Phương Pháp Vấn Đáp(Đàm Thoại)

--- Bài mới hơn ---

  • Chuẩn Mực Số 7: Kế Toán Các Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Kết
  • Cách Vẽ Hình Chiếu Thứ 3 Siêu Nhanh Trong Autocad
  • Volume Spread Analysis (Vsa) – Phân Tích Về Giá Và Khối Lượng – Phần 1
  • Hướng Dẫn Cách Phân Tích Khối Lượng Giao Dịch Vsa Từ Biểu Đồ Nến
  • Lăn Kim, Phi Kim Và Vi Kim Là Gì ? Nên Dùng Lăn Kim, Phi Kim Hay Vi Kim?
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Học Bằng Phương Pháp Vấn Đáp, Đàm Thoại
  • Những Phương Pháp Uốn Ống Phổ Biến Hiện Nay
  • Cách Uống Nước Lọc “Chuẩn” Giúp Bạn Giảm Cân Không Cần Ăn Kiêng
  • Bí Quyết Uống Nước Giảm Cân Trong 10 Ngày Không Cần Ăn Kiêng
  • Mẹo Giảm Cân Nhanh Chóng Nhờ Uống Nước Lọc Đúng Cách
  • Dạy Học Bằng Phương Pháp Vấn Đáp, Đàm Thoại

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Vấn Đáp(Đàm Thoại)
  • Chuẩn Mực Số 7: Kế Toán Các Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Kết
  • Cách Vẽ Hình Chiếu Thứ 3 Siêu Nhanh Trong Autocad
  • Volume Spread Analysis (Vsa) – Phân Tích Về Giá Và Khối Lượng – Phần 1
  • Hướng Dẫn Cách Phân Tích Khối Lượng Giao Dịch Vsa Từ Biểu Đồ Nến
  •  1.Phương pháp vấn đáp, đàm thoại trong giảng dạy là gì?

    2. Các loại vấn đáp

    Có 3 loại vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa và vấn đáp tìm tòi

    • Vấn đáp tái hiện: Được thực hiện khi những câu hỏi do

      giáo viên

      đặt ra chỉ yêu cầu

      học sinh

      nhắc lại kiến thức

    • Vấn đáp giải thích minh họa được thực hiện khi những câu hỏi giáo viên đặt ra có kèm theo các VD minh họa (bằng lời hay bằng hình ảnh trực quan) giúp học sinh dễ hiểu, dễ ghi nhớ
    • Vấn đáp tìm tòi ( hay vấn đáp phát hiện) là loại vấn đáp mà giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến giữa thầy với cả lớp, giữa trò với trò

    3. Ưu nhược điểm của phương pháp vấn đáp

    • Ưu điểm

    Rèn luyện tư duy cho học sinh qua các tài liệu có sẵn hoặc do học sinh tự tìm tòi

    Kích thích tính tích cực của học sinh trong học tập

    Bồi dưỡng năng lực diễn đạt bằng lời cho học sinh một cách chính xác, đầy đủ, xúc tích

    Tạo tương tác hai chiều cho cả giáo viên và học sinh giúp giáo viên điều chỉnh bài giảng của mình cho phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

    Theo dõi sát quá trình học tập của học sinh

    • Nhược điểm

    Giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức, phải có năng lực sư phạm tốt.

     

    CÁC DỊCH VỤ CỘNG THÊM NGOÀI DÀNH CHO KHÁCH HÀNG CÓ NHU CẦU

    • Dịch vụ cho thuê máy tính
    • Dịch vụ cho thuê biển thông báo sự kiện
    • Dịch vụ cho thuê wifi di động
    • Dịch vụ camera di động
    • Dịch vụ phòng chờ
    • Dịch vụ lễ tân
    • Dịch vụ văn phòng

    Liên hệ tư vấn và đặt phòng:

    HOTLINE: 0915.259.497

    TẦNG 7 – TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI VÂN HỒ – SỐ 51 LÊ ĐẠI HÀNH – HAI BÀ TRƯNG – HÀ NỘI

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Phương Pháp Uốn Ống Phổ Biến Hiện Nay
  • Cách Uống Nước Lọc “Chuẩn” Giúp Bạn Giảm Cân Không Cần Ăn Kiêng
  • Bí Quyết Uống Nước Giảm Cân Trong 10 Ngày Không Cần Ăn Kiêng
  • Mẹo Giảm Cân Nhanh Chóng Nhờ Uống Nước Lọc Đúng Cách
  • 5 Cách Uống Nước Giảm Cân Siêu Tốc Trong 10 Ngày Không Cần Ăn Kiêng
  • Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Các Dạng Hình Tứ Giác
  • Tập Huấn Văn:phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Chuyen De Ve Lai Mach Dien Và Tính Giá Trị Điện Trở
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Phù Hợp, Hiệu Quả Trong Nhà Trường Thcs (Tài Liệu Tham Khảo)
  • Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    A. Đặt vấn đê

    I. Lí do chọn đê tài

    Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã đặt ra từ rất lâu và được

    sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà giáo dục, nhất là của các thầy giáo, cô giáo.

    Nhưng việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học trong dạy học không phải là

    việc dễ dàng thực hiện và đạt được hiệu quả ngay từ đầu. Trước đây, chúng ta

    dạy học vẫn theo phương pháp truyền thống với quan niệm : học là quá trình

    tiếp thụ và lĩnh hội qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng, tư tưởng tình cảm.

    Giáo viên(GV) luôn là người truyền thụ toàn bộ những kiến thức, những hiểu

    biết của mình về một vấn đề nào đó; còn học sinh(HS) là người ghi nhớ, tiếp thu

    mọi lời giảng của GV. Chính vì vậy mà phương pháp đó dẫn đến chỗ HS là

    người thụ động và qúa trình nhận thức mang tính chất áp đặt, một chiều. HS học

    để đối phó với thi cử và sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên

    hoặc ít dùng đến. Hiện nay, phương pháp dạy học truyền thống không còn thích

    hợp với mục tiêu giáo dục – đào tạo, hơn thế việc đổi mới chương trình sách

    giáo khoa càng cần phải đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học.

    Bởi chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy học chúng ta mới có thể tạo được

    sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng

    động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên

    thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.

    Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong

    Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII(1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa

    VIII(1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005). Điều 28.2 trong Luật

    giáo dục đã ghi : ” Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,

    tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp

    học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến

    thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập

    cho học sinh ” . Có thể nói cốt lõi của việc đổi mới dạy học là hướng tới hoạt

    động học tập chủ động; chống lại thói quen học tập thụ động.

    Tuy nhiên, đối với mỗi môn học trong nhà trường tùy theo đặc trưng bộ

    môn mà vận dụng việc đổi mới phương pháp sao cho thích hợp, linh hoạt để đạt

    mục tiêu cần đạt . Đối với môn Ngữ văn, việc vận dụng phương pháp dạy học

    mới vẫn còn hạn chế . GV chỉ say mê khám phá văn bản và khổ công tìm tòi

    cách thức lên lớp sao cho hấp dẫn mà không chú ý HS bài đó như thế nào ? Mục

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    1

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    đích của giờ dạy học văn theo quan điểm, phương pháp mới không phải người

    GV là người truyền thụ lời giảng của mình một cách chủ quan mà mục đích cao

    nhất là làm sao để chủ thể HS dưới sự hướng dẫn của GV chủ động khám phá,

    tiếp nhận tác phẩm và đồng thời bộc lộ được tình cảm bản thân.

    Trong quá trình giảng dạy văn học, có nhiều phương pháp dạy học tích

    cực được áp dụng và mỗi phương pháp đều được thử thách qua thời gian. Chẳng

    hạn phương pháp thuyết trình; phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết

    vấn đề ; phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ; dạy học theo dự án …

    Kết quả của mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng. Một

    trong những phương pháp dạy học tích cực đưa lại kết quả cao trong học tập,

    phát huy được tính chủ thể của HS là phương pháp vấn đáp.

    Trong phạm vi bài tập nghiên cứu khoa học này, tôi đi sâu tìm hiểu phương

    pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn ở khối trung học phổ thông. Tôi đã

    quyết định chọn đề tài này để trước hết là bản thân có điều kiện khái quát nâng

    cao chuyên môn sau thời gian nghiên cứu áp dụng và qua đây mong được chia

    sẻ với đồng nghiệp cùng quan tâm để góp phần nâng cao chất lượng chuyên

    môn và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong phạm vi nhà trường

    THPT.

    II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

    – Dựa trên một số lí luận cơ bản về triết học, về tâm lí học, về việc đổi

    mới phương pháp dạy học văn … để đề ra một số biện pháp trong phương pháp

    dạy học vấn đáp .

    – Nhằm mục đích nâng cao chất lượng của giờ học, phát huy tính tích cực,

    tự giác chủ động, sáng tạo của HS; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ

    năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng

    diễn đạt một vấn đề, gây hứng thú học tập cho HS.

    IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

    Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi đề xuất một số nhiệm vụ của đề

    tài:

    + Xác định cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của dạy học vấn đáp (đàm

    thoại) .

    + Đề xuất một số biện pháp dạy học vấn đáp trong môn Ngữ Văn.

    + Thực hiện một số công việc trong phương pháp vấn đáp.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    2

    B. Nội dung

    CHƯƠNG I : NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP

    VẤN ĐÁP TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN.

    1. Cơ sở tâm lí học.

    Nhận thức thế giới xung quanh, tìm hiểu những sự vật, hiện tượng xảy ra

    xung quanh mình là một nhu cầu không thể thiếu của con người. Đây là một

    trong ba mặt cơ bản của đời sống, của tâm lí con người (Nhận thức – Tình cảm

    – Hành động). Nhờ có nhận thức mà chúng ta không chỉ phản ánh hiện thực

    xung quanh mình mà cả hiện thực của bản thân nữa, không chỉ phản ánh cái bên

    ngoài, cái hiện tại mà cả cái bên trong, cái sẽ tới và các quy luật phát triển của

    hiện thực.

    Mục tiêu của nhà trường phổ thông nói chung và mục tiêu của trường

    THPT nói riêng là hình thành nhân cách của HS, phát triển toàn diện và trưởng

    thành về mặt xã hội của HS. Trong nhà trường phổ thông, HS được giáo dục

    bằng nhiều phương pháp, nhiều ngành học… trong đó bộ môn Ngữ văn được coi

    là một môn học chủ công trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách.

    Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lí cá nhân quy định

    giá trị xã hội và hành vi của họ. HS là một nhân cách trong chừng mực nào đó

    mà các phẩm chất xã hội ở đó được phát triển để nó trở thành chủ thể có ý thức

    đối với mọi hoạt động công ích của mình. Như vậy có nghĩa là một trong những

    con đường để hình thành và phát triển nhân cách là con đường hoạt động của

    chính HS. Con đường tác động có mục đích tự giác của xã hội bằng giáo dục

    đến HS sẽ trở nên vô hiệu hoá nếu như HS không tiếp nhận, không hưởng ứng

    những tác động đó, không trực tiếp tham gia vào các hoạt động nhằm phát triển

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    3

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    tâm lí, hình thành nhân cách. Chính vì vậy qua giờ học vấn vận dụng phương

    pháp vấn đáp, HS có dịp bù đắp những tri thức mà mình chưa được biết, chưa

    hiểu hoặc hiểu chưa rõ, để tự mình tiếp nhận và hoàn thiện mình về tư tưởng,

    đạo đức và hành vi trong học tập và trong cuộc sống.

    2. Cơ sở nhận thức.

    Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người nhưng sự

    phản ánh này không phải giản đơn, thụ động mà là quá trình biện chứng dựa trên

    hoạt động tích cực của chủ thể trong quan hệ đối với khách thể. Nhưng không

    phải con người nào cũng đều là chủ thể của nhận thức. Con người trở thành chủ

    thể khi nó tham gia vào hoạt động xã hội nhằm biến đổi và nhận thức khách thể.

    Trong nhà trường HS chính là chủ thể của hoạt động nhận thức; còn khách thể

    chính là những tri thức kinh nghiệm của nền văn minh nhân loại. Theo cơ sở

    triết học: con người tự làm ra mình bằng chính hoạt động của mình nhưng cái

    quan trọng là làm ra cái đó như thế nào và bằng cách nào?

    Đối với môn Ngữ văn HS đến trường để học tập thực chất là để tiếp nhận,

    chiếm lĩnh những giá trị của tác phẩm văn chương. Vì mục đích ấy, HS tự đọc

    lấy tác phẩm, tự chiếm lĩnh lấy tác phẩm, nắm bắt được cái hồn của tác phẩm.

    GV chỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo cho HS những hướng tiếp cận tác phẩm sao

    cho có hiệu quả nhất, HS từ đó mà tự chiếm lĩnh tác phẩm. Đồng thời cùng với

    sự chiếm lĩnh tác phẩm ấy, HS dưới những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt của GV mà

    trình bày những suy nghĩ, cách hiểu của mình về vấn đề đặt ra trong tác phẩm.

    Chính vì những vấn đề đó mà rất cần có một giờ học vấn đáp để qua giờ

    học ấy HS có thể khẳng định họ thật sự là những chủ thể sáng tạo trong quá

    trình nhận thức bằng chính hoạt động của mình.

    3. Cơ sở văn học.

    Nếu hình tượng hội hoạ được xây dựng bằng đường nét, màu sắc; âm

    nhạc được xây dựng bằng nhịp điệu, giai điệu, âm thanh…thì hình tượng văn học

    được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ. Do lấy ngôn từ làm chất liệu cho nên

    hình tượng văn học chỉ tác động vào trí tuệ, tâm hồn, tình cảm gợi nên sự liên

    tưởng và tưởng tượng trong tâm trí người đọc. Nhờ liên tưởng và tưởng tượng

    trên những nét tương đồng giữa thế giới âm thanh và hình ảnh, giữa thế giới hữu

    hình và thế giới vô hình trở thành hiện hình qua phương tiện ngôn ngữ.

    Thực chất của vấn đề phát huy chủ thể HS trong giờ Ngữ văn là khêu gợi,

    kích thích và nuôi dưỡng, phát triển ở HS nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    4

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    thức cái mới qua hình tượng, tính cách nhân vật. Và cũng qua đó việc học tác

    phẩm văn học thực sự trở thành một hoạt động cá thể hoá sâu sắc đi từ nhận

    thức khách quan hình tượng đến chỗ tự nhận thức; do đó có khát vọng sống và

    hành động theo nhân vật lí tưởng. Chính vì vậy trong giờ học văn rất cần có sự

    trao đổi giữa GV và HS, giữa HS và GV để qua giờ học ấy thu được kết quả cao

    hơn và cũng qua giờ học ấy HS có dịp bộc lộ mình, tự khẳng định mình, đồng

    thời GV cũng có cơ hội để nắm được trình độ tiếp nhận của HS.

    CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI

    Qua quá trình dạy học, kinh nghiệm của bản thân, quá trình dự giờ của đồng

    nghiệp , tôi nhân thấy :

    – Một số GV chủ yếu vẫn dạy theo phương pháp dạy học truyền thống:

    GV sử dụng các phương pháp diễn giảng truyền thụ toàn bộ những kiến thức

    một chiều ; còn HS là người ghi nhớ, tiếp thu mọi lời giảng của GV. Giờ học trở

    nên khô khan, trầm, thậm chí căng thẳng, HS tham gia học bài một cách chiếu

    lệ. Rõ ràng điều đó dẫn đến chất lượng, hiệu quả giờ học không cao.

    – Còn một số GV có vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong

    giờ học song chưa hiệu quả, còn hình thức. Chẳng hạn vận dụng phương pháp

    vấn đáp : GV đặt ra những câu hỏi yêu cầu HS trả lời song chưa tạo ra được

    không khí tranh luận sôi nổi giữa HS với nhau hay giữa HS với GV.

    – Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là một số GV nhận

    thức chưa rõ bản chất của việc dạy học văn. Dạy học văn trong nhà trường

    không đơn thuần là giảng văn, phân tích văn học mà là dạy đọc văn bản, đó là

    quá trình đối thoại giữa HS, GV và tác giả đằng sau văn bản . Đó là hình thức

    giao tiếp, đối thoại vượt thời gian, không gian, không phải là truyền thụ một

    chiều. Bên cạnh đó một số GV vẫn còn nhiều ngộ nhận về lí thuyết và lúng túng

    trong biện pháp thực thi việc cải cách, đổi mới phương pháp dạy học vấn đáp .

    Chẳng hạn các phương pháp đổi mới là gì ? Khi đổi mới phương pháp dạy học

    thì vai trò của người thầy có bị hạ thấp không ? Câu hỏi như thế nào là đổi mới?

    Bao nhiêu câu hỏi là vừa ?…..

    – Ngoài ra, GV chuẩn bị bài dạy chưa thật kĩ, đặc biệt là chưa xây dựng

    được hế thống câu hỏi phù hợp với bài dạy, chưa chú ý tới việc chuẩn bị bài học

    của HS, chưa phân loại đối tượng HS trong từng lớp … GV chưa ý thức rõ về

    dạng câu hỏi, mức độ yêu cầu của câu hỏi dẫn đến khâu tổ chức dạy học tìm

    hiểu bài học thiếu tính khoa học, tình trạng GV hỏi một đằng HS trả lời một nẻo

    hoặc trả lời không đúng trọng tâm yêu cầu.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    5

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    Chính vì vậy, vần đề vận dụng đổi mới phương pháp dạy và học văn càng

    được quan tâm hơn bao giờ hết đặc biệt là phương pháp vấn đáp. Tuy nhiên,

    việc đổi mới phương pháp dạy học văn không có nghĩa là gạt bỏ các phương

    pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy

    học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp các phương pháp hiện đại.

    CHƯƠNG III: NỘI DUNG DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).

    I. QUAN NIỆM VỀ DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).

    1. Thế nào là phương pháp vấn đáp?

    Phương pháp vấn đáp là phương pháp trong đó GV đặt ra các câu hỏi để

    HS trả lời , hoặc tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội

    dung bài học. Phương pháp vấn đáp, đàm thoại khác với thuyết trình ở chỗ nội

    dung cần truyền thụ không được thể hiện qua lời giảng của người dạy mà được

    thực hiện bởi hệ thống câu trả lời của người học, dưới sự gợi mở bởi các câu hỏi

    của người dạy đề xuất. Các câu hỏi này được tổ chức thành một hệ thống phù

    hợp với nội dung bài học, đối tượng HS.

    2. Mục đích và yêu cầu của phương pháp vấn đáp

    Mục đích của phương pháp vấn đáp là nâng cao chất lượng giờ học bằng

    cách tăng cường hình thức hỏi đáp, đàm thoại giữa GV và HS, rèn cho HS lĩnh

    tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể. Muốn thực hiện điều đó, đòi

    hỏi GV phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp

    dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò chức năng của từng câu hỏi, mục đích

    hỏi , các yếu tố kết nối hệ thống câu hỏi. Câu hỏi phải khơi gợi được hứng thú

    tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách chu đáo và thực sự

    khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc biệt là không có tác

    dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi không cần nhiều

    nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống

    buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình. Ngoài ra

    người GV cần dự án các phương án trả lời của HS để có thể thay đổi hình thức,

    cách thức mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ tránh đơn điệu nhàm

    chán, nặng nề bế tắc; tạo hứng thú học tập cho HS và tăng hấp dẫn của giờ học .

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    6

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    3. Các nhân vật tham gia trong giờ học vấn đáp.

    a. Giáo viên trong giờ học vấn đáp.

    Thực tế cho thấy, trong một thời gian dài trước khi cải cách giáo dục người

    ta đã từng quan niệm học văn là một quá trình thầy đọc, giảng, cảm thụ còn trò

    chỉ là những cỗ máy ghi chép. Theo cách dạy học truyền thống, người giáo viên

    trong giờ học là người quyết định một cách toàn diện chất lượng dạy học và

    được coi là chủ thể của hoạt động dạy. Thế nhưng, trước yêu cầu ngày càng cao

    của xã hội và sự bùng nổ về tri thức, thông tin đã đặt người học trước một nhiệm

    vụ mới khó khăn hơn. Bản chất của sự học ngày nay đã thay đổi. Học bao giờ

    cũng phải đi đôi với hành “học và hành phải kết hợp chặt chẽ…phải gắn liền

    với thực tế những đòi hỏi của dân tộc, xã hội” giáo viên không còn đóng vai trò

    đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức,

    hướng dẫn các hoạt động độc lập, hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm

    lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo

    yêu cầu của chương trình. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư công

    sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mời có thể thực hiện bài

    lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong

    các hoạt động tìm tòi tranh luận của HS. GV phải có trình độ chuyên môn sâu,

    rộng, có trình độ sư phạm mới có thể tổ chức hướng dẫn các hoạt động của HS.

    Với giờ đọc – hiểu văn bản Ngữ văn, GV là người điều khiển, hướng dẫn để

    HS tự khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. Người GV phải chuẩn bị kĩ nội

    dung bài học như xác định rõ mục tiêu bài học, tiến trình tổ chức dạy học . Đặc

    biệt là quá trình tổ chức hướng dẫn dạy – học bài mới. GV phải xây đựng được

    một hệ thống câu hỏi vấn đáp phù hợp với nội dung bài học. Câu hỏi phải khơi

    gợi được hứng thú tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách

    chu đáo và thực sự khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc

    biệt là không có tác dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi

    không cần nhiều nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt,

    có tình huống buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình.

    Có thể nói xây dựng được hệ thống câu hỏi vấn đáp có chất lượng có tác dụng

    gợi dẫn HS thâm nhập khám phá tác phẩm là một nghệ thuật đòi hỏi sự công

    phu và tài năng thực sự của GV.

    Theo kinh nghiệm của tôi, đối với mỗi câu hỏi, người GV phải xác định được

    mức độ, mục đích, nội dung và hình thức câu hỏi, cũng như tính hệ thống, dẫn

    dắt của môĩ câu hỏi. Cũng phải lưu ý một điều là tùy vào tình huống thực tế, vào

    đối tượng HS mà người GV có thể thay câu hỏi hoặc bổ sung các câu hỏi cho

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    7

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    8

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VẤN ĐÁP

    – Trong giờ học văn, GV phải là người điều khiển, hướng dẫn để HS tự

    khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. HS là một chủ thể trực tiếp tiếp nhận,

    chiếm lĩnh tác phẩm. HS có điều kiện phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn

    mà lâu nay bản thân các em chưa khám phá, bộc lộ hoặc còn rụt rè, lúng túng…

    Từ đó, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi diễn đạt một vấn đề trước tập thể.

    – GV cần phải nắm vững bản chất của phương pháp vấn đáp, đặc biệt là

    phải phân biệt được các loại, mức độ vấn đáp để từ đó xây dựng hệ thống câu

    hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, khơi gợi được hứng thú

    tham gia hoạt động của HS, phù hợp với nội dung bài học .

    Qua tài liệu tham khảo và kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy có ba

    phương pháp (mức độ) vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích chứng

    minh và vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo

    II.1. Vấn đáp tái hiện : Đây là phương pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu

    HS chỉ cần nhớ lại và tái hiện nội dung bài học. Đây là dạng vấn đáp ở mức độ

    bình thường, không đòi hỏi HS phải tư duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc

    dựa vào văn bản văn học.

    Ví dụ 1: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của đoạn trích Việt Bắc, có

    thể đặt câu hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của bài ? HS dựa vào tiểu dẫn trả lời:

    Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7- 1954, Hiệp định Giơ-nevơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải

    phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới . Tháng 10- 1954, những người

    kháng chiến từ căn cứ miền núi về miền xuôi, nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố

    Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    Ví dụ 2: Khi hướng dẫn HS tìm hiểu những phát hiện của người nghệ sĩ

    nhiếp ảnh trongvăn bản Chiếc thuyền ngoài xa(Nguyễn Minh Châu) , GV đặt

    câu hỏi vấn đáp tái hiện : Tuy nhiên, ngay khi tâm hồn bay bổng trong những

    cảm xúc thẫm mỹ, đang tận hưởng cái khoảng khắc trong ngần của tâm hồn thì

    người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã kinh ngạc phát hiện ra điều gì tiếp theo ngay sau

    bức tranh ? Tâm trạng người nghệ sĩ khi đó như thế nào? .

    HS tái hiện : Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ là một người

    đàn bà xấu xí, mệt mỏi ; một gã đàn ông to lớn, dữ dằn ; một cảnh tượng tàn

    nhẫn: gã chồng đánh đập vợ một cách thô bạo … đứa con thương mẹ đã đánh lại

    cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai của bố ngã dúi xuống cát…Chứng kiến cảnh

    tượng đó người nghệ sĩ Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ. Người nghệ sĩ như chết

    lặng, không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    9

    N ăm học: 2012- 2013

    10

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    11

    N ăm học: 2012- 2013

    12

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    13

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    C. KẾT LUẬN

    Áp dụng phương pháp vấn đáp (đàm thoại) trong dạy học môn Văn ở

    trường phổ thông là một việc làm cần thiết để nhằm nâng cao chất lượng HS.

    Phương pháp dạy học nào thì cũng có mặt tích cực và hạn chế của nó. Nhưng

    nói chung theo phương pháp dạy học mới hiện nay lấy HS làm trung tâm thì

    việc dạy học theo phương pháp vấn đáp mang lại thành công nhiều hơn.

    Việc áp dụng phương pháp vấn đáp vào trong dạy học bộ môn Ngữ Văn

    có tác dụng rất lớn trong việc phát triển trí tuệ, tâm hồn của HS, rèn luyện kỹ

    năng, phát huy sáng tạo của HS, phát huy hướng tìm tòi, phát hiện trong quá

    trình học của HS. Nhưng với phương pháp này đôi khi cũng có hạn chế đối với

    các lớp HS yếu, dễ gây mất thời gian.

    Mỗi phương pháp đều có thế mạnh riêng. Người GV là người tổ chức

    hoạt động dạy và học, vì vậy phải biết tận dụng sức mạnh của mỗi phương pháp

    để từ đó đạt hiệu quả cao trong học tập và giảng dạy. Có người đã từng nói: Từ

    trong nước chảy ra sẽ là nước, từ trong máu chảy ra sẽ là máu. Người GV phải

    biết xuất phát từ cái tâm, sự nhiệt huyết của mình để làm tròn sứ mệnh thiêng

    liêng kết nối trái tim với trái tim. Trái tim sẽ mách bảo cách dạy sao cho mỗi

    ngày, mỗi tiết thật sự bổ ích và hấp dẫn.

    D. Ý KIẾN ĐỀ NGHỊ VẬN DỤNG KINH NGHIỆM.

    Thực hiện quá trình đổi mới phương pháp dạy học là công việc phức

    tạp, đòi hỏi nhiều công sức tâm huyết của mỗi GV chúng ta. Trong quá trình

    thực hiện, đổi mới đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ giữa nhiều cấp độ. Chính

    vì vậy, tôi xin nêu một vài kiến nghị đề nghị tới các cấp như sau:

    – Sở giáo dục nên tiếp tục tổ chức các đợt học tập chuyên đề và tập trung

    nhiều hơn đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và tạo điều kiện để các cụm

    tổ chức trao đổi kinh nghiệm về phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng

    và các bộ môn khác trong nhà trường nói chung.

    – Ban chuyên môn nhà trường tiếp tục tăng cường kiểm tra dự giờ thường

    xuyên để động viên, thúc đẩy GV đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất

    lượng giáo dục.

    – Tổ nhóm chuyên môn và mỗi người thầy chúng ta cần quan tâm đúng

    mức tới công việc vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy học, không chủ quan

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    14

    Lê Thị Hoa

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    15

    --- Bài cũ hơn ---

  • Uu Diem Va Nhuoc Diem 5 Pp
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn
  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Uu Diem Va Nhuoc Diem 5 Pp
  • Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Các Dạng Hình Tứ Giác
  • Tập Huấn Văn:phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Chuyen De Ve Lai Mach Dien Và Tính Giá Trị Điện Trở
  • Đây là phương pháp mà giáo viên đặt ra các câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc tranh luận với nhau và với cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học.

    Theo cô Lê Thị Hoa, phương pháp vấn đáp, đàm thoại khác với thuyết trình ở chỗ nội dung cần truyền thụ không được thể hiện qua lời giảng của người dạy mà được thực hiện bởi hệ thống câu trả lời của người học, dưới sự gợi mở bởi các câu hỏi của người dạy đề xuất. Các câu hỏi này được tổ chức thành một hệ thống phù hợp với nội dung bài học, đối tượng học sinh.

    Từ kinh nghiệm bản thân, cô Lê Thị Hoa chia sẻ các phương pháp vấn đáp hiệu quả trong dạy học Văn và những lưu ý với các phương pháp này.

    Vấn đáp tái hiện

    Đây là phương pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu HS chỉ cần nhớ lại và tái hiện nội dung bài học. Đây là dạng vấn đáp ở mức độ bình thường, không đòi hỏi HS phải tư duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc dựa vào văn bản văn học.

    Ví dụ: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của đoạn trích Việt Bắc, có thể đặt câu hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của bài ? HS dựa vào tiểu dẫn trả lời: Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7- 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới . Tháng 10- 1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi về miền xuôi, nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    Vấn đáp tái hiện có thể xem là bước đầu khi đi sâu tìm hiểu, khám phá, phát hiện giá trị của văn bản văn học. Đây còn là cơ sở để giáo viên đặt ra những câu hỏi nêu vấn đề nhằm hướng dẫn, giúp HS phát hiện giá trị, vẻ đẹp của văn bản văn học.

    Vấn đáp giải thích, chứng minh

    GV phải xây dựng hệ thống câu hỏi yêu cầu HS phải tư duy, biết vận dụng các thao tác lập luận giải thích(dùng lí lẽ, lí giải nội dung, bản chất của vấn đề để mọi người cùng hiểu vấn đề ), phân tích, chứng minh ( chia tách đối tượng thành từng khía cạnh, từng phần xem xét đánh giá, kết hợp dùng dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, đối tượng ).

    Với phương pháp này, GV tổ chức hướng dẫn HS đi sâu khám phá các giá trị của tác phẩm văn học nay bản chất vấn đề của bài học.

    Tuy nhiên vấn đề đặt ra là GV xây dựng hệ thống câu hỏi vấn đáp giải thích, chứng minh như thế nào để hấp dẫn HS đồng thời đảm bảo được mục tiêu cần đạt.

    Theo kinh nghiệm của cô hoa, người GV nên căn cứ vào mục tiêu cần đạt kết hợp với hệ thống câu hỏi Hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa, thể loại văn bản, dung lượng bài học.

    Ngoài ra, còn phải chú ý đến đối tượng HS từng lớp, từng nhóm, thậm chí từng cá nhân trong lớp trong lớp về các mặt như lứa tuổi, tâm sinh lý, trình độ, vốn sống, khả năng nhận thức, khả năng diễn đạt… Trên cơ sở đó GV xây dựng hệ thống câu hỏi vấn đáp .

    Chẳng hạn, khi tìm hiểu vẻ hung bạo của con sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, GV nêu câu hỏi: Có ý kiến nhận xét cho rằng : Nguyễn Tuân đã có sự quan sát công phu, tìm hiểu kĩ càng để khắc họa sự hung bạo trên nhiều dạng vẻ. Em có đồng ý với ý kiến trên không? Vì sao?

    Kết quả HS trả lời: Sông Đà được miêu tả chỗ thì chẹt lại như chiếc yết hầu. Lại có những quãng sông hàng cây số của một thế giới đầy gió gùn ghè, đá giăng đến chân trời và sóng bọt tung trắng xóa…

    Tả cái hút nước quãng Tà Mường Vát, những cái hút nước xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu… Những trùng vi thạch trận sẵn sàng nuốt chết con thuyền và người lái. .. Âm thanh luôn thay đổi…

    Vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo

    Đây là dạng câu hỏi vấn đáp đòi hỏi HS không chỉ biết giải thích, chứng minh mà hơn thế phải biết khái quát, phát hiện ra bản chất của vấn đề, tầng lớp nghĩa ẩn của văn bản văn học, hơn thế HS phát hiện ra những tầng nghĩa mới.

    Vận dụng những câu hỏi vấn đáp ở mức độ này, đòi hỏi GV phải lưu ý tới mục đích, hình thức hỏi tránh đưa ra những câu hỏi mang tính chất đánh đố HS, đặc biệt phải chú ý tới đối tượng tiếp nhận (HS khả năng nhận thức, tư duy).

    Khi đặt ra câu hỏi này GV thường hướng tới đối tượng là HS khá, giỏi nhằm phát huy khả năng nhận thức, tư duy, sáng tạo của các em. Tuy nhiên GV có thể đưa ra câu hỏi dẫn dắt gợi mở nhằm giúp các em có sức học trung bình cũng có thể khám phá, phát hiện và trả lời.

    Chẳng hạn, khi tìm hiểu mạch cảm xúc, bố cục của văn bản văn học GV nên đặt câu hỏi dạng này.

    Ví dụ khi tìm hiểu bố cục bài thơ Tây Tiến(Quang Dũng), GV nêu câu hỏi: Sau khi nghe xong bài thơ, em hãy căn cứ vào mạch cảm xúc của bài thơ cho biết bài thơ chia thành mấy đoạn? Nêu nội dung chính của từng đoạn?

    Những bước cơ bản tổ chức dạy học vấn đáp

    Theo cô Lê Thị Hoa, để tổ chức một giờ học vấn đáp hoàn chỉnh trong dạy văn, GV có thể tiến hành theo một số bước cơ bản sau:

    Thứ nhất: Xác định vấn đề cần vấn đáp (đàm thoại). Thông qua việc hướng dẫn đọc, GV phải hướng dẫn hay gợi ý cho HS những chi tiết, hình ảnh tiêu biểu chứa đựng nội dung bao quát cơ bản để trong quá trình đọc HS cảm nhận được vấn đề mình cần phải trả lời hay tìm hiểu trong giờ học đó.

    Vấn đề đưa ra vấn đáp với HS có khi chỉ là một hình ảnh, một chi tiết, một khía cạnh nội dung hay một nhân vật nào đó trong tác phẩm. Nhưng chi tiết hoặc hình ảnh đó phải tiêu biểu, đóng vai trò then chốt mà qua đó giúp HS nắm được tư tưởng của đoạn trích hoặc tác phẩm.

    Thứ hai: Hướng dẫn học sinh vấn đáp. Đây là một việc làm quan trọng của GV trong giờ học văn. Khi đã đưa ra một hệ thống câu hỏi, nếu học sinh không thể tìm ra câu trả lời ngay được thì người GV cần phải dẫn dắt, gợi mở vấn đề bằng những câu hỏi phụ để từ đó HS tìm ra ý cho câu hỏi chính.

    Trong thực tế, HS có thể nắm được nhiều các chi tiết của tác phẩm nhưng chưa biết kết nối các chi tiết đó để có thể rút ra được các nhận định đánh giá. Đây cũng là lý do khiến các em rụt rè khi trả lời, vì vậy đòi hỏi GV gợi mở, dẫn dắt.

    “Trong giờ học văn, giáo viên (GV) phải là người điều khiển, hướng dẫn để học sinh (HS) tự khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. HS là một chủ thể trực tiếp tiếp nhận, chiếm lĩnh tác phẩm. HS có điều kiện phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn mà lâu nay bản thân các em chưa khám phá, bộc lộ hoặc còn rụt rè, lúng túng… Từ đó, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi diễn đạt một vấn đề trước tập thể. GV cần phải nắm vững bản chất của phương pháp vấn đáp, đặc biệt là phải phân biệt được các loại, mức độ vấn đáp để từ đó xây dựng hệ thống câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, khơi gợi được hứng thú tham gia hoạt động của HS, phù hợp với nội dung bài học”. Cô Lê Thị Hoa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Phương Pháp Và Kĩ Thuật Đánh Giá Kết Quả Học Tập Trên Lớp/vấn Đáp
  • Nâng Cao Chất Lượng Học Toán Với Phương Pháp Kiểm Tra Vấn Đáp
  • Thế Nào Là Phương Pháp Dạy Học Tích Cực

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Dạy Toán Cho Trẻ Lớp 1 Nổi Tiếng Trên Thế Giới
  • Luận Văn Luận Văn Vận Dụng Quan Điểm Hoạt Động Khi Dạy Học Giải Toán Về Phương Pháp Tọa Độ Trong Mặt Phẳng Ở Lớp 10 Trường Thpt
  • Phương Pháp Dạy Toán Lớp 2 Giúp Bé Phát Triển Tư Duy Sáng Tạo
  • Báo Cáo Chuyên Đề Môn Toán
  • Top 4 Cách Dạy Toán Lớp 2 Hiệu Quả Nhất Bố Mẹ Nên Biết
  • THẾ NÀO LÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢNG DẠY TÍCH CỰC?

    Như chúng ta đã biết, mỗi một phương pháp giảng dạy dù cổ điển hay hiện đại đều nhấn mạnh lên một khía cạnh nào đó của cơ chế dạy-học hoặc nhấn mạnh lên mặt nào đó thuộc về vai trò của người thầy.

    Chúng tôi cho rằng, cho dù các phương pháp thể hiện hiệu quả như thế nào thì nó vẫn tồn tại một vài khía cạnh mà người học và người dạy chưa khai thác hết. Chính vì thế mà không có một phương pháp giảng dạy nào được cho là lý tưởng. Mỗi một phương pháp đều có ưu điểm của nó do vậy người thầy nên xây dựng cho mình một phương pháp riêng phù hợp với mục tiêu, bản chất của vấn đề cần trao đổi, phù hợp với thành phần nhóm lớp học, các nguồn lực, công cụ dạy-học sẵn có và cuối cùng là phù hợp với sở thích của mình.

    Theo chúng tôi, phương pháp giảng dạy được gọi là tích cực nếu hội tụ được các yếu tố sau: – Thể hiện rõ vai trò của nguồn thông tin và các nguồn lực sẵn có. Có nghĩa là nếu như chúng ta muốn xây dựng một công trình chúng ta phải lượng xem những gì chúng ta đã có. Không thể xây một tòa tháp nếu ta chỉ đủ xây một ngôi nhà nhỏ. Mục tiêu của giáo dục phải được thể hiện rõ ràng trong phương pháp giảng dạy: dạy cho đối tượng nào? Sau khi học tập thì người học được gì? Mục tiêu cần đạt được đang bắt đầu từ đâu? Tại sao phải đạt các mục tiêu đó?… Như vậy, có thể một phương pháp là tích cực đối với đối tượng người học này, nhưng chức chắc đã phù hợp và tích cực với đối tượng khác. Vì vậy nắm được nguồn thông tin và nguồn lực sẵn có là một tiêu chuẩn để xác định phương pháp dạy học áp dụng đúng đối tượng, phù hợp với mục tiêu dạy học. – Thể hiện rõ được động cơ học tập của người học khi bắt đầu môn học. Việc thể hiện được động cơ học tập trong phương pháp dạy học đồng nghĩa với việc kích thích được nhu cầu học tập của người học. Khi học tập có nhu cầu thì sẽ áp dụng tốt phương pháp học tích cực với người học, kết hợp phương pháp dạy tích cực của người hướng dẫn sẽ tạo thành tổ hợp phương pháp dạy học tích cực. Việc xác định rõ động cơ trong học tập để quá trình dạy học không xa rời người học mà trở thành định hướng cho quá trình học đi đúng với mục tiêu học tập.

    – Thể hiện rõ được bản chất và mức độ kiến thức cần huy động sẽ giúp việc học không quá sức với người học. Nếu việc học vượt quá mức tiếp thu của người học sẽ dễ gây tâm lý chán nản, ngược lại, việc học dễ sẽ dẫn tới tâm lý chủ quan, không kích thích sự cố gắng của người học. Vì vậy, nếu xác định được bản chất và mức độ kiến thức cần huy động, phương pháp áp dụng sẽ phù hợp với người học. – Thể hiện rõ được vai trò của người học, người dạy, vai trò của các mối tương tác trong quá trình học. Trong phương pháp dạy học tích cực, người thầy đóng vai trò hướng dẫn, người đặt ra các tình huống, đưa ra các gợi ý,… người học chủ động sử dụng các kiến thức sẵn có để mở rộng ra kiên thức mới, giải quyết các tình huống đặt ra trong quá trình tìm tòi, suy luận, tìm ra các giải pháp để đạt được mục tiêu mà bài học hướng tới.

    – Thể hiện được kết quả mong đợi của người học. Tất cả các hoạt động, sự tương tác giữa người dạy với người học, giữa người học với nội dung kiến thức cuối cùng đều phải hướng tới kết quả mong đợi của người học hay mục tiêu chính yếu của phần kiến thức đang cần đạt được.

    TLTK: Lê Văn Hảo

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Trị Tắc Vòi Trứng Bằng Đông Y An Toàn, Hiệu Quả Cao Bạn Nên Biết
  • Mắc Bệnh Tắc Vòi Trứng Có Thai Được Không? Cách Điều Trị Tắc Vòi Trứng Hiệu Quả
  • Chữa Tắc Vòi Trứng Bằng Đông Y Có Hiệu Quả Không?
  • Lăn Cầu Gai Đôi Diện Chẩn Chữa Tắc Vòi Trứng Hiệu Quả 2022
  • Chữa Viêm Xoang Bằng Diện Chẩn Hiệu Quả Nhanh Chóng, Cực An Toàn
  • Thế Nào Là Giảm Cân Theo Phương Pháp Low

    --- Bài mới hơn ---

  • 5 Điều Học Được Khi Giảm Cân Bằng Phương Pháp Lowcarb
  • Chế Độ Ăn Giảm Cân Khoa Học Và Lành Mạnh Cho Cơ Địa Khó Giảm Cân
  • 2Day.com.vn: Top 7 Viên Uống Giảm Cân Tốt Nhất 2022 Được Nhiều Người Tin Dùng
  • Danh Sách Top 5 Viên Uống Giảm Cân Được Đánh Giá Tốt, An Toàn Nhất Năm 2022
  • Hành Trình Giảm Cân Lấy Lại Eo Thon Quyến Rũ Từ 76 Xuống 60 Của Cô Nàng 9X
  • Mình thấy rất ngạc nhiên với phương pháp giảm cân Low-carb, tại sao chúng ta có thể giảm cân khi chỉ cần ăn ít tinh bột, rau xanh, trong khi đó lại có thể ăn thịt và chất béo nếu muốn! ban đầu là nghi ngờ nhưng sau khi tuân thủ nghiêm túc phương pháp giảm cân mới lạ này mình thật sự bất ngờ với hiệu quả của nó.

    chính carb và sugar sẽ kích thích cơ thể tiết ra glỷxein gây nên tình trạng tích mỡ dưới da

    cơ thể con người được hoạt động dựa trên 3 nền tảng chính

    1. nền tảng tiêu thụ đường

    2 . nền tảng tiêu thụ mỡ

    3 . nền tảng tiêu thụ thịt

    bình thường thì con người luôn ở nền tảng tiêu thụ đường (trừ người eskimo)

    thế nên mới phải tính toán + lo lắng sốt vó xem ăn cái này có lên cân không ăn cái kia có lên cân không .

    và thường dẫn đến tình trạng suy dinh dưỡng do ăn uống thiếu chất (sợ tăng cân nên không dám ăn hoặc ăn không đủ chất)

    bây giờ nếu như chúng ta ngừng không cung cấp đường cho cơ thể nửa thì cơ thể sẽ tự động chuyển đổi sang chế độ hoạt động thứ 2 — một chế độ mà bất kì chị em nào mà nghe một cái là sướng liền — chế độ tiêu thụ mỡ .

    khi không ăn đường nữa thì cơ thể sẽ chuyển sang tiêu thụ mỡ

    đó là một điều hoàn toàn đơn giản

    thế nên mới ra đời phương pháp lowcarb

    lowcarb tức là ít carb , ít tinh bột – đường

    khi ăn ít tinh bột , đường , cơ thể sẽ chuyển hẳn sang fat-metabolism , và sau đó chuyện gì thì các chị em đã hiểu

    giảm cân ầm ầm.

    trong khi đó ăn kiêng theo kiểu lowcarb này thì các chị em ngồi không một chỗ một ngày cũng tiêu thụ trên dưới 1700calo từ đống mỡ bụng (chưa tính đến luyện tập)

    không phải sướng hơn sao

    ăn thả cửa

    hiệu quả gấp 3 lần

    và hầu như là không cần phải luyện tập.

    Nếu bạn còn lo lắng với những phương pháp giảm cân hiện tại thì hoàn toàn có thể yên tâm để áp dụng chế độ ăn kiêng từ low – carb, chắc chắn phương pháp này sẽ làm bạn hài lòng với những gì mình đang chờ đợi đấy!!

    Địa chỉ cung cấp mỹ phẩm & thực phẩm chức năng nhập khẩu chính hãng nổi tiếng thế giới.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Giảm Cân An Toàn Hiệu Quả
  • Phương Pháp Giảm Cân Với Thực Đơn Low
  • Cách Uống Dấm Táo Mèo Để Giảm Cân Tại Nhà
  • Chuyên Gia Hướng Dẫn Thực Hiện 6 Bài Tập Yoga Giảm Béo Hiệu Quả
  • Những Bài Học Về Chế Độ Ăn Keto Của Thầy Viễn Trọng
  • Nuôi Con Bằng Phương Pháp Easy Là Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • Các Phương Pháp Xác Định Giá Xuất Kho Theo Thông Tư 200
  • Ưu Nhược Điểm Của Phương Pháp Tính Giá Trị Hàng Tồn Kho
  • Bài Tập Tính Giá Thành Sản Phẩm Có Đáp Án
  • Hàng Tồn Kho _ Ưu Và Nhược Điểm Từng Phương Pháp Xác Định Hàng Tồn Kho
  • Thắc Mắc Về Phương Pháp Nhập Sau, Xuất Trước (Lifo)?
  • Nuôi con theo easy là gì?

    EASY là cách viết tắt các chữ cái đầu của cụm Eat – Activity – Sleep – Your time, tức là Ăn – Hoạt động (chơi) – Ngủ – Thời gian của mẹ. Phương pháp này là cách luyện cho trẻ nề nếp sống từ nhỏ, chu kỳ của phương pháp sẽ bắt đầu từ khi trẻ sơ sinh vừa thức đến tối khi con ngủ.

    Những lợi ích khi nuôi con bằng phương pháp easy

    Lợi ích đối với trẻ sơ sinh

    Phương pháp này tập trung vào việc xây dựng cho trẻ một nhịp sinh học ổn định. Trẻ sẽ dần quen với các hoạt động diễn ra trong một ngày. Sau khi trẻ ăn xong sẽ được chơi, khi mệt sẽ được ngủ. Khi đã quen trẻ sẽ chủ động, tự tin hơn bởi trẻ biết hoạt động tiếp theo là gì, có thể chờ đợi việc sắp diễn ra ngay sau đó. Nhiều chuyên gia cho rằng quá trình nuôi dạy con này sẽ giúp trẻ củng cố lòng tin với người chăm sóc người mẹ.

    Lợi ích đối với mẹ

    Khi bé đã quen với nề nếp của phương pháp sẽ giảm áp lực cho mẹ rất nhiều. Lúc này, mẹ có thể sắp xếp và có thời gian để xử lý các công việc cá nhân. Tuy nhiên, việc khó nhất của mẹ khi đó là phải “bắt đúng sóng” của con. Điển hình là khi con khóc thì có rất nhiều nguyên nhân chứ không hoàn toàn đến từ việc con đói, có thể là con mệt mỏi, gắt ngủ, buồn chán, bệnh…Bạn phải rất tinh tế trong việc quan sát con để đáp ứng nhu cầu của trẻ.

    Cách nuôi con theo phương pháp easy như thế nào đối với các độ tuổi khác nhau?

    Theo các chuyên gia, trẻ ở mỗi độ tuổi khác nhau sẽ có những chu kỳ phù hợp khác nhau. Cụ thể như sau:

    Chu kỳ EASY 3

    Độ tuổi áp dụng

    Chu kỳ này có thể áp dụng cho trẻ khoảng từ 0 đến 6 tuần tuổi. Tuy nhiên, bạn cần lưu ý 2 điều kiện sau: bé được 2 tuần tuổi, bé nặng từ 2.9kg trở lên. Lý do là với những bé sinh non dưới 28 tuần nếu muốn áp dụng chu kỳ trên thì cần xem cân nặng của bé.

    Thời gian ăn

    Bạn có thể giãn cách mỗi cữ bú của bé có thể là từ 2.5 đến 3 giờ, mỗi cữ bú khoảng 20 đến 45 phút, con cần được ăn ngay sau khi thức dậy. Lý do là khi bé đủ tháng, nặng trên 2.7kg thì đã có thể duy trì việc trữ năng lượng khoảng 3 giờ. Bạn có thể cho bé bú khoảng 5 cữ vào các khung giờ như: 7:00 – 7:45, 10:00 – 10:45, 13:00 – 13:45, 16:00 – 16:45, 19:00 – 19:45.

    Thời gian hoạt động

    Ở độ tuổi này thì tổng thời gian thức của bé, bao gồm cả lúc bú, chỉ khoảng 6 đến 8 giờ. Thời gian bé hoạt động chỉ khoảng 20 đến 30 phút giữa các giấc ngủ. Tuy nhiên, trước khi hoạt động, bạn cần đảm bảo bé đã bú no, ợ hơi, được thay tã và vệ sinh cơ thể.

    Thời gian ngủ

    Thông thường ở độ tuổi này bé thường ngủ 4 giấc mỗi ngày gồm: 3 giấc dài (1,5 -2 giờ) và 1 giấc ngắn cuối ngày (từ 30 – 40 phút). Vào ban đêm, giấc ngủ của bé thường kéo dài từ 11 đến 13 giờ.

    Chu kỳ EASY 4

    Độ tuổi áp dụng

    Khi bé được khoảng 8 đến 19 tuần tuổi là mẹ có thể áp dụng chu kỳ này cho bé. Bạn cũng có thể dùng chu kỳ đến khi bé được 8 đến 9 tháng tuổi, thậm chí là 1 tuổi.

    Thời gian ăn

    Ở độ tuổi này bé đã có những thay đổi nhất định trong nhịp sinh học, cụ thể là khoảng cách giữa các cữ bú giãn ra, thời gian ngủ ngày ngắn lại. Lúc này khoảng cách giữa các cữ bú của bé là khoảng 4 giờ.

    Thời gian hoạt động

    Tổng thời gian để bé hoạt động giữa các giấc ngủ (bao gồm cả thực hiện trình tự ngủ) dao động từ 80 đến 100 phút.

    Thời gian ngủ

    Bé ngủ 3 giấc trong ngày bao gồm: 2 giấc dài 1,5 – 2 giờ (khoảng từ 9 – 11 giờ, 13 – 15 giờ) và 1 giấc ngắn cuối ngày kéo dài khoảng 30 – 40 phút (17 – 17 giờ 40). Thời gian ngủ ban đêm của bé là vào khoảng 11 đến 12 giờ.

    Chu kỳ EASY 2- 3- 4

    Độ tuổi áp dụng

    Khi bé được khoảng 19 đến 46 tuần tuổi thì mẹ có thể áp dụng chu kỳ trên.

    Thời gian ăn

    Trong khẩu phần ăn của bé giờ đây đã có thêm phần ăn dặm. Khoảng cách giữa các cữ bú/ăn của bé ở độ tuổi này cách nhau khoảng từ 4 đến 4.5 giờ. Bạn có thể cho bé ăn dặm vào khung giờ từ 11 – 14 giờ. Khi bé trên 6 tháng, con sẽ ăn thêm bữa ăn dặm vào khoảng 18 – 18 giờ 30.

    Thời gian hoạt động

    Lúc này thời gian ngủ ngày của con ngắn lại, do đó thời gian chơi của bé trong ngày tăng lên.

    Thời gian ngủ

    Ban ngày, bé ngủ 2 giấc, mỗi giấc khoảng 1,5 – 2 giờ. Thời gian ngủ ban đêm rơi vào khoảng 11 – 12 giờ.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Học Mẹ Mít Nuôi Con Theo Phương Pháp Easy Để Bé Khỏe Mẹ Nhàn Tênh
  • Tài Liệu Phương Pháp Nghiên Cứu Di Truyền Y Học
  • Giáo Trình Tâm Lý Y Học
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Của Tâm Lí Y Học
  • Hướng Dẫn Về Đạo Đức Trong Nghiên Cứu Y Sinh Học
  • Nâng Cao Chất Lượng Học Toán Với Phương Pháp Kiểm Tra Vấn Đáp

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Và Kĩ Thuật Đánh Giá Kết Quả Học Tập Trên Lớp/vấn Đáp
  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn
  • GD&TĐ – Cô Vũ Thị Thu Hương – giáo viên Trường THCS Giảng Võ (Hà Nội) – cho rằng: Kiểm tra, đánh giá bằng vấn đáp thông qua các bài tập trắc nghiệm giúp học sinh nắm chắc kiến thức, nhanh chóng củng cố khắc sâu kiến thức bài học, từ đó vận dụng kiến thức vào bài tập một cách tốt nhất.

    Những lưu ý khi thực hiện kiểm tra bằng vấn đáp

    Cô Vũ Thị Thu Hương cho biết, mỗi học kì, mình tổ chức hai lần kiểm tra vấn đáp cho học sinh, vào giữa học kì và trước kì thi học kì hai tuần.

    Mục đích giúp học sinh tự hệ thống lại được toàn bộ kiến thức đã học để chuẩn bị cho các kì kiểm tra; thấy được những nhận thức của mình đúng hay chưa, từ đó tự điều chỉnh bản thân để đạt được kết quả tốt trong các kì kiểm tra.

    Trước khi kiểm tra vấn đáp, theo cô Hương, giáo viên nên đưa ra yêu cầu học sinh ôn lại toàn bộ những kiến thức đã được học. Đặc biệt nhấn mạnh: Phải hiểu kiến thức chứ không phải học vẹt.

    Đồng thời bản thân giáo viên cũng phải chuẩn bị những bài tập lý thuyết sao cho phù hợp với những nội dung đã được học.

    Hình thức kiểm tra: Giáo viên lần lượt từng học sinh vào bốc thăm, mỗi em được chuẩn bị 5 phút (Trong lúc một học sinh trả lời, một học sinh khác chuẩn bị).

    Để khuyến khích học sinh, giáo viên có thể lấy làm điểm kiểm tra miệng. Những học sinh yếu kém không trả lời được câu hỏi, giáo viên cho bốc thăm câu hỏi phụ – chỉ là những bài toán lý thuyết đơn giản (như loại bài điền vào chỗ trống, trả lời những câu hỏi lý thuyết đơn giản).

    Từ kết quả của buổi kiểm tra, giáo viên sẽ điều chỉnh, uốn nắn học sinh những lỗi hay mắc. Cũng qua đó, giáo viên đồng thời đánh giá bản thân mình đã hoàn thành trách nhiệm hay chưa, để đưa ra các phương pháp điều chỉnh kịp thời.

    Hệ thống bài toán giúp kiểm tra kiến thức học sinh toàn diện

    Cô Vũ Thị Thu Hương cho rằng, các bài toán trắc nghiệm sẽ giúp giáo viên kiểm tra kiến thức học sinh được rộng hơn, sâu hơn và nhanh hơn, đáp ứng mục đích của giáo dục là cung cấp cho học sinh kiến thức một cách đầy đủ và toàn diện.

    Chính vì vậy, cô Hương chia sẻ mình đã không ngừng học hỏi đồng nghiệp, tham khảo sách và đã tìm tòi được một số bài toán trắc nghiệm trong quá trình giảng dạy.

    Các đề bài toán cô Hương trình bày gồm 4 dạng: Các bài tập dạng trắc nghiệm đúng sai; Các bài tập dạng trắc nghiệm điền khuyết; Các bài tập dạng trắc nghiệm ghép đôi; Các bài tập dạng trắc nghiệm nhiều lựa chọn.

    Trắc nghiệm đúng sai là dạng bài toán về cả lý thuyết và bài tập. Để giải được dạng toán này học sinh cần phải nắm chắc và hiểu sâu kiến thức từ đó tìm được cách lựa chọn của mình cho đúng và phù hợp.

    Các bài toán điền vào chỗ trống cho thích hợp: Đây là dạng bài toán về lý thuyết. Mục đích của bài toán giúp học sinh tiếp nhận và củng cố kiến thức một cách vững chắc. Để giải được dạng toán này học sinh cần phải chăm học, học đều và tránh được tình trạng học vẹt.

    Bài toán dạng ghép nối là dạng toán giúp học sinh củng cố kiển thức đã học một cách chắc chắn. Học sinh cần phải học kỹ lý thuyết, nắm chắc kiến thức cơ bản mới không mắc phải các sai lầm khi làm bài.

    Bài toán lựa chọn kết quả: Đây là dạng bài toán yêu cầu học sinh phải nắm chắc kiến thức để vận dụng vào bài tập. Trong hàng loạt các đáp số, học sinh phải có sự kết hợp hài hoà giữa lý thuyết và bài tập. Đôi khi học sinh phải dùng phương pháp suy luận (tính toán) để giải rồi lựa chọn kết quả.

    Đây là phương pháp giáo viên dùng để ôn tập sau bài học,cuối chương học hay kiểm tra học sinh trong các bài định kỳ.

    Những dạng bài tập nói trên, theo cô Hương, có thể giúp học sinh có thể tiếp nhận một cách thoải mái, dễ dàng kiến thức, từ đó vận dụng kiến thức đã học để giải ngay các bài tập trên lớp một cách thành thạo.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Mẹo Hướng Dẫn Học Toán Ucmas Dễ Học Và Dễ Cho Bé Và Mẹ
  • Lập Tiến Độ Dự Án Theo Phương Pháp Đường Găng (Cpm) Và Pert
  • Trung Tâm Dạy Toán Tính Nhẩm Nhanh Uy Tín, Chất Lượng
  • Nguyên Tắc Và Phương Pháp Dạy Toán Tư Duy Cho Trẻ Hiệu Quả
  • Tiêu Chuẩn Quốc Gia Tcvn 9514:2012 Về Thực Phẩm
  • Thế Nào Là Tắm Trắng Đúng Cách? Chuyên Gia Tư Vấn

    --- Bài mới hơn ---

  • Làm Thế Nào Để Trở Thành Chuyên Gia Trong Lĩnh Vực Của Bạn
  • Bệnh Trĩ Ngoại Là Gì Và Cách Điều Trị Như Thế Nào?
  • Tìm Việc Làm Theo Phương Pháp Của Chuyên Gia
  • Khi Nào Bạn Nên Sử Dụng Phương Pháp Ngoại Khoa Trong Điều Trị Bệnh Trĩ
  • Một Số Phương Pháp Và Kỹ Năng Tư Vấn, Hỗ Trợ Sinh Viên
  • Tư vấn

    Thế nào là tắm trắng đúng cách?

    Tắm trắng tuân thủ theo quá trình chuyển hóa tự nhiên của cơ thể

    Tắm trắng đúng cách là thực hiện theo quy trình dựa trên vòng đời sinh trưởng của tế bào da, tẩy những tế bào da chết để tạo điều kiện cho tế bào da mới phát triển, những tế bào da mới này bao giờ cũng sáng hơn. Quy tắc của tắm trắng đúng cách là đảm bảo yếu tố nuôi dưỡng làn da thật sự tự nhiên và bảo đảm sự an toàn, hiệu quả.

    Tắm trắng không sử dụng hóa chất lột tẩy

    Tắm trắng không phải là lột tẩy da. Do đó, công nghệ tắm trắng đúng cách không sử dụng hóa chất mà sử dụng các dưỡng chất thẩm thấu vào da, giúp da trắng lên từ sâu bên trong.

    Thế nào là tắm trắng đúng cách?

    – Hiệu quả lâu dài

    Khác với những công nghệ tắm trắng bằng phương pháp lột tẩy chỉ duy trì độ trắng sáng của làn da trong một thời gian ngắn, tắm trắng đúng cách sử dụng nguyên liệu thiên nhiên tác động sâu giúp da trắng lên từ bên trong và duy trì màu da trong thời gian dài.

    Sữa non nguyên chất – Tắm trắng đúng cách, hiệu quả

    Tắm trắng bằng sữa non nguyên chất kết hợp tinh chất vàng Nano sử dụng 100% nguyên liệu từ thiên nhiên, thân thiện với da, giúp da trắng lên một cách tự nhiên và ổn định. Trong đó:

    – Sữa non cung cấp các dưỡng chất nuôi dưỡng làn da đồng thời cải thiện sắc tố melanin, ngăn ngừa sắc tố gây đen và thâm da, tái tạo tế bào mới và duy trì độ ẩm cho da, từ đó cho làn da trắng hồng và mịn màng một cách tự nhiên. Bên cạnh đó, sữa non còn giúp bảo vệ da khỏi các tác động của các tia UV trong ánh nắng mặt trời đồng thời ngăn ngừa quá trình lão hóa và giúp se khít lỗ chân lông hiệu quả.

    Sữa non nguyên chất – Xu hướng tắm trắng An Toàn – Tự Nhiên được ưa chuộng nhất 2014

    – Tinh chất vàng Nano có khả năng nuôi dưỡng và phục hồi làn da, làm giảm quá trình lão hóa da, nhanh chóng làm mờ vết thâm từ thẹo, đặc biệt mang lại làn da trắng hồng, săn chắc tràn đầy sức sống.

    Lựa chọn tắm trắng đúng cách với sữa non nguyên chất và tinh chất vàng Nano tại TMV Kangnam, chỉ với một liệu trình ngắn, làn da sạm đen, xỉn màu hay cháy nắng của bạn sẽ trở nên trắng sáng và căng mịn tự nhiên mà không cần tắm trắng lại nhiều lần. Dưỡng chất có trong sữa non nhờ quá trình ngâm sục và các bài massage chuyên sâu của chuyên viên sẽ thẩm thấu sâu tận lớp trung bì, hạ bì của da và phát huy tác dụng dưỡng da tận gốc, đào thảo sắc tố melanin, sản sinh collagen, elastin tự nhiên, se khít lỗ chân lông, duy trì độ ẩm, giúp da láng mịn như da em bé.

    Nguồn: https://tamtrang.info/

    Bạn đang xem: Thế nào là tắm trắng đúng cách? Chuyên gia tư vấn trong Tư vấn tắm trắng an toàn

    BỆNH VIỆN THẨM MỸ KANGNAM

    TƯ VẤN 24/7: 1900.6466

    --- Bài cũ hơn ---

  • Ưu Và Nhược Điểm Của Phương Pháp Khảo Sát Trực Tuyến * Kiến Càng
  • Nghe Chuyên Gia Nói Về Ưu Điểm Của Phương Pháp Nâng Ngực Túi Demi Là Gì?
  • Bài Tập Về Tài Khoản Và Ghi Sổ Kép
  • Chuyên Viên Tiếng Anh Là Gì? Cách Dùng Từ “chuyên Viên” Trong Tiếng Anh Thế Nào Cho Đúng?
  • Chuyên Gia Tư Vấn Tiếng Anh Là Gì ? Vì Sao Cần Đến Chuyên Gia Tư Vấn ?
  • Phá Thai Bằng Phương Pháp Sinh Non Là Như Thế Nào?

    --- Bài mới hơn ---

  • 6 Phương Pháp Hạn Chế Sinh Non
  • Hướng Dẫn Nhân Sinh Khối Chế Phẩm Sinh Học Em1 Gốc Thành Em2 Thứ Cấp
  • Cách Nhân Sinh Khối Nâm Trichoderma
  • Nghiên Cứu Nhân Nhanh Sinh Khối Rễ Tóc Sâm Ngọc Linh Và Kích Thích Hình Thành Các Hoạt Chất Thứ Cấp Hướng Tới Sản Xuất Quy Mô Pilot
  • Cách Nhân Sinh Khối Nấm Tricoderma
  • Phá thai bằng phương pháp sinh non là như thế nào?

    Theo các bác sĩ tại phòng khám đa khoa Đông Phương cho biết, phá thai bằng phương pháp sinh non thường được áp dụng phá thai 16 tuần trở lên, giai đoạn khi các chức năng và bộ phận cơ thể của thai nhi gần như đã hoàn thiện, từ tóc, móng đến tứ chi, lông da…

    Để thực hiện đình chỉ thai nghén bằng phương pháp sinh non, các bác sĩ sẽ tiến hành gây tê và mở rộng cổ tử cung của thai phụ. Tiếp tục sẽ đặt một túi ni lông hoặc một ống nhựa bên trong buồng tử cung rồi bơm nước vào. Đồng thời, bác sĩ cũng tiêm truyền oxytocin để kích thích tử cung co bóp, khiến chị em chuyển dạ sinh non.

    Trên thực tế, thì phương pháp phá thai bằng phương pháp sinh non này chỉ được áp dụng cho các trường hợp như:

    – Chị em mang thai ngoài ý muốn

    – Thai nhi bị dị tật,

    – Thai phụ không đủ điều kiện sức khỏe để có thể tiếp tục mang thai và sinh con…

    Phá thai bằng phương pháp ép sinh non có nguy hiểm không?

    Có thể nói, phá thai bằng phương pháp sinh non nếu thực hiện tại các địa chỉ y tế phá thai kém chất lượng thì có thể gây ra nhiều biến chứng vô cùng nguy hiểm, cụ thể như:

    Nhiễm trùng

    Đây là một biến chứng của phá thai bằng phương pháp sinh non do khâu kỹ thuật vô trùng không cẩn thận. Nó khiến chị em mắc các bệnh viêm nhiễm như: viêm âm đạo, viêm cơ tử cung, viêm niêm mạc tử cung… thậm chí còn có thể dẫn đến tử vong nếu không được chữa trị kịp thời. Chị em có thể nhận biết hiện tượng này thông qua cảm giác đau ở tử cung, sốt…

    Băng huyết

    Là hiện tượng bộ phận sinh dụng nữ chảy máu không ngừng mặc dù đã dùng thuốc gây tê hay thuốc gây mê khi phá thai. Tình trạng này có thể là hậu quả của rối loạn đông máu, xơ hóa tử cung hoặc hút thai không trọn. Khi không được giải quyết kịp thời có thể ảnh hưởng đến tính mạng.

    Thủng tử cung

    Biến chứng này xảy ra khi nong cổ tử cung hoặc hút thai. Không những thế, quá trình phá thai bằng phương pháp sinh non cũng có thể dẫn tới thủng ruột. Muốn biết chính xác mức độ thủng thế nào chị em cần phải siêu âm và nội soi.

    Rách cổ tử cung

    Đây là một biến chứng hiếm gặp và tương đối lành tính, không ảnh hưởng đến khả năng sinh sản về sau.

    Điều này xảy ra khi nhau thai hoặc thai không được loại bỏ hoàn toàn và một phần vẫn còn ở tử cung. Trường hợp sót nhau hoặc sót thai sẽ khiến tử cung không co lại gây ra rong huyết.

    Vô sinh

    Hiện tượng nhiễm trùng sau khi phá thai bằng phương pháp sinh non có khả năng gây tắc vòi trứng hai bên hoặc gây ra thai ngoài tử cung. Thêm vào đó, sau khi phá thai chị em còn có nguy cơ dính buồng tử cung nên những điều này gây ra nhiều khó khăn cho việc mang thai trở lại, sinh non hay sảy thai tử nhiên.

    Nguy cơ bị bệnh truyền nhiễm

    Sự tiếp xúc cọ xát giữa hai bộ phận nhạy cảm lúc quan hệ ngay sau khi mới phá thai là một tác nhân dẫn đến các bệnh lây truyền qua đường tình dục. Giai đoạn này, cổ tử cung còn hở nên âm đạo vẫn ra huyết, thực hiện sinh hoạt tình dục lúc này có nguy cơ nhiễm trùng rất cao nên nguy cơ lây bệnh truyền nhiễm qua đường tình dục gia tăng.

    Ảnh hưởng đến nội tiết và tâm lý

    Do việc mang thai khiến cơ thể chịu nhiều thay đổi hormone nên khi nạo phá thai bất ngờ phá vỡ sự thay đổi này khiến các hoạt động trong cơ thể bị rối loạn dẫn đến nhiều trường hợp, sau phá thai bằng phương pháp sinh non hệ thống nội tiết và buồng trứng bị tổn thương đồng thời hệ thống thần kinh trung ương bị phá vỡ nên kinh nguyệt không đều; suy giảm ham muốn tình dục; mất ngủ, mệt mỏi, thần kinh suy nhược…

    Không những thế, sau khi phá thai chị em thường rơi vào tình trạng khủng hoảng tâm lý và suy nghĩ tiêu cực dẫn đến dằn vặt, buồn chán, tự trách bản thân thậm chí còn trầm cảm gây ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống, công việc cũng như hạnh phúc gia đình.

    Địa chỉ phá thai bằng phương pháp sinh non an toàn nhất

    Vì thế, khi có ý định phá thai bằng phương pháp sinh non, các thai phụ nên lựa chọn những địa chỉ phá thai ở hà nội uy tín để thực hiện thủ thuật an toàn tránh tối đa những hậu quả đáng tiếc.

    Đặc biệt, chị em có thể tìm đến phòng khám đa khoa Đông Phương để được hỗ trợ. Đây là phòng khám đa khoa chính quy, uy tín, đã được Sở Y tế cấp phép hoạt động và cho phép tiến hành áp dụng các biện pháp phá thai an toàn.

    Với các thế mạnh như: Có đội ngũ y bác sĩ sản khoa chuyên môn cao, có bề dày kinh nghiệm chi phí 1 lần phá thai hợp lý, phòng phẫu thuật được vô trùng đạt chuẩn tránh viêm nhiễm cho chị em, bảo mật thông tin bệnh nhân an toàn…Đông Phương chính là điểm đến tin cậy cho chị em có ý định phá thai bằng phương pháp sinh non.

    Phá thai bằng phương pháp sinh non tại phòng khám phụ khoa Đông Phương ( 497 Quang Trung – Hà Đông – Hà Nội) có những ưu điểm nổi bật như:

    -Độ an toàn và chính xác cao, hạn chế thấp nhất các biến chứng như sót thai, sót nhau…

    – Ít đau, ít gây tổn thương và không làm ảnh hưởng tới tâm lý của chị em

    -Hạn chế tối đa các tổn thương đến buồng trứng và tử cung, giúp bảo vệ các cơ quan sinh sản cũng như chức năng của chúng.

    -Thời gian phá thai diễn ra nhanh chóng, sức khỏe thai phụ nhanh chóng phục hồi.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phá Thai An Toàn Bằng Phương Pháp Sinh Non
  • Phá Thai Bằng Phương Pháp Sinh Non Có Nguy Hiểm Không
  • Tìm Hiểu Phá Thai Bằng Phương Pháp Sinh Non Là Như Thế Nào?
  • Cách Làm Vệ Sinh Máy Lạnh Tại Nhà
  • Cách Vệ Sinh Máy Lạnh Đúng Cách Không Phải Ai Cũng Biết
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100