

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Nước Đang Phát Triển Cần Dùng Đô Thị Hóa Để Thực Hiện Mục Tiêu Phát Triển Thiên Niên Kỷ: Báo Cáo Của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế Và Ngân Hàng Thế Giới
  • Đô Thị Là Gì Và Tại Sao Chúng Tồn Tại?
  • Trần Thế Trung Và Hành Trình Đưa Cầu Truyền Hình Olympia Về Nghệ An
  • (#kiến Thức)Vì Sao Bạn Không Thể Chia Tay Mỡ Bụng?
  • 4 Lý Do Vì Sao Chúng Ta Mãi Không Thể Giảm Mỡ Cơ Thể?
  • Có khoảng 196 quốc gia trên thế giới. Trong số đó có 25 quốc gia rất giàu có, có thu nhập bình quân đầu người trên 100 000$ một năm. Các quốc gia đó là: Úc, Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hồng Kông, Iceland, Ý, Nhật, Luxembourg, Hà Lan, New Zealand, Thụy Sĩ, Singapore, Hàn Quốc, Anh, Mỹ, Barbados, …

    Đa phần còn lại là các quốc gia khá nghèo và một số thì rất, rất nghèo. 20 quốc gia nghèo nhất thế giới có thu nhập bình quân đầu người dưới 1000$/năm, tức là dưới 3$/ngày. Có thể kể đến như: Venezuela, Triều Tiên, Cộng hòa Congo, Mozambique, Zimbabwe, Ethiopia, Afghanistan, Myanmar, Gambia…

    Ở tất cả các quốc gia, dù ít dù nhiều đều đang trên con đường phát triển. Nhưng tại các quốc gia nghèo thì việc này diễn ra vô cùng chậm chạp. Ví dụ, nếu Zimbabwe tiếp tục duy trì tỷ lệ tăng trưởng như hiện nay, họ sẽ đủ tiêu chuẩn là một nước giàu trong 2722 năm nữa!

    Có ba yếu tố cơ bản quyết định liệu một quốc gia sẽ giàu có hay nghèo nàn. Yếu tố đầu tiên là:

    Thể chế đóng vai trò vô cùng quan trọng. Nói chung, những nước giàu có một thể chế tốt và những nước nghèo có một thể chế rất, rất tồi.

    Dễ thấy có một sự tương quan trực tiếp giữa nghèo nàn và tham nhũng. Những nước giàu nhất trên thế giới là những nước có tỷ lệ tham nhũng thấp nhất. Còn những quốc gia có tỷ lệ tham nhũng cao nhất thì nghèo nhất.

    Ở các quốc gia có tỷ lệ tham nhũng cao, họ không thể thu đủ thuế để có thể xây dựng một thể chế vững mạnh giúp họ tránh khỏi cái bẫy nghèo nàn. Một nửa của cải tại các quốc gia nghèo nhất được tuồn ra các tài khoản ngân hàng tại nước ngoài, và đây là nguyên nhân khiến tổng thu nhập ở các nước này bị sụt giảm khoảng 10 đến 20 tỷ USD một năm. Cùng lúc đó, khi không có một hệ thống thuế hiệu quả, các nước nghèo không thể đầu tư vào các hệ thống an ninh, giáo dục, sức khỏe, vận tải, …

    Nói một cách tổng quát hơn, tham nhũng bị chi phối bởi tư duy bè phái.

    Khi bạn thuê một ai đó để làm việc, tại các nước giàu, bạn đơn giản chỉ cần dựa trên những phẩm chất của họ. Bạn thực hiện các cuộc phỏng vấn với nhiều ứng cử viên và sau đó chọn ra người giỏi nhất, mà không cần lưu tâm đến bất kỳ mối quan hệ cá nhân nào.

    Nhưng tại các nước nghèo, dưới sự ảnh hưởng của tư duy bè phái, cách tiếp cận sẽ bị sai lệch đi. Lúc này nhiệm vụ của bạn là lờ đi những ứng viên giỏi nhất trong hàng loạt người vô danh ứng tuyển để chọn ra những người cùng phe bạn: như chú bác bạn, anh em bạn, họ hàng bạn, những người cùng bộ lạc với bạn, …

    Kết quả là, các nước nghèo không chọn ra được những người thông minh và tài giỏi trong số những công dân của mình để góp phần quản lý và phát triển đất nước.

    Yếu tố thứ hai khiến các nước mãi nghèo là:

    Văn hóa là những gì in sâu vào tâm trí, quan điểm, niềm tin của mỗi người.

    Nếu có thể nói một cách khái quát về quan hệ giữa tôn giáo và của cải thì đó sẽ là càng ít người có đức tin, đất nước đó càng có cơ hội giàu có hơn.

    Theo một số liệu thống kê, 19 trong số những quốc gia giàu có nhất thế giới có trên 70% dân số cho rằng tôn giáo không có tầm quan trọng đối với họ. Có một trường hợp ngoại lệ ở đây là – không mấy bất ngờ – nước Mỹ, nơi có thể kết hợp giữa sự sùng bái tôn giáo với sự tạo ra của cải khổng lồ (chúng ta sẽ bàn thêm về điều này sau).

    Tại sao tôn giáo lại không tốt cho việc tạo ra của cải? Bởi vì, nói chung, các tín ngưỡng có quan hệ mật thiết với ý tưởng rằng thực tại không thể thay đổi được, vậy nên con người nên tập trung vào đời sống tinh thần và hướng đến thế giới bên kia.

    Điều này có vẻ có ý nghĩa khi bạn sống tại một nơi như thế này.

    Mặt khác, ở các nước giàu có, người ta tin tưởng mạnh mẽ vào khả năng họ có thể thay đổi số mệnh của mình thông qua nỗ lực và tài năng.

    Còn một yếu tố lớn khác nữa xác định sự thịnh vượng hay nghèo nàn của các quốc gia là:

    Các nước nghèo thường nằm ở vùng nhiệt đới. Đây không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên. Cuộc sống ở những vùng này rất, rất khắc nghiệt trên nhiều phương diện.

    Vấn đề bắt đầu với nông nghiệp. Các loại cây trồng nhiệt đới thường khó tổng hợp cacbon hydrat. Các nước nghèo cũng thường có đất đai kém màu mỡ. Và cũng thật bất ngờ là khí hậu nhiệt đới lại có thể không thuận lợi cho việc quang hợp.

    Theo dòng lịch sử, yếu tố quyết định để tăng khả năng giàu có của một xã hội là việc sở hữu các đàn gia súc lớn (như ngựa hay trâu bò) giúp con người được giải phóng khỏi việc cày cuốc bằng tay. Nhưng ở vùng nhiệt đới Châu Phi, các đàn gia súc bị hạ gục bởi một hiểm họa tồi tệ: loài ruồi Tsetse. Loài ruồi nhỏ này – chỉ xuất hiện ở Châu Phi bởi sức nóng và độ ẩm nơi đây – hạ gục các loài động vật trên diện rộng: làm cho chúng buồn ngủ hoặc lười vận động. Điều này làm ảnh hưởng sâu sắc đến năng suất lao động của người dân Châu Phi trong nông nghiệp, khiến họ rất khó khăn để có thể tạo ra của cải.

    Không chỉ cây cối hay động vật ở vùng nhiệt đới phải chịu đựng sự khắc nghiệt. Ở những vùng cận xích đạo, con người cũng dễ mắc phải nhiều loại dịch bệnh khủng khiếp. Ví dụ như: Bệnh sốt xuất huyết, Sốt vàng da, Bệnh tả, E-coli, Ebola, Bệnh lao, Sốt Lassa, Bệnh phong, Bệnh sốt rét, Bệnh sán máng, Bệnh giun chỉ, Bệnh vẩy nến, Bệnh giun đũa chó, …. 100% các quốc gia có thu nhập thấp bị ảnh hưởng bởi ít nhất 5 loại dịch bệnh nhiệt đới cùng lúc.

    Nhiệt độ lý tưởng giúp cho các nước giàu có là 16 độ C. Việc nhiệt độ hạ xuống thấp hơn 16 độ C và thời tiết trở nên lạnh buốt theo đúng nghĩa đen, tuy đôi lúc gây nên một chút khó chịu, lại là nền móng của văn minh.

    Thêm vào đó, vị trí địa lý cũng bao gồm cả giao thương, vận tải. Các nước nghèo nói chung, có mối liên kết với bên ngoài rất kém. Quốc gia nội lục (không tiếp giáp với biển) như Bolivia hay Paraguay là hai quốc gia nghèo nhất Nam Mỹ. Châu Phi chỉ có một con sông chính có thể cho tàu bè qua lại là sông Nile và có tới 15 quốc gia nội lục. 11 trong số đó có thu nhập bình quân đầu người dưới 600$/năm. Không phải ngẫu nhiên mà nước nghèo nhất châu Á, Afghanistan, cũng là một quốc gia nội lục.

    Tiếp đến là về tài nguyên thiên nhiên. Những tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, kim loại quý có thể là vấn đề thực sự. Một nghịch lý là các nước nghèo có xu hướng xem chúng là quân át chủ bài. Các nhà kinh tế học gọi những nguồn tài nguyên này là hiệu ứng khuếch đại, bởi chúng sẽ giúp một quốc gia với thể chế tốt giàu có hơn. Nhưng với một thể chế tồi thì thậm chí nó sẽ làm quốc gia đó nghèo hơn, dồn quốc gia đó vào cái bẫy tài nguyên.

    Cộng hòa Dân chủ Công Gô là một trong những quốc gia có trữ lượng quặng lớn nhất thế giới. Quốc gia này nắm giữ hầu hết trữ lượng quặng Coltan của thế giới. Trong mỗi chiếc điện thoại di động điều có một hàm lượng nhỏ kim loại này. Nhưng nguồn tài nguyên thiên nhiên này chỉ giúp tầng lớp chóp bu kiếm ra tiền mà không cần sự tác động của toàn xã hội. Ví dụ nếu cách duy nhất để tạo ra của cải là phải vận hành các công nghệ và máy móc phức tạp, bạn sẽ cần sự chung tay góp sức của toàn xã hội. Nhưng nếu công việc đơn thuần là chỉ cần tách quặng thì bạn có thể thực hiện với một lực lượng lao động ít ỏi, một lực lượng quân đội bảo kê riêng và một đường băng đủ dài để chuyển của cải kiếm được ra thị trường thế giới. Tiền từ việc bán Coltan đã giữ cho phiến quân của Cộng hòa Dân chủ Công gô được trang bị đầy đủ súng ống và gây ra tình trạng tham nhũng ở mọi tầng lớp xã hội.

    ***

    Vậy làm thế nào để định lượng được mức độ quan trọng của các yếu tố khác nhau này, giữa thể chế, văn hóa và vị trí địa lý trong việc xác định sự thịnh vượng của một quốc gia?

    Thứ nhất, hãy Khiêm Tốn. Bạn nên có một quan điểm tốt hơn về sự thành công của cá nhân bạn. Không chỉ vì bản thân bạn làm việc chăm chỉ hoặc vì bạn có phẩm chất tốt đẹp, mà còn đến từ xã hội bạn đang sống. Nó đã được tạo dựng qua hàng trăm năm, và bản thân bạn giờ đây đang nghiễm nhiên hưởng thành quả từ những cha ông đi trước.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Hai Triều Đại Lý Trần Lại Đạt Được Sự Thịnh Vượng?
  • Virus Corona: Vì Sao Hai Phóng Viên Ở Vũ Hán Mất Tích?
  • Trung Quốc Có Thể Thay Mỹ Dẫn Dắt Thế Giới?
  • Virus Corona : Chính Quyền Trung Quốc Và Quả Báo Gian Dối
  • Có Khi Nào Em Sẽ Buông Tay Dễ Dàng Hơn Nếu Anh Hạnh Phúc?
  • Tại Sao Châu Phi ‘giàu’ Nhưng Người Dân Lại Nghèo?

    --- Bài mới hơn ---

  • Mạng Xã Hội Dậy Sóng Vì Câu Chuyện Xúc Động Của Quán Quân Trần Thế Trung Ở Chung Kết Olympia
  • Trần Thế Trung Và Hành Trình Giành Vòng Nguyệt Quế Olympia
  • Bài 13 : Chiến Tranh Thế Giới Thứ Nhất (1914
  • Android Không Bắt Được Wifi, Sửa Lỗi Điện Thoại Android Không Bắt Được
  • Vì Sao Trẻ Sơ Sinh Hay Vặn Mình, Gồng Mình Khi Ngủ Và Cách Chữa
  • Nghịch lý này vẫn hiện hữu ở châu Phi như cách nó tồn tại hàng thế kỷ ở châu lục này.

    Tỉnh Katanga thuộc Cộng hòa Dân chủ Congo là nơi có nguồn tài nguyên thiên nhiên khổng lồ, bao gồm cả các khoáng sản giá trị với trữ lượng lớn như kim cương, vàng hay tantalum.

    Ở Katanga, một sự bùng nổ về khai thác đã diễn ra trong giai đoạn chuyển giao thế kỷ, khi Tổng thống Laurent – Desire Kabila và con trai ông cho phép các công ty khai mỏ quốc tế thu lợi từ kho báu quốc gia.

    Sự dàn xếp này tạo ra nguồn của cải dồi dào, đem đến sự giàu có cho các tầng lớp dân chúng ở Congo, đặc biệt là những người khai mỏ. Nhưng với người nghèo, lợi ích được hưởng là không đáng kể. Theo một điều tra của Liên Hợp Quốc, từ năm 1999 đến năm 2000, chế độ Kabila “đã chuyển giao ít nhất 5 tỷ đô la Mỹ quyền sở hữu thuộc về khu vực nhà nước sang các công ty tư nhân mà không có bất cứ bồi thường hay trợ cấp cho Kho bạc Nhà nước”.

    Sự phồn thịnh này diễn ra đồng thời với một cuộc đàn áp tàn nhẫn do bất đồng chính kiến. Năm 2004, một nhóm nhỏ tiếp quản một mỏ đang khai thác bởi công ty Anvil Mining của Úc, phản đối việc các công ty thu được nguồn lợi khổng lồ mà không khen thưởng cho lực lượng lao động địa phương. Theo một báo cáo của Liên Hợp Quốc, quân đội Congo đã đàn áp cuộc nổi dậy và giết hơn 100 người.

    Các công nhân khai thác coban từ một hồ nước tại tỉnh Katanga, Cộng hòa Congo. Ảnh: Getty

    Chủ nghĩa thực dân hiện đại

    Không phải ngẫu nhiên mà sự giàu có đáng kinh ngạc, bạo lực tràn lan và nghèo đói ở Cộng hòa Congo lại kết hợp “hài hòa” với nhau. Đây được coi như một phần của khuôn mẫu gây ra sự tàn phá khắp châu Phi. Trong một ấn phẩm mới của The Looting Machine, tác giả của cuốn sách Tom Burgis đã tiến hành điều tra về nghịch lý giữa “một bên là lục địa nghèo nhất thế giới, nhưng cũng có thể cho rằng, đây là lục địa giàu có nhất”.

    Nên đọc

    Burgis, một cựu phóng viên cho LagosJohannesburg, đã chứng kiến một loạt các chính phủ bất lương qua chuyến đi của mình đến hàng chục các quốc gia giàu tài nguyên. Nhưng một trong những vấn đề chính được phát hiện đó là sự tước đoạt nguồn tài nguyên với số lượng lớn trong thời kỳ thuộc địa đã chỉ chậm lại suốt giai đoạn sau độc lập.

    “Khi thế lực bên ngoài rời đi, bạn chỉ còn lại một tầng lớp không có sự phân chia giữa quyền lực chính trị và quyền lực kinh tế. Nguồn thu duy nhất để giàu có là mỏ hoặc giếng dầu, và đó là công thức chung xuất hiện ở các quốc gia mắc căn bệnh tham nhũng trầm trọng. Ở một nơi nào đó như Nigeria, giới tinh hoa muốn tự tạo ra các thứ thuế từ nguồn tài nguyên dầu mỏ hay khai khoáng mang lại”.

    Burgis trích dẫn một tàn tích khác của thời kỳ thuộc địa trong sự hiện diện liên tục và sức mạnh của các công ty dầu khí và khai mỏ. Burgis cho rằng có “các công ty xuyên quốc gia nắm giữ một quyền lực về kinh tế cũng như chính trị khủng khiếp ở châu Phi sau độc lập. Bằng cách này, một sợi dây kết nối từ khai thác thời thuộc địa với khai thác thời hiện đại được hình thành”.

    “Cung cấp nhiên liệu” cho đàn áp

    Burgis lập luận, các chính phủ phải dựa vào nguồn doanh thu từ tài nguyên dẫn đến tham nhũng và đàn áp, cuối cùng là không có trách nhiệm với người dân của mình. Ông lấy Angola – đất nước có nguồn thu từ dầu chiếm một nửa GDP, như một ví dụ cho việc chính phủ là “dịch vụ của tầng lớp thượng lưu”. Theo số liệu kiểm toán của IMF năm 2011 cho thấy, 32 tỷ đô la Mỹ biến mất khỏi tài khoản chính thức trong giai đoạn 2007-2010, chiếm 25% thu nhập của nhà nước.

    Trong tác phẩm của mình, tác giả có viết “chính phủ có thể hành xử như vậy nếu thấy không cần sự đồng ý của người dân”. Angola đã có những hành động để giải quyết những chỉ trích trong những năm gần đây. Điều này được thể hiện trong cuộc bầu cử năm 2012 được các quan sát viên trung lập nhận xét là “tự do và công bằng”. Tuy vậy, những nhóm nhân quyền chứng thực rằng đàn áp vẫn là một thực tế của cuộc sống.

    Đống rác này ngày một cao lên trong khi tiền bạc mà Angola dành cho cộng đồng quá ít ỏi. Ảnh: Getty

    Những thỏa thuận bí mật

    Sự phát triển mạnh mẽ của các ngân hàng nước ngoài trong những năm cuối thế kỷ XX đã tạo ra các cơ hội mới cho các ông trùm tài nguyên, để che giấu dấu vết, một thực tế đã được phơi bày trong hồ sơ Panama.

    Nên đọc

    Doanh nhân Israel Dan Gertler là người đi tiên phong từ rất sớm. Sau khi gây dựng được một tình bạn thân thiết với Tổng thống nước Cộng hòa Dân chủ Congo Joseph Kabila, Gertler gần như nắm giữ độc quyền việc xuất khẩu kim cương của quốc gia này, và nhanh chóng trở thành tỷ phú. Gertler chuyển tiền mặt thông qua một mạng lưới phức tạp các tài khoản nước ngoài trong “thiên đường” thuế, đồng thời giữ bí mật thông tin chi tiết các giao dịch gây tranh cãi.

    Burgis cho biết, “Trong trường hợp của các giao dịch tài nguyên ở châu Phi, các quỹ nước ngoài sẽ che dấu các giao dịch đáng ngờ. Trong những năm 1980, theo nghĩa đen, hối lộ là những chiếc xe chứa đầy tiền mặt và bạn chuyển giao chiếc chìa khóa cho nỗ lực hối lộ của bạn”.

    “Ngày nay, hối lộ phức tạp hơn nhiều, và trở nên khó xác định hơn. Bạn phải xâm nhập rất nhiều những bí mật ở nước ngoài để có thể nhìn được những mâu thuẫn của lợi ích nằm sâu trong trung tâm”.

    Thời đại của tài chính toàn cầu đã tạo cơ hội cho các thị trường ở châu Phi hình thành một thế hệ mới các thương nhân bí ẩn. Burgis dành nhiều thời gian để lần theo dấu vết Sam Pa, một thương nhân kín tiếng người Trung Quốc, người đã sử dụng rất nhiều mật danh khi tiến hành giao dịch trên khắp lục địa, từ dầu mỏ ở Angola đến kim cương ở Zimbabwe. Pa được cho là dẫn đầu nhóm đầu tư bí mật Queensway. Burgis cho rằng Pa chính là người đại diện cho nhà nước Trung Quốc, mặc dù chính phủ phủ nhận điều này.

    Phá vỡ dây chuyền

    Burgis hoài nghi việc ngành công nghiệp tài nguyên có thể sẽ được cải tổ. “Có một khả năng đáng lo ngại rằng không thể đưa các nguồn lực tự nhiên ở các nước này đóng góp cho lợi ích chung. Hầu như ở khắp các nơi nhận được một nguồn lợi đáng kể từ dầu mỏ hay khai khoáng thì thường xảy ra bạo lực – điều đó được thể hiện trong bản chất của các ngành công nghiệp khi nó là nguyên nhân gây ra những vấn đề”.

    Botswana và Nam Phi đã thích nghi từ sự tăng lên của chuỗi giá trị – đó là phát triển các ngành công nghiệp có tay nghề cao từ các ngành tài nguyên thiên nhiên thay vì chỉ xuất khẩu thô, chẳng hạn như đánh bóng kim cương hoặc các cho ra đời các sản phẩm hàng hóa kim loại. Burgis tin rằng đa dạng hóa nền kinh tế đi từ một nguồn tài nguyên đơn lẻ – như chính phủ của Tổng thống Buhari ở Nigeria đang cố gắng làm – có thể làm giảm những ảnh hưởng từ sự lệ thuộc.

    Burgis cũng gợi ý một lựa chọn khác đó là giữ nguồn tài nguyên ở trong nước và nâng giá thuế quan để bảo vệ ngành công nghiệp nội địa. Tuy vậy, các nhà lãnh đạo châu Phi không muốn áp dụng biện pháp đó.

    Burgis cho hay “Chúng ta có một hệ thống thương mại quốc tế với các quy định ngặt nghèo về thuế quan. Các nước châu Phi đã thông qua một thị trường chính thống để từ đó buộc họ phải cắt giảm các bang và nắm lấy thời cơ từ nền kinh tế thị trường – nơi mà đa số họ là những kẻ thua cuộc”.

    Đánh bóng kim cương ở Bostwana, một trong những ngành công nghiệp kỹ thuật cao tại nước này. Ảnh: Getty

    Đồng lõa tập thể

    Trách nhiệm đối với sự tuyệt vọng của các quốc gia phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên vượt xa tầm kiểm soát của các thương nhân cũng như các nhà độc tài. Các nền kinh tế toàn cầu vẫn đòi hỏi một nguồn cung cấp nguyên liệu lớn từ các nước châu Phi, hình thành một tình thế bắt buộc để duy trì hiện tại.

    Burgis hoan nghênh các bước tiến như “Quá trình Kimberley” để ngăn ngừa hiện tượng thương mại “kim cương máu”. “Bài học cho những người phương Tây đang muốn giải quyết những thiệt hại từ các ngành công nghiệp dầu mỏ cũng như khai khoáng. Và tham nhũng sẽ đi cùng với họ. Vấn đề này hiện vẫn tồn tại trong hệ thống tài chính quốc tế”.

    Burgis đề nghị tiến hành đăng ký công cộng toàn cầu dành cho các công ty để chống lại việc các công ty sử dụng vỏ bọc trong các giao dịch bất hợp pháp. Burgis cho biết thêm “những bí mật tài chính hiện thời có thể không phải là lỗi của các nước châu Phi”.

    Bản chất của chuỗi cung ứng toàn cầu có nghĩa là đồng lõa với những tội ác xung quanh việc khai thác nguồn tài nguyên, được kéo dài từ những nhà độc tài châu Phi đến những người mua điện thoại ở châu Âu.

    Ở mọi cấp độ, ảo tưởng là một rào cản lớn cần phải gỡ bỏ. Burgis nhớ lại cuộc gặp gỡ với một nhân vật hàng đầu của chế độ độc tài Angola, người đã tranh luận nhiệt tình rằng ông đã bảo vệ người dân của mình khỏi sự lạm dụng tồi tệ hơn.

    “Đó là bản chất con người. Chẳng ai nghĩ rằng mình là người xấu cả”, Burgis cho hay.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Soạn Bài Bức Tranh Của Em Gái Tôi
  • Câu 1: Nguyên Nhân Cuộc Khởi Nghĩa Yên Thế Câu 2: Vì Sao Khởi Nghĩa Yên Thế Lại Thất Bại Câu 3: Tại Sao Nói Cuộc Khởi Nghĩa Hương Kh
  • Vì Sao Con Gái Lại Dễ Mềm Lòng Với Người Con Trai Nhỏ Tuổi Hơn Mình?
  • Vì Sao Bố Thường Chiều Con Gái, Mẹ Thường Yêu Con Trai?
  • Vì Sao Con Gái Học Giỏi Hơn Con Trai?
  • Tại Sao Châu Phi Lại Nghèo?

    --- Bài mới hơn ---

  • Châu Âu Đổi Sang Giờ Mùa Đông
  • Châu Âu Đổi Giờ Và Sự Rắc Rối Không Cần Thiết
  • Tại Sao Không Có Cảm Giác Đi Cầu?
  • Dựng Nước Phải Luôn Đi Đôi Với Giữ Nước, Có Dựng Được Nước Mạnh Thì Mới Giữ Được Nước Bền
  • Bài Học “dựng Nước Phải Đi Đôi Với Giữ Nước ” Theo Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Điều khiến người ta ngạc nhiên là số phận kém may mắn mà châu Phi phải chịu đựng trong suốt gần 50 năm qua kể từ ngày thoát khỏi ách thuộc địa. Đầu những năm 60 thế kỉ 20 châu Phi cũng không kém cạnh những nước như Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) hay Malajsia lúc bấy giờ. Trong khi những nước này trở thành những con rồng kinh tế thì GDP (tổng sản phẩm nội địa) của châu Phi trong hai thập kỉ trở lại đây giảm mạnh. Châu Phi không giàu thêm mà ngược lại, có vẻ như chỉ nghèo đi.

    Địa lý

    Châu Phi là nạn nhân của địa lý. Châu Phi nghèo vì châu Phi có số phận đen đủi. Đất châu Phi không màu mỡ, phù nhiêu như đất châu Á. Lục địa đen cũng phải chịu nhiều bệnh tật hơn. Đa số dân cư sống không tập trung gần bờ biển cộng với hệ thống đường và sông nước kém gây cản trở giao thương và phát triển kinh tế. Việc điều khiển quốc gia tại châu Phi rất khó khăn vì chính phủ còn yếu mà lí do đơn giản cũng chỉ bởi do sự nghèo. Mà đã nghèo thì không thể dự trữ được vốn quan trọng nhằm gây dựng một tương lai sáng sủa hơn.

    Chính trị

    Lí do nghèo vì chính trị thực sự là bi quan hơn rất nhiều so với lí do địa lý. Hàng tấn tai họa mà châu Phi phải gánh chịu như chiến tranh, chuyên chế, tham nhũng, hạn hán, đói nghèo, bạo lực hàng ngày tạo nên một cuộc khủng hoảng ở mức độ khó có gì thay đổi nổi. Nguồn gốc khủng hoảng nằm ở những người cầm quyền tại châu Phi do họ không có khả năng điều khiển đất nước.

    Mặc dù thế, sau khi giành được độc lập triển vọng phát triển của lục địa đen không có vẻ tồi lắm. Hạ tầng cơ sở do người phương Tây để lại vẫn trong tình trạng tốt. Tuy nhiên xã hội châu Phi không nhận được văn hóa chính trị thích hợp để có thể điều khiển được sự tồn tại của các bộ tộc, sự khác biệt giữa các vùng miền hay giữa các tôn giáo. Sau những hào hứng đầu tiên những khó khăn và lý tưởng chính trị giảm một cách bi thảm. Đường lối đặc trưng của hầu hết các nước châu Phi là sự tách biệt với xã hội và tạo hệ thống tham nhũng.

    TUY NHIÊN CÒN CÓ NHỮNG LÍ DO ĐƠN GIẢN KHÁC MÀ TƯỞNG AI CŨNG BIẾT!

    Thất nghiệp – cái nghèo nơi thành thị

    Tại các thành phố tỉ lệ thất nghiệp vẫn tăng. Các nhà máy, xí nghiệp không có khả năng tạo ra công ăn việc làm ổn định. Điều này trong tương lai hẳn sẽ còn là một vấn đề lớn bởi số người ở độ tuổi lao động đến 25 tuổi tăng gấp đôi. Vùng nam châu Phi đến khu vực Sahara tỉ lậ lao động này tăng 2,6% mỗi năm. Vấn đề hệ trọng hơn việc thất nghiệp là thiếu việc làm. Thiếu việc làm ở đây nghĩa là có đi làm nhưng việc làm nay đây mai đó, làm việc với năng xuất thấp và với đồng lương bèo bọt. Tỉ lệ thiếu việc làm này chiếm nhiều hơn tỉ lệ thất nghiệp.

    Vấn đề tiếp theo là việc những người trẻ tuổi không có cơ hội kiếm việc làm. Ở một số nước 80% dân số tạo nên tỉ lệ thất nghiệp. Theo phỏng đoán, chỉ tầm 5-10% số người tìm việc có cơ hội kiếm cho mình một công việc ổn định trong khi đó 55% dân châu Phi ở độ tuổi đến 18.

    Một lí do chính nữa đó là dịch HIV, đặc biệt ở các nước nam châu Phi. Vì lí do này mà tỉ lệ nam lao động ở nam Phi giảm từ 79,1% xuống 63,3%. Nếu tình hình vẫn cứ tiếp diễn như trên thì tương lai cho việc giảm nghèo là rất u ám.

    Hạn hán – cái nghèo miền nông thôn

    Ngành công nghiệp ở các nước châu Phi chỉ chiếm vị trí thứ hai. Gần 80% dân số lệ thuộc vào nông nghiệp. Tuy nhiên số hoa màu trồng được không đủ nuôi sống số dân đang tăng nhanh. Thức ăn cho người còn không có huống hồ là thức ăn cho súc vật. Các sa mạc đã chiếm tới 40% diễn tích đất canh tác.

    Trong hai thập kỉ cuối châu Phi phải gánh chịu nhiều nạn hán lớn bất thường so với những mùa khô ở các thập kỉ trước và so với 100 trở lại đây thì hậu quả gánh phải có lẽ là tồi tệ nhất. Những nước chịu hậu quả nhiều nhất là Etiopie, Sudan, Chad và nhất là Somalia, nơi mỗi ngày có hơn 700 người chết (đặc biệt là trẻ em) với số nạn nhân của dịch đói vẫn không chịu giảm.

    Hạn hán đang đe dọa mạng sống của hơn 30 triệu dân châu Phi ở Angola, Botswana, Lesotho, Malawi, Mosambique, Nambia, Swaziland, Tanzanie, Zambie và Zimbabwe. Mạng sống của 130 triệu người khác đang nằm trong mức độ đặc biệt nguy hiểm. Hạn hán đang phá hủy nền kinh tế của các nước này.

    Châu Phi là châu lục nghèo nhất với số nước kém phát triển nhiều nhất thế giới, nơi đói nghèo hoành hành và cũng từ đó là nạn suy dinh dưỡng với bệnh tật. Hậu quả của đại hán hán năm 1973-1974 ở những vùng quanh Sahara khiến 6 triệu người lâm vào cảnh đói ăn. Gió thổi mạnh làm đất mất màu, những chuồng gia súc chết hết và những người dân đói khát phải được gửi vào các trại cứu hộ để nhận sự giúp đỡ cần thiết nhất. Năng suất sản phẩm kém đến mức hậu quả của việc kinh tế giảm vẫn còn tồn tại đến tận bây giờ. Đối với những người nông dân nghèo ở vùng khô hạn thì sự thay đổi thời tiết cộng với lượng mưa hàng năm có ảnh vô cùng lớn đến sự sống còn.

    Một tác nhân quan trọng gây ra sự thoái hóa môi trường tự nhiên và sự cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên chính là do người dân, cái đói cộng với sự nghèo nàn. Nông nghiệp châu Phi thường xuyên phải gánh chịu hậu quả thiên tai không thể nuôi nổi những người dân đói vẫn đang ngày một tăng. Tỉ lệ dân số tăng rất nhanh (hơn 3% một năm). Châu Phi không thể đáp ứng được những yêu cầu của lượng dân đang tăng và hậu quả là những nguồn tài nguyên thiên nhiên đang kiệt quệ, sự thoái hóa đât và môi trường thiên nhiên bị phá hỏng khiến vòng quay của nạn hạn hán không thể thay đổi mà chỉ thêm tệ đi.

    Cuộc chạm trán giữa các tôn giáo

    Những tín đồ cơ đốc mền nam Phi chết vì đói do lính hồi giáo chiếm tất cả những gì người nghèo gieo trồng được trên mảnh ruộng của mình. Nơi đây nạn đói hoành hành và nhiều thành phố đang lụi tàn. Bệnh viện nằm trong tình trạng tiêu điều. Cả đất nước thì khủng hoảng (nhất là nam Sudan). Hầu như đa số dân chúng không thiết trồng trọt gì trên đồng nữa vì theo họ làm thế là vô ích. Đằng nào thì lính tráng cũng sẽ cướp hết. Mặc dù nơi đây có sự trợ giúp nhân đạo song rất nhiều người nghèo đã chết trên đường đến những tổ chức nhân đạo vì trên đường đi họ uống phải nguồn nước nhiễm độc. Đối với người dân nam Sudan thì thức ăn, đồ uống và thuốc là những thứ xa xỉ.

    Theo nhà kinh tế học người Mỹ Jeffrey Sachs thì những nước giàu có làm rất ít để giúp đỡ những nước nghèo như châu Phi. Có nhiều giải pháp được đặt ra nhằm giúp đỡ châu Phi như xóa nợ cho châu Phi, tăng cường giúp đỡ về mọi mặt, kết thúc thương mại chính trị.

    Cụ thể là: bổ sung thực phẩm chưa nhiều chất khoáng và vitamin cần thiết nhằm giảm số lượng người chết đói hay suy dinh dưỡng, sử dụng phân bón và hệ thống làm ẩm để cải tạo đất, phân phối lưới, màn chống muỗi sốt rét và thuốc chống các triệu chứng AIDS, hủy bỏ lệ phí y tế cho những dịch vụ cơ bản, tăng cường giáo dục phổ cập, xây dựng mạng lưới thông tin liên lạc,…

    Kết thúc cảnh nghèo sẽ sớm đạt được nếu Mỹ và các nước phát triển chịu rút thêm tiền từ hầu bao và tăng cường sự giúp đỡ của mình lên gấp đôi.

    Tuy nhiên sự việc không hề đơn giản như trên lý thuyết. Trong thời buổi kinh tế hoảng lọan như hiện nay thì chẳng mấy ai muốn rút tiền ra giúp những nước nghèo mà không biết kết quả có đạt được gì không. Lí do đơn giản ở đây là nạn tham nhũng đang hoành hành khắp châu Phi. Nhiều sự giúp đỡ từ nước ngoài rơi vào túi các viên chức chính phủ hay túi người thân, gia đình của họ. Hay nhiều khi những công trình như trường học, đường xá, bệnh viện được xây lên lại bị phá hỏng và tất cả lại bắt đầu từ số không.

    Xem ra tìm ra một giải pháp cứu giúp châu Phi thoát ra khỏi tình trạng hiện này vẫn sẽ còn là một bài toán khó giải.(opera.com)

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giải Thích Cho Câu Hỏi Vì Sao Adn Có Tính Đa Dạng Và Đặc Thù
  • Đóng Vai An Dương Vương Kể Lại Truyện An Dương Vương Và Mị Châu
  • Truyện Tại Sao Anh Lại Thích Tôi
  • Tại Sao Anh Lại Thích Tôi
  • Tại Sao Bị Chảy Máu Cam
  • Vì Sao Trẻ Sinh Non Có Xu Hướng Tăng?

    --- Bài mới hơn ---

  • Tại Vì Sao Trẻ Biếng Ăn
  • Vì Sao Trẻ Biếng Ăn, Sức Khỏe Cho Bé Tốt
  • Vì Sao Trẻ Biếng Ăn? Bé Lười Ăn Phải Làm Sao?
  • Vì Sao Trẻ Biếng Ăn
  • Vì Sao Uber Thất Bại Ở Thị Trường Châu Á?
  • Các bác sĩ đang thăm khám cho trẻ sinh non, nhẹ cân.

    Đối diện nhiều nguy cơ bệnh tật

    Đây là con số được công bố tại buổi họp mặt có gần 100 gia đình trẻ sinh non được chăm sóc tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Theo PGS. TS. Nguyễn Duy Ánh, những năm gần đây, tỷ lệ trẻ sinh non trên thế giới là 10%.

    Còn Bệnh viện Phụ sản Hà Nội mỗi năm cũng tiếp nhận trên 40.000 trẻ sơ sinh ra đời, trong đó, trẻ sơ sinh non tháng, nhẹ cân chiếm khoảng 9-10%. Những cô bé, cậu bé khi chào đời với cân nặng từ 700gr – 800gr đến 1.200gr – 1.800gr thân hình bé tí hon vì thế phải đối mặt với nhiều vấn đề về bệnh tật.

    Còn ThS. BS. Chuyên khoa II Phan Thị Huệ – Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho hay, trẻ sơ sinh và đặc biệt trẻ sinh non chịu ảnh hưởng tác động môi trường có nguy cơ cao mắc bệnh tật, do đó cần chăm sóc, theo dõi đặc biệt của cán bộ y tế và gia đình. Có tới 35-46% trẻ dưới 1.000gr và 23% trẻ dưới 1.500gr phải đối mặt với bệnh phổi mạn tính. Nhiều trẻ dưới 1.500gr gặp các vấn đề về cho ăn, tăng trưởng, thiếu máu do thiếu sắt.

    Không chỉ vậy, một số trường hợp trẻ còn bị chảy máu nội sọ, chảy máu nhu mô, quanh não thất gia tăng nguy cơ chậm phát triển tinh thần và vận động; tổn thương chất trắng dẫn đến nguy cơ tổn thương vận động, nhãn cầu.

    Khoa Sơ sinh trẻ non tháng Bệnh viện Phụ sản Hà Nội tiếp nhận điều trị đặc biệt dành cho những bệnh nhân tí hon. Số lượng trẻ non tháng ở Khoa tăng dần trong những năm gần đây. Tỷ lệ trẻ non tháng các năm trước dao động từ 8-9%; năm 2022 tăng 9,6%. Công tác chăm sóc điều trị cho các bé không chỉ cần trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm dồi dào mà còn cần cả những trái tim của những người mẹ.

    Trẻ sinh non phải đối mặt với nhiều nguy cơ từ suy hô hấp do phổi chưa phát triển đầy đủ đến hạ đường huyết, vàng da, nhiễm trùng, viêm ruột ngoại tử, thiếu máu, vàng da, mù lòa, điếc, xuất huyết não, màng não.

    Chị N.T.T, một người mẹ có con sinh non chia sẻ: “Tôi mang thai đôi hai con trai. Đẻ non và chỉ còn một cháu cân nặng 0,7kg sống. Sau thời gian dài chăm sóc hai mẹ con được ra viện, cháu khỏe mạnh, mỗi tội không biết bú sữa mẹ nên về nhà sẽ tập cho cháu bú sữa mẹ.

    Bác sĩ cũng nhắc nhở nhiều về việc bảo vệ đường hô hấp cho cháu khi về nhà cũng như cách chăm sóc cháu những ngày đầu. Các bác sĩ nói do cháu sinh non nên đường hô hấp sẽ yếu hơn trẻ đầy đủ tháng, bởi thế phải để ý điều hòa giữ ấm, bảo vệ đường hô hấp”.

    Tư vấn về cách chăm sóc trẻ non tháng, PGS. TS. BS. Nguyễn Duy Ánh tư vấn, chăm sóc trẻ non tháng, nhẹ cân luôn là thách thức, bởi lẽ trẻ sinh non có hệ thống miễn dịch chưa hoàn hảo, các cơ quan chức năng trong cơ thể chưa hoàn thiện.

    PGS. TS Nguyễn Duy Ánh – Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.

    Do vậy, trẻ rất dễ bị nhiễm đường hô hấp, nhiễm khuẩn, sức chịu đựng của trẻ với thay đổi của môi trường cũng vô cùng kém, điều này đòi hỏi trẻ phải được chăm sóc trong điều kiện đặc biệt 24/24 giờ, kiểm soát nghiêm ngặt các chức năng hô hấp, tim mạch, tiêu hóa…

    Các chức năng cơ thể không hoàn hảo nên sự thay đổi môi trường, thời tiết, thân nhiệt, áp suất đều rất kém. Những trẻ sinh cực non 7 tháng luôn được quan tâm chăm sóc đặc biệt, trẻ không thể tự thở, tự ăn hoặc tự giữ ấm được, thường được nuôi lồng ấp giúp cho trẻ duy trì thân nhiệt ổn định, theo dõi huyết áp, nhịp tim, hơi thở 24/24 giờ để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường nếu có.

    Trẻ được bổ sung dinh dưỡng bằng cách tiêm qua đường tĩnh mạch, thậm chí phải được máy hỗ trợ thở để duy trì sự sống… “Trẻ non tháng luôn được đảm bảo chăm sóc trong điều kiện y tế tốt nhất” – ông Ánh cho hay.

    Thông thường trẻ sẽ được trở về gia đình chăm sóc khi các bác sĩ đảm bảo trẻ có thể tự bú, tự thở, tự thích nghi với môi trường. Tuy nhiên, quá trình chăm sóc sau đó của gia đình cũng cần tuân thủ nghiêm ngặt theo chỉ dẫn của bác sĩ để trẻ có thể phát triển bình thường, tránh những tổn hại không đáng có tới sức khỏe của trẻ sau này như giảm sút trí tuệ hay chậm phát triển thể lực..

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Điều Bạn Cần Biết Về Say Tàu Xe Và Cách Chống Say Xe Hiệu Quả
  • Vì Sao Bạn Say Xe?
  • Cách Làm Sữa Chua Không Bị Nhớt
  • Nguyên Nhân Và Cách Khắc Phục Những Vấn Đề Thường Gặp Khi Làm Sữa Chua
  • Tổng Giám Đốc Samsung Tiết Lộ Lý Do Việt Nam Là Cứ Điểm Sản Xuất Smartphone Duy Nhất Của Samsung Trê…
  • Vấn Đề Chênh Lệch Giàu Nghèo Với Quá Trình Hội Nhập Thương Mại Toàn Cầu

    --- Bài mới hơn ---

  • Vì Sao Xe Máy Nhập Không Tắt Đèn Vào Ban Ngày?
  • Đọc Truyện Tứ Đại Mỹ Nhân Xinh Đẹp Và Tứ Đại Thiếu Gia Hào Hoa
  • Tứ Đại Mỹ Nhân Xinh Đẹp Và Tứ Đại Thiếu Gia Hào Hoa
  • 10 Lý Do Để Bắt Đầu Yêu!
  • Tại Sao Đàn Ông Yêu Vợ Vẫn Ngoại Tình
  • Toàn cầu hoá, với luồng thông tin thông thoáng, đã khiến người ta cảm nhận rõ ràng hơn sự nghèođói trong mối tương phản với sự giàu có của những dân tộc khác. Cũng bởi thế mà một số người vội vã đổ lỗi cho toàn cầu hoá, không thấy được rằng chính nó đã, đang và sẽ đem đến cho dân tộc mình rất nhiều cơ hội phát triển. Cần phải có một cái nhìn đúng đắn hơn về toàn cầu hoá, về sự chênh lệch giàu nghèo, về mối liên hệ giữa chúng để từ đó tìm được chiến lược thích hợp nhằm xóa đói giảm nghèo trong bối cảnh hội nhập thương mại toàn cầu Toàn cầu hóa: Những thách thức

    Toàn cầu hoá đã thổi vào các quốc gia một luồng sinh khí mới, hay ít ra, buộc các quốc gia, thêm một lần nữa, phải nhìn lại chính mình, phải xác định những mặtđúng và giữ nguyên màu sắc nguyên thuỷ của nó nữa. Trước đây, các nước giàu chỉ khai thác lao động về mặt số lượng, hay chỉ tận dụng những lao động cơ học, thay vì tạo điều kiệnđể tăng cường hàm lượng “chất xám” củamạnh, mặt yếu của chính mình để tận dụng các cơ hội và đối mặt với những thách thức mà nó mang lại.Những diễn biến gần đây của thế giới cho thấy, sự luân chuyển mạnh mẽ dòng vốn giữa các quốc gia, quá trình chuyển giao công nghệ sôiđộng cùng với sự phổ biến các tiêu chuẩn về lao động và môi truờng đã giúp và buộc các quốc gia, nhất lànhững nước đang phát triển phải,

    ‘ Toàn cầu hoá chưa bao giờ làm người ta nghèo đói hơn mà chỉ làm cho vấn đề nghèo đói và khoảng cách giàuư nghèo được ý thức một cách rõ ràng vàđầy đủ hơn mà thôi ‘

    những lao động ấy. Ngày nay,toàn cầu hoá buộc các quốc gia phải tăng cường chất lượng laođộng cũng như tiêu chuẩn hoá laođộng, phải đặt lại vấn đề về việc sử dụng lao động tù nhân, laođộng trẻ em…Toàn cầu hoá cũng đã làm thayđổi tư duy của mọi người về hoạtđộng đầu tư của các nước giàu có. Từ việc nhìn nhận nó đơn thuầnlàm thế nào để cải thiện bức tranh kinh tếưxã hội của mình. Toàn cầu hoá có tác động quan trọng, nhất là ở việc khai thác, sử dụng một cách hiệu quả lợi thế so sánh của các quốc gia. Hơn thế nữa, nó giúp các quốc gia phát huy những lợi thế ấy. Lý thuyết về việc khai thác chi phí nhân công rẻ đã không còn tuyệt đốinhư một quá trình khai thác tàinguyên, mà người hưởng lợi duy nhất là những nước đi đầu tư, hoạt động này ngày nayđã được công nhận như một quá trình hợp tác ” winưwin “ư đôi bên đều có lợi. Các nước đầu tư đã, đang và sẽ tái phân phối sự giàu có của mình, giúp các nước đang phát triển khai thác và gợi ý cho họ cách thức để tạo ra sự giàu cócho riêng mình. Bên cạnh đó, các nước đầu tư cũng có thể mở rộng thị trường qua việc làm cho một bộ phận dân cư ở các nước nhận đầu tư trở nên giàu có hơn, do đó, có điều kiện tiêu dùng sản phẩm của nước đầu tư. Cũng nhờ thế, quá trình này phần nào giúp các nước đang phát triển giải quyết vấn đề việc làm và gia tăng những điều kiện thuận lợi để thực hiện các chương trình xoá đói giảm nghèo.Tuy nhiên, cũng nên ý thức về những thách thức mà toàn cầu hoá mang đến.tâm hàng đầu, bởi lẽ chỉ có dân chủ hoá mới cho phép chúng ta huy động tiềm năng sáng tạo của mọi thành viên trong xã hội, hợp lý hoá đời sống kinh tế chính trị, tăng sức cạnh tranhvà sự phát triển bền vững.

    Nhận thức về vấn đề chênh lệch giàuư nghèo

    Xét về mặt xã hội học, sự chênh lệch giàuư nghèo trở thành vấn đề xã hội thực sự và làm nảy sinh những vấn đề mang tính tâm lý tácđộng không tốt tới nhiều mặt của

    Thứ nhất, toàn cầu hoá buộc các quốc gia phải đối mặt với những nguy cơ tụt hậu và cũng buộc các quốc gia phải chấp nhận thay đổi, mà đôi khi là đau đớn. Toàn cầu hoá sẽ chỉ ra những hạn chế về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, sẽ khiến các doanh nghiệp phải tham gia vào một cuộc chơi với những luật chơi

    ‘ Toàn cầu hoá buộc các quốc gia phải đối mặt với những nguy cơ tụt hậu và cũng buộc các quốc gia phải chấp nhận thay đổi, mà đôi khi là đau đớn’

    đời sống xã hội. Điều này thể hiện qua tâm lý hằn học với sự giàu có, đố kỵ với những nhà kinh doanh, những người thànhđạt không theo quan niệm truyền thống cũ. Người ta đổ lỗi cho kinh tế thị trường, cho toàn cầu hoá hoặc tự do thương mại, coiđó như là “mảnh đất màu mỡ” cho tham nhũng, buôn lậu và cáckhắc nghiệt, để hoặc tận hưởng những cơ hội mà nó mang lại, hoặc chấp nhận bị phá sản. Vì thế, nó sẽ kéo theo thất nghiệp như là một nguyên nhân của sự lan tràn các tệ nạn xã hội.

    Thứ hai, toàn cầu hoá chỉ ra một cách rõ ràng sự lạc hậu trong năng lực của một dân tộc, của doanh nghiệp và của cá nhân. Hơn bất kỳ lúc nào, ngườita sẽ phải đánh giá một cách sâu sắc về “tính có thể mua bán được ” của những giá trị lao động của mình.

    Tiến tới một chương trình tổng thể để vượt qua nghèo đói

    Trong một cuộc hội thảo về kinh tế tri thứcđược phát trên truyền hình, một bạn trẻ đặt câu hỏi, liệu anh ta có thể thoát khỏi nghèo đói không, nếu anh ta bán ruộng vườn, trâu bò, những thứ mà phần nhiều do cha ông để lại, để theo học lớp lập trình viên. Câu hỏi này cho thấy tâm lý nóng vội muốn “đốt cháy” nhiều thứ để phát triển, nhưng cũng cho thấy cả sự phiến diện trong cách tư duy của chúng ta về một sự phát triển thực sự. Giàu có, thịnh vượng không phải là một toà lâu đài đẹp được xâydựng chỉ sau một đêm như ước mơ của anh bạn trẻ nêu trên. Vấn đề phải được giải quyết trên quy mô quốc gia và quốc tế, trên cơ sở phối hợp các chính sách đã được phân tích và nghiên cứu thấu đáo. Một số người chủ trương rằng để giải quyết vấn đề nghèo đói, tạo lập sự bình đẳng xã hội phải thực hiện nhiều hơn nữa các giải pháp ưu đãi người nghèo thông qua các biện pháp điều tiết thu nhập của Nhà nước. Nhưng các hình thức ưu đãi như vậy không thể là giải pháp dài hạn. Về thực chất, đó chỉ là sự “bố thí” trên quy mô xã hội và sẽ không bao giờ cho phép chúng ta giải quyết được cơ bản vấn đề nghèo đói. Hơn thế nữa, trong tương lai, khi tiến trình hội nhập kinh tế đạt đến quy mô và trình độ cao, nhiều hình thức ưu đãi sẽ không còn có thể áp dụng, bởi sẽ bị coi là “trợ cấp thương mại” ư điều cấm kỵ trong xu thế tự do hoá thương mại. Rõ ràng, phải đi con đường khác để tìm ra những giải pháp cơ bản có thể xoá đói, giảm nghèo phù hợp với các chuẩn mực quốc tế cũng như xu hướng phát triển của thời đại. Theo tôi, trên phương diện vĩ mô, chúng ta có thể tập trung vào các giải pháp chủ yếu sau đây:

    Thứ nhất, nâng cao năng lực cho người lao động để họ có thể cạnh tranh thắng lợi, hoặc chí ít, giúp họ không bị thua thiệt trong quá trình toàn cầu hoá ‘Nông thôn là địa bàn chính, phát triển nông thôn là một giải pháp cốt lõi để xoá đói giảm nghèo ‘

    Trong quá trình toàn cầu hoá và hội nhập thương mại, cạnh tranh sẽ ngày càng khốc liệt hơn, trong khi năng lực tự nhiên của người laođộng tại các nước nghèo lại nhanh chóng trở nên lạc hậu với yêu cầu của thị trường và rất dễ bị gạt ra bên lề của sự phát triển. Người laođộng tại các nước nghèo cần được nâng caonăng lực để tham gia vào quá trình hội nhập,đó mới là hạt nhân của chính sách xoá đói giảm nghèo, thu hẹp khoảng cách phát triển.Để làm được như vậy, đổi mới giáo dục ư đào tạo phải là bước đi đầu tiên và tất yếu. Vấn đề không chỉ bởi nhiều người nghèo không cóđiều kiện tiếp cận hệ thống giáo dục ư đào tạo, mà còn ở chỗ hệ thống giáo dục ư đào tạo hiện nay còn xa rời thực tế thị trường lao động, chưa bảo đảm trang bị cho người học những kiến thức và kỹ năng cần thiết. Vì thế, năng lực cạnh tranh cá nhân của họ vẫn rất yếu kém, khiến họ ltình trạng chuyển từ một lĩnh vực kém hiệu quả này sang một lĩnh vực kém hiệu quả khác. Kết quả là đã nghèo lại còn nghèo hơn, vì việc đầu tư sai hướng đã gây lãng phí cả năng lực cũng như thời gian. Bởi vậy, vấn đề chuyển dịch cơ cấu cần được nghiên cứu một cách khoa học để tạo ra những thay đổi tích cực và phù hợp với nhu cầu của thị trường. Trong mọi trường hợp, chúng ta không được quy quá trình chuyển dịch cơ cấu đơn thuần về các đối tượng sản xuất, mà còn phải chuyển dịch cơ cấu công nghệ, chuyển dịch cơ cấu quản lý và cả cơ cấu thị trường lao động. Nếu không, chuyểnnhững người đầu tiênthua thiệt trong cạnh tranh khi quá trình hội nhập ngày càng sâu sắc.

    dịch cơ cấu có thể lại là sựthua thiệt của người nghèo và rốt cục, khoảng cách giàuư nghèo không những không bị thu hẹp mà còn có nguy cơ mở rộng hơn. dịch cơ cấu một cách linh hoạt và thích hợp với đòi hỏi của thực tiễn trong quá trình hội nhập Chuyển dịch cơ cấu là quá trình tất yếu trong phát triển kinh tế. Tuy nhiên, chuyển dịch đến đâu, chuyển dịch như thế nào, chuyển dịch chất lượng lao động theo hướng nào là một vấn đề cần được nghiên cứu sâu hơn và nghiêm túc hơn. Chẳng hạn, chúng ta luôn nói về việc phát triển các làng nghề mà quên mất rằng nghề ấy hay làng nghề ấy không còn những giá trị thị trường như trước nữa và do đó, thị trường lao động ấy cũng không nên khuyến khích. Tuy đã bàn nhiều về chuyển dịch lĩnh vực sản xuất, nhưng do những nghiên cứu nửa vời, chúng ta lại rơi vào.

    Thứba,pháttriểnnôngthônư hạt nhân của chiến lược xoá đói giảm nghèo Với một quốc gia mà đa số người dân sống ở nông thôn như Việt Nam thì khu vực nông thôn là lĩnh vực đặc biệt quan trọng trong chiến lược xoá đói, giảm nghèo. Theo những số liệu chính thức, hiện còn quá nhiều người nông dân Việt Nam có mức sống dưới 1đôla/ngày1. Vì thế, nông thôn là địa bàn chính, phát triển nông thôn là một giải pháp cốt lõi để xoá đói giảm nghèo. Nếu được đào tạo kỹ năng để chủ động tham gia vào quá trình hội nhập, người lao động nông thôn sẽ không phải ra thành thị chỉ để làm các nghề nặng nhọc. Họ có thể xây dựng cuộc sống mới và hưởng thụ thành quả ngay trên mảnh đất quê hương bởi cuộc sống ở đây .

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khoảng Cách Giàu Nghèo Ngày Càng Tăng Trên Quy Mô Toàn Cầu
  • Bài 4: Các Nước Đông Nam Á (Cuối Thế Kỉ Xix
  • Vì Sao Thái Lan (Xiêm) Là Nước Duy Nhất Trong Khu Vực Ở Đông Nam Á Không Trở Thành Thuộc Địa Của Các Nước Phương Tây?
  • Sửa Lỗi Không Bắt Được Wifi Trên Điện Thoại Android
  • Kết Nối Wifi Không Có Mạng Internet: Phải Làm Gì Lúc Này?
  • Tại Sao Lý Nhã Kỳ Lại Giàu Đến Thế?

    --- Bài mới hơn ---

  • Lý Nhã Kỳ Giàu Có Nhanh Chóng Là Nhờ Đâu?
  • Tiền Đâu Ra Lý Nhã Kỳ Có Những Tài Sản Đồ Sộ Trong Khi Công Ty Liên Tục Báo Lỗ?
  • Tại Sao Người Miền Nam Gọi Là “anh Hai” Chứ Không Là “anh Cả” ?
  • Tại Sao Lá Chuyển Sang Màu Vàng Trong Chanh. Phải Làm Gì
  • Hiện Tượng Vàng Lá Trên Cây Có Múi
  • Việc liên tục sở hữu những bộ cánh độc quyền tiền tỉ khiến Lý Nhã Kỳ luôn là tâm điểm bàn tán, tranh luận, thậm chí khiến không ít trường hợp cảm thấy nóng trong người. Rất nhiều độc giả thắc mắc là Lý Nhã Kỳ làm gì mà nhiều tiền đến vậy. Câu trả lời có tất cả trong bài phỏng vấn này.

    Khi bỏ số tiền lớn để sở hữu những bộ cánh đắt tiền, chị có để ý sự bình phẩm của dư luận?

    Trước nay Kỳ thích gì thì tự quyết, quan trọng là mình vui và mình phải có trách nhiệm với việc mình làm. Còn nếu làm gì cũng chăm chăm đến việc người khác “nhìn ngó” , “bình phẩm” thì chắc chắn sẽ không làm được việc gì cả.

    Lý Nhã Kỳ và chiếc váy đặt mua ở Tuần lễ thời trang Paris

    Hoàn toàn vốn là do cá nhân Kỳ bỏ ra, công ty LYNK của Kỳ thành lập từ rất lâu và kinh doanh rất nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó có tài chính và bất động sản.

    Hoàn toàn tự tôi sắp xếp lịch cho bản thân, tất nhiên bên cạnh tôi có rất nhiều quản lý cho từng lĩnh vực, có rất nhiều cộng sự giỏi và tận tụy. Tôi thấy tôi là người may mắn. Lịch làm việc của tôi hiện giờ gần như kín đặc, có lúc tôi phải tranh thủ ăn và tranh thủ ngủ. Nói mọi người không tin nhưng có hôm bữa tối và bữa sáng của tôi chỉ cách nhau có vài tiếng.

    Ở cửa hàng của Kỳ có hai dòng sản phẩm. Nếu bạn chọn sản phẩm dễ chịu và đại chúng với giá rất vừa phải sẽ nằm ở tầng trệt. Còn nếu đã lên phòng haute couture, chắc chắn những sản phẩm đó sẽ được đo ni đóng giày phù hợp với bạn nhất, nên đừng quá lo lắng về vóc dáng của mình. LYNK sẽ giúp phụ nữ không hoàn hảo trở nên hoàn hảo! (Cười thích thú)

    Không phải lúc nào tôi cũng mặc đồ hiệu cả. Nếu bạn gặp tôi ở nhà hoặc đi cà phê với bạn bè ở gần nhà thì sẽ thấy tôi cũng giản dị như những người phụ nữ bình thường khác. Đa phần mọi người gặp tôi ở event, hoặc những sự kiện quan trọng, lúc đó đương nhiên tôi phải mặc cho phù hợp với sự kiện.

    Sự xa hoa đó của Kỳ (tất nhiên đó là cuộc sống của Kỳ) đã khiến không ít người … chạnh lòng và “đá xoáy” rằng: Không biết cô ấy có nghĩ đến những hoàn cảnh khó khăn trên đất nước mình… Không biết cô ấy có nghĩ đến công việc từ thiện không, khi kinh tế quá dư thừa?

    Tôi vẫn làm từ thiện, nhưng không phải cuộc từ thiện nào cũng hô lên cho mọi người biết. Tôi nghĩ từ thiện xuất phát từ cái tâm, nên tôi không mấy quan tâm là mọi người đánh giá công việc từ thiện của mình thế nào, mà tôi thấy rằng công việc đó của mình làm đúng là được.

    Tôi đã thành lập quỹ hỗ trợ phát triển Y tế – Giáo dục Việt Nam, hoạt động được một thời gian. Quỹ đã giúp đỡ người kém may mắn, như phẫu thuật dị tật hở hàm ếch cho các em nhỏ, khám và chữa mắt cho trẻ em khiếm thị, xây nhà tình thường, xây cầu, xây trường học, tặng xe đạp cho các em học sinh nghèo…

    Lý Nhã Kỳ trong chuyến làm từ thiện ở Quảng Nam

    Hiện giờ tôi đã hoàn thành công việc kinh doanh, showroom LYNK đã bắt đầu đi vào hoạt động ổn định. Tôi đang có kế hoạch cho công việc hoạt động nghệ thuật. Tôi cũng đã bàn bạc với quản lý Lạc Di Linh của tôi ở Hồng Kông để có hướng phát triển của mình ra châu Á và thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tại Sao Bạn Không Ngủ Được?
  • Lỗi Không Gõ Được Tiếng Việt Bằng Unikey Và Cách Khắc Phục
  • Tại Sao Quần Jean Có Túi Nhỏ?
  • Ngày Này Tròn 10 Năm, Huyền Thoại Nhạc Pop
  • Tại Sao Bị Đau Đầu Vào Buổi Sáng? Xem Ngay!
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100