Vấn Đề 3: Trình Bày 2 Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư

--- Bài mới hơn ---

  • Top 6 Website So Sánh Giá Trực Tuyến Tốt Nhất Hiện Nay
  • Top 8 Website So Sánh Giá Trực Tuyến Tốt Nhất 2022
  • Hàm So Sánh Trong Excel, Sử Dụng Hàm Exact
  • So Sánh Tỷ Giá Usd (Đô La Mỹ) Tại Các Ngân Hàng Hôm Nay Từ 11 Ngân Hàng Lớn Trong Nước
  • So Sánh Giá Taxi Uber Và Grab Từ Hà Nội Đến Nội Bài, Ai Rẻ Hơn?
  • Vấn đề 3: Trình bày 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư (Tương đối và siêu ngạch)

    a) Quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng trong chủ nghĩa tư¬ bản

    – Mục đích: nhà tư bản ứng ra một số tiền mua tư liệu sản xuất và sức lao động không phải là để thu được giá trị sử dụng mà để thu giá trị, hơn nữa đó là tạo ra giá trị thặng dư.

    Hành vi của họ sẽ tuân theo công thức:

    Muốn thực hiện mục đích đó, họ phải tổ chức sản xuất ra những giá trị sử dụng đáp ứng nhu cầu của xã hội.

    Vậy quá trình sản xuất tư bản chủ nghãi là sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư. Bởi vì, giá trị sử dụng là nội dung vật chất của hàng hóa, là vật mang giá trị và giá trị thặng dư.

    – Đặc điểm:

    Quá trình nhà tư bản tiêu dùng hàng hóa sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra giá trị thặng dư có 2 đặc điểm:

    + Công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản giống như những yếu tố khác của sản xuất được nhà tư bản sử dụng sao cho có hiệu quả nhất.

    + Sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản chứ không thuộc về công nhân.

    Các phương pháp sản xuất Giá trị thặng dư

    a. Giá trị thặng dư tuyệt đối

    – Khái niệm: Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.

    – Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối:

    Bất cứ nhà tư bản nào cũng muốn kéo dài ngày công lao động của công nhân, nhưng việc kéo dài đó không thể vượt qua giới hạn sinh lý của công nhân. Bởi vì, người công nhân cần có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe. Do vậy, việc kéo dài thời gian lao động gặp sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhân đòi giảm giờ làm.

    + Khi độ dài ngày lao động không thể kéo dài thêm, vì lợi nhuận của mình, nhà tư bản lại tìm cách tăng cường độ lao động của người công nhân. Vì tăng cường độ lao động có nghĩa là chi phí nhiều sức lao động hơn trong một khoảng thời gian nhất định. Nên tăng cường độ lao động về thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động.

    Vì vậy, kéo dài thời gian lao động hay tăng cường độ lao động đều để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

    – Phương pháp này chủ yếu áp dụng trong thời kỳ đầu nền sản xuất tư bản, với việc phổ biến sử dụng lao động thủ công và năng suất lao động thấp.

    b. Giá trị thặng dư tương đối

    – Khái niệm: Giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao năng suất lao động trong ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt để hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên ngay trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động vẫn như cũ.

    – Điểm mấu chốt của phương pháp này là phải hạ thấp giá trị sức lao động. Điều đó đồng nghĩa với giảm giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho công nhân. Muốn vậy phải tăng năng suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để trang bị cho ngành sản xuất ra các tư liệu tiêu dùng.

    – Phương pháp này được sử dụng rộng rãi trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản phát triển. nhưng lúc đầu chỉ một số nhà tư bản làm được vì điều kiện khoa học, kỹ thuật chưa cho phép. Khi đó, các nhà tư bản này tăng được năng suất lao động nên thu được giá trị thặng dư siêu ngạch. Khi các nhà tư bản đều cải tiến kỹ thuật, giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ không còn. Tất cả sẽ thu được giá trị thặng dư tương đối. Do đó giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối.

    c. Giá trị thặng dư siêu ngạch

    C.Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. Bởi vì chúng đều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động, chỉ khác một chỗ một bên là tăng năng suất lao động cá biệt, một bên là tăng năng suất lao động xã hội.

    – Khái niệm: Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do áp dụng công nghệ mới sớm hơn các xí nghiệp khác làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.

    – Nhà tư bản chỉ phải bỏ ít chi phí hơn các nhà tư bản khác nhưng vẫn có thể bán được hàng hóa với giá ngang bằng với giá thị trường, từ đó thu được giá trị thặng dư cao hơn.

    Khi số đông các xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật công nghệ thì giá trị thặng dư siêu ngạch của doanh nghiệp đó sẽ không còn nữa.

    – Trong từng xí nghiệp, giá trị thặng dư siêu ngạch là một hiện tượng tạm thời, nhưng xét trên phạm vi toàn xã hội, nó lại thường xuyên tồn tại. Và nó chính là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản đổi mới công nghệ để tăng năng suât lao động cá biệt, đánh bại đối thủ cạnh tranh, thu được phần giá trị thặng dư lớn.

    * So sánh giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối:

    Bạn có thể xem lại toàn bộ câu hỏi và đáp án chi tiết của môn Chủ nghĩa Mac – Lênin tại: Ngân hàng đề thi môn chủ nghĩa Mac – Lenin

    --- Bài cũ hơn ---

  • Samsung Galaxy A11 A115, Bảng Giá 12/2020
  • Samsung Galaxy A7 (2018) 64Gb, Bảng Giá 12/2020
  • Sàn Gỗ Công Nghiệp Loại Nào Tốt Chất Lượng Nhất Hiện Nay
  • Báo Giá Sàn Gỗ Chuẩn 2022 ]Giá Sàn Gỗ Công Nghiệp Malaysia, Thái Lan]
  • Báo Giá 5+ Dòng Sàn Gỗ Công Nghiệp Tốt Hiện Nay
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Giá Trị Thặng Dư

    --- Bài mới hơn ---

  • Tài Liệu Lý Luận Của C.mác Về Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Dưới Chủ Nghĩa Tư Bản. Ý Nghĩa Thực Tiễn Đối Với Nước Ta Hiện Nay..pptx
  • Thặng Dư Là Gì? Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Trị Thặng Dư
  • Ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư?
  • Phương Pháp Giáo Dục Steam Cho Trẻ Mầm Non Bạn Nên Biết
  • Đột Phá Trong Ứng Dụng Phương Pháp Giáo Dục Steam Tại Trường Mầm Non Mai Dịch Chất Lượng Cao
  • PHÂN TÍCH HAI PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT RA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ. NÊU Ý NGHĨA THỰC TIỄN CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ?

    1. Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

    a. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

    Khái niệm: là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động cần thiết, trong khi năng suất lao động, giá trị sưc lao động và thời gian lao động cần thiết không thay đổi.

    VD: Ngày lao động là 8h, thời gian lao động tất yếu là 4h, thời gian lao động thặng dư là 4h, mỗi giờ công nhân tạo ra một giá trị mới là 10 đơn vị thì giá trị thặng dư tuyệt đối là 40 và tỷ suất giá trị thặng dư là m’=4/40×100%=100%.

    Nếu kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ nữa mộ điều kiện khác vẫn như cũ , thì giá trị thặng dư tuyệt đối tăng lên 60 và tỷ suất giá trị thặng dư cùng tăng lên thành m’=60/40×100%=150%

    Như vậy trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, ngày lao động kéo dài tức là thời gian lao động thặng dư tăng lên và kéo theo tỷ suất giá trị thặng dư cùng tăng theo. Bởi vậy mà các nhà tư bản đã tìm mọi cách kéo dài ngày lao động nhằm mục đích sản xuất ra ở mức độ tối đa nhất.

    Khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên. Phương pháp nâng cao trình độ bóc lột bằng cách kéo dài toàn bộ ngày lao động một cách tuyệt đối gọi là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

    Bóc lột giá trị thặng dư tuyệt đối gặp phải giới hạn về thể chất và tinh thần,đồng thời vấp phải sức đấu tranh càng mạnh me xcuar công nhân. Nha tư bản luôn cố gắng tìm mọi cách để kéo dài ngày làm việc của công nhân nhưng việc kéo dài ngày lao động không thể vượt qua giới hạn sinh lý ( vì công nhân còn phải có thời gian ngủ nghỉ ngơi giải trí để phục hồi sức khỏe) thì gặp phải sự phản kháng gay gắt của giai cấp công nhân đòi giảm giờ làm. Điều này cũng chính là hạn chế của việc kéo dài ngày lao động của các nhà tư bản.

    Khi độ dài ngày lao động không thay đổi, nhà tue bản sẽ nâng cao trình độ bóc lột bằng việc tăng cường độ lao động. Thực chất tăng cường độ lao động cũng giống như kéo dài ngày lao động. Vì vậy, kéo dài thời gian lao động, tăng cường độ lao động là để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

    b. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

    Khái niệm: là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu trong điều kiện độ dài của ngày lao động không đổi nhờ đó tăng thời gian lao động thặng dư.

    VD: ngày lao động là 8h và nó được chia thành 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao đọng thặng dư thì tỷ suất giá trị thặng dư là m’ = 4/4 x 100% =100%

    Gỉa định rằng ngày lao động không thay đổi nhưng bây giờ công nhân chỉ cần 3h lđ đã tạo ra được một lượng giá trị mới bằng với giá trị sức lao động của mình. Do đó tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi 3h gọi là thời gian lao động tất yếu và 3 thời gian là thời gian lao động thặng dư. Như vậy tỷ suất giá trị thặng dư đã tăng từ 100% lên 150%

    Phương pháp sản xuất giá trị tương đối là phương pháp nâng cao trình độ bóc lột, bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết để kéo dài thời gian lao động thặng dư trong điều kiện độ dài của ngày lao động vẫn như cũ gọi là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

    Muốn rút ngắn thời gian lao động tất yếu thì phải hạ thấp giá trị sức lao động bằng cách giảm giá trị tư liệu sinh hoạt và dịch vụ của người công nhân.

    Bởi vì việc kéo đai ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân. Mặt khác,khi sản xuất TBCN phát triển trên giai đoạn công nghiệp cơ khí kỹ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng thì các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động bóc lột giá trị thặng dư tương đối

    Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và của năng suất lao động XH dưới CNTB đã trải qua 3 giai đoạn hợp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí, đó cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư tương đối.

    Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư nói trên được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê. Dưới chủ nghĩa tư bản, việc áp dựng máy móc không phải là để giảm nhẹ cường độ lao động của công nhân mà trái lại tạo điều kiện để tăng cường độ lao động. Ngày nay việc tự đông hóa sản xuất làm cho cường độ lao động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới, sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp

    Qúa trình nghiên cứu 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư cho thấy khi gạt bỏ mục đích và tính chất bó clootj của chủ nghĩa tư bản thì sản xuất giá trị thặng dư chính là khoa học sử dụng lao động có hiệu quả nhất mà bất kỳ xã hội nào cũng cần phải quan tâm. Bởi vậy, các phương phápsản xuất giá trị thặng dư có thể vận dụng trong các doanh nghiệp ở nước ta nhằm kích thích sản xuất tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kĩ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lí, tiết kiệm chi phí sản xuất.

    Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta, việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi ra cho nhà hoạch định chính sách phương thức làm tăng của cải thúc đẩy phát triển kinh tế. Trong điều kiện điểm xuất phát của nước ta còn thấp,để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cần tận dụng triệt để các nguồn lực nhất là lao động và sản xuất kinh doanh. Về cơ bản lâu dài cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, đẩy manh công nghiệp hoa hiện đại hóa nền kinh tế quốc dân là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội.

    Quy luật giá trị thặng dư đã phát huy vai trò to lớn của nó đem lại những tiến bộ vượt bậc và thành tựu kinh tế cho CNTB. Nước ta nói riêng và các nước XHCN nói chung cần nỗ lực không ngừng trên con đường của mình để xây dựng XHCN trên thế giới. Riêng nước ta, đang trong giai đoạn độ lên CNXH từ chế độ PK bỏ qua giai đoạn TBCN với xuất phát điểm là một nền kinh tế lạc hậu chủ yếu là dựa vào nông nghiệp. Yêu cầu đặt ra là phải từng bước xây dựng cơ sở vật chất cho CNXH. Vì vậy, chúng ta phải học tập những thành tựu mà CNTB đã đjat được trong đó quan tâm đặc biệt đến quy luật kinh tế cơ bản của nó là giá trị thặng dư, suaqr chữa quan niệm sai lầm trước kia trong xây dựng kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Quá Trình Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối?
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Gttd
  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Của Mác
  • Thẩm Định Giá Bằng Phương Pháp So Sánh Theo Tiêu Chuẩn Thẩm Định Giá
  • Shadowing Technique: Luyện Nói Tiếng Anh Hiệu Quả Mà Không Cần Phải Đi Học Trung Tâm
  • Tất Tần Tật Về Phương Pháp Shadowing Giúp Luyện Nói Như Người Bản Ngữ
  • Xác Định Mục Tiêu Theo Nguyên Tắc Smart
  • Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư

    Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa. Vì vậy, các nhà tư bản dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư. Khái quát có hai phương pháp để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

    Mục đích của các nhà tư bản là sản xuất ra giá trị thặng dư tối đa. Vì vậy, các nhà tư bản dùng nhiều phương pháp để tăng tỷ suất và khối lượng giá trị thặng dư. Khái quát có hai phương pháp để đạt được mục đích đó là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

    a) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

    Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi kỹ thuật còn thấp, tiến bộ chậm chạp thì phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư là kéo dài ngày lao động của công nhân.

    Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư được thực hiện trên cơ sở kéo dài tuyệt đối ngày lao động của công nhân trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không đổi và giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tuyệt đối.

    Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư. Điều đó có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau đây:

    Do đó, tỷ suất giá trị thặng dư là:

    Giả sử nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ, trong khi thời gian tất yếu không thay đổi, vẫn là 4 Khi đó ngày lao động được chia như sau:

    Do đó, tỷ suất giá trị thặng dư là:

    Như vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, nên tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên. Trước đây, tỷ suất giá trị thặng dư là 100% thì bây giờ là 150%.

    Các nhà tư bản tìm mọi cách kéo dài ngày lao động, nhưng ngày lao động có những giới hạn nhất định. Giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định. Vì công nhân phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí để phục hồi sức khỏe. Việc kéo dài ngày lao động còn vấp phải sự phản kháng của giai cấp công nhân. Còn giới hạn dưới của ngày lao động không thể bằng thời gian lao động tất yếu, tức là thời gian lao động thặng dư bằng không. Như vậy, về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn thời gian lao động tất yếu, nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao động.

    Trong phạm vi giới hạn nói trên, độ dài của ngày lao động là một đại lượng không cố định và có nhiều mức khác nhau. Độ dài cụ thể của ngày lao động do cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản trên cơ sở tương quan lực lượng quyết định. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân đòi ngày lao động tiêu chuẩn, ngày làm 8 giờ đã kéo dài hàng thế kỷ.

    b) Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

    Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của nguời lao động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân. Mặt khác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp cơ khí, kỹ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội, tức là bóc lột giá trị thặng dư tương đối.

    Sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp sản xuất ra giá trị thặng dư được thực hiện bằng cách rút ngắn thời gian lao động tất yếu lại để kéo dài một cách tương ứng thời gian lao động thặng dư trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi. Giá trị thặng dư được sản xuất ra bằng phương pháp này được gọi là giá trị thặng dư tương đối.

    Giả sử ngày lao động là 8 giờ và nó được chia thành 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư. Điều đó có thể biểu diễn như sau:

    Do đó, tý suất giá trị thặng dư là:

    Giả định rằng ngày lao động không thay đổi, nhưng bây giờ công nhân chỉ cần 3 giờ lao động đã tạo ra được một lựơng giá trị mới bằng với giá trị sức lao động của mình. Do đó, tỷ lệ phân chia ngày lao động sẽ thay đổi: 3 giờ là thời gian lao động tất yếu và 5 giờ là thời gian lao động thặng dư. Điều đó được biểu diễn như sau:

    Do đó, bây giờ tỷ suất giá trị thặng dư sẽ là:

    Nếu trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là phương pháp chủ yếu, thì đến giai đoạn tiếp sau, khi kỹ thuật phát triển, sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp chủ yếu. Lịch sử phát triển của lực lượng sản xuất và của năng suất lao động xã hội dưới chủ nghĩa tư bản đã trải qua ba giai đoạn: hợp tác giản đơn, công trường thủ công và đại công nghiệp cơ khí, đó cũng là quá trình nâng cao trình độ bóc lột giá trị thặng dư tương đối.

    nói trên được các nhà tư bản sử dụng kết hợp với nhau để nâng cao trình độ bóc lột công nhân làm thuê trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản. Dưới chủ nghĩa tư bản, việc áp dụng máy móc không phải là để giảm nhẹ cường độ lao động của công nhân, mà trái lại tạo điều kiện để tăng cường độ lao động. Ngày nay, việc tự động hóa sản xuất làm cho cường độ lao động tăng lên, nhưng dưới hình thức mới, sự căng thẳng của thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp.

    * Giá trị thặng dư siêu ngạch

    Cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp của mình nhằm giám giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị xã hội của háng hóa, nhờ đó thu được giá trị thặng dư siêu ngạch.

    Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá trị thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá trị củ biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó.

    Xét từng trường hợp thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nhanh chóng xuất hiện rồi cũng lại nhanh chóng mất đi. Nhưng xét toàn bộ xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên. Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là khát vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng. Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tứơng của giá trị thặng dư tương đối, vì giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối dều dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động (mặc dù một bên là dựa vào tăng năng suất lao động cá biệt, còn một bên dựa vào tăng năng suất lao dộng xã hội).

    Sự khác nhau giữa giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối còn thể hiện ở chỗ giá trị thặng dư tương đối do toàn bộ giai cấp các nhà tư bản thu được. Xét về mặt đó, nó thể hiện quan hệ bóc lột của toàn bộ giai cấp các nhà tư bản đối với toàn bộ giai cấp công nhân làm thuê. Giá trị thặng dư siêu ngạch chỉ do một số nhà tư bản có kỹ thuật tiên tiến thu được. Xét về mặt đó, nó không chỉ biểu hiện mối quan hệ giữa tư bản và lao động làm thuê, mà còn trực tiếp biểu hiện mối quan hệ cạnh tranh giữa các nhà tư bản.

    Từ đó, ta thấy rằng giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực trực tiếp, mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, hoàn thiện tổ chức lao động và tổ chức sản xuất để tăng năng suất lao động, giảm giá trị của hàng hóa.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Tử Cung
  • Phương Pháp Rfa Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Có Hiệu Quả?
  • Phương Pháp Rfa Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Có Thật Sự Hoàn Hảo?
  • Tiêu Chuẩn Ngành 22Tcn 346:2006 Về Quy Trình Thí Nghiệm Xác Định Độ Chặt Nền, Móng Đường Bằng Phễu Rót Cát Do Bộ Giao Thông Vận Tải Ban Hành
  • Lý Thuyết Ramzi Có Đáng Tin Cậy?
  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Của Mác

    --- Bài mới hơn ---

  • Thẩm Định Giá Bằng Phương Pháp So Sánh Theo Tiêu Chuẩn Thẩm Định Giá
  • Shadowing Technique: Luyện Nói Tiếng Anh Hiệu Quả Mà Không Cần Phải Đi Học Trung Tâm
  • Tất Tần Tật Về Phương Pháp Shadowing Giúp Luyện Nói Như Người Bản Ngữ
  • Xác Định Mục Tiêu Theo Nguyên Tắc Smart
  • Sơ Lược Về Phân Tích Swot
  • LỜI NÓI ĐẦU Trước khi đưa ra một nền sản xuất nào đó người sản xuất phải nghiên cứu sản xuất ra hàng hoá đó có giá trị, bên cạnh đó là có gía trị thặng dư. Vì sản xuất giá trị thặng dư là quy luật biểu hiện bản chất của phương thức sản xuất, phản ánh mục đích và phương hướng phát triển của nền sản xuất. Bất kỳ một nền sản xuất nào muốn phát triển được, muốn đáp ứng nhu cầu của con người về điều kiện sống đều phải tái sản xuất mở rộng và phải tạo ra được nhiều sản phẩm thặng dư. Trong mọi xã hội, sản phẩm thặng dư bán trên thị trường đều có giá trị nhưng chỉ có ở nền sản xuất tư bản chủ nghĩa thì giá trị của sản phẩm thặng dư mới là giá trị thặng dư. Do đó, sản xuất giá trị thặng dư là quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Cho nên để nghiên cứu giá trị thặng dư ta chỉ nghiên cứu nền sản xuất tư bản chủ nghĩa C.Mác đã nghiên cứu khái quát đưa ra cơ sở giá trị thặng dư. Ông là người đầu tiên phát hiện tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá và nghiên cứu sự phát triển của các hình thái giá trị. Đó là cơ sở,là chìa khoá để xây dựng và hoàn chỉnh lý luận về hàng hoá, giá trị và tiền tệ, giải thích một cách khoa học, triệt để để xây dựng lý luận về hàng hoá sức lao động. Đây là cơ sở để xây dựng học thuyết giá trị thặng dư, là thàmh tựu vĩ đại của kinh tế học mác xít. Trên cơ sở đó, ông phát hiện toàn diện hệ thống phạm trù quy luật của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và các mâu thuẫn nội tại của nó. Ông hoàn chỉnh lý luận về tái sản xuất tư bản xã hội (chia tổng sản phẩm xã hội thành ba phần tư bản bất biến, tư bản khả biến, giá trị thặng dư, chia nền sản xuất xã hội thành hai khu vực: sản xuất tư liệu sản xuất và sản xuất vật phẩm tiêu dùng, mối liên hệ trao đổi giữa hai khu vực về giá trị và hiện vật) và nhiều vấn đề khác. Nhờ đó mà C.Mác đã đưa kinh tế chính trị tới đỉnh cao khoa học. I. MÁY MÓC VÀ LAO ĐỘNG 1. Máy móc đối với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Phải chăng máy móc tạo ra giá trị thặng dư?. C.Mác đã chỉ ra rằng giá trị của hàng hoá trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa bao gồm giá trị của những tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng chuyển sang sản phẩm mới c và lượng giá trị mới do lao động sống thêm vào trong đó để bù lại tư bản khả biến đã được dùng để mua sức lao động (ngang với giá trị sức lao động và m là giá trị thặng dư dôi ra ngoài giá trị sức lao động). Như vậy, nguồn gốc của giá trị thặng dư chỉ là lao động sống. Những người phản bác học thuyết giá trị thặng dư cho rằng điều đó chỉ đúng trong thời C.Mác còn sống khi lao động thủ công chiếm ưu thế, còn ngày nay trong thời đại cách mạng khoa học công nghệ, máy móc là nguồn gốc chủ yếu của giá trị thặng dư Sở dĩ có nhận thức sai lầm ấy là do chưa phân biệt được vai trò của máy móc với tư cách là nhân tố của quá trình lao động và vai trò của máy móc với tư cách là nhân tố của quá trình làm tăng gía trị. Hàng hoá là một vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người và đi vào quá trình tiêu dùng thông qua mua- bán. Vì vậy, không phải bất cứ một vật phẩm nào cũng là hàng hoá. Hàng hoá có hai thuộc tính là giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. a. Giá trị sử dụng của hàng hoá: Là công dụng của vật phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con người (như gạo để ăn, vải để mặc, xe đạp để đi). Giá trị sử dụng của hàng hoá do thuộc tính tự nhiên của hàng hoá quy định. Vì vậy, nó là một phạm trù vĩnh viễn. Giá trị sử dụng của hàng hoá có đặc điểm là giá trị sử dụng không phải cho con người sản xuất trực tiếp mà là cho người khác, cho xã hội. Giá trị sử dụng đến tay người khác, người tiêu dùng phải thông qua mua bán. Trong kinh tế hàng hoá, giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi. b. Giá trị hàng hoá Muốn hiểu giá trị ta phải đi từ giá trị trao đổi. Giá trị trao đổi biểu hiện là quan hệ tỷ lệ về số lượng trao đổi lẫn nhau giữa các giá trị sử dụng khác nhau. Hai hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau có thể trao đổi được với nhau theo một tỷ lệ nhất định vì chúng đều là sản phẩm của lao động, có cơ sở chung là sự hao phí sức lao động của con người. Lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá là giá trị của hàng hoá. Như vậy, giá trị là cơ sở của giá trị trao đổi, còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị. Giá trị của hàng hoá biểu hiện mối quan hệ sản xuất giữa những người sản xuất hàng hoá và là một phạm trù lịch sử, chỉ tồn tại trong kinh tế hàng hoá. Lượng giá trị của hàng hoá được xác định như thế nào? Nếu giá trị hàng hoá là lao động xã hội kết tinh trong hàng hoá thì lượng giá trị của hàng hoá là số lượng lao động xã hội hao phí để sản xuất hàng hoá (gồm lao động sống và lao động vật hoá thể hiện ở tư liệu sản xuất) Vì lao động sản xuất hàng hoá có tính hai mặt : lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có một mục đích riêng, phương pháp hoạt động riêng, công cụ lao động riêng, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng. Thí dụ: lao động của người thợ xây, thợ mộc, thợ may là những lao động cụ thể. Kết quả của lao động cụ thể là tạo ra một công dụng nhất định, tức là tạo ra giá trị sử dụng của hàng hoá. Lao động trừu tượng: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá không kể đến hình thức cụ thể của nó. Các loại lao động cụ thể có điểm chung giống nhau là sự tiêu hao cơ bắp, thần kinh sau một quá trình lao động. Đó chính là lao động trừu tượng, nó tạo ra giá trị của hàng hoá. Tất nhiên, không phải có hai thứ lao động kết tinh trong hàng hoá mà chỉ là lao động của người sản xuất hàng hoá có tính chất hai mặt mà thôi. Trong nền sản xuất hàng hoá giản đơn, tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hoá là sự biểu hiện của mâu thuẫn giữa lao động tư nhân và lao động xã hội của những người sản xuất hàng hoá. Đó chính là mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn. Mâu thuẫn cơ bản của sản xuất hàng hoá giản đơn còn biểu hiện ở lao động cụ thể với lao động trừu tượng, ở giá trị sử dụng với giá trị hàng hoá. Bất cứ quá trình lao động nào cũng là sự kết hợp ba nhân tố chủ yếu: lao động có mục đích của con người, đối tượng lao động, tư liệu lao động (quan trọng hơn cả là công cụ lao động, nhất là công cụ cơ khí hay máy móc). Sử dụng máy móc càng hiện đại thì sức sản xuất của lao động càng cao, càng làm ra nhiều giá trị sử dụng (nhiều của cải) trong một đơn vị thời gian. Nhưng khi xét quá trình tạo ra và làm tăng giá trị thì những hàng hoá tham gia vào đây không còn được xét với tư cách là những nhân tố vật thế nữa, mà chỉ được coi là những lượng lao động đã vật hoá nhất định. Và dù máy móc (kể cả rôbớt) quan trọng đến múc nào cũng không thể tự nó chuyển giá trị vào sản phẩm chứ đừng nói đến việc tạo thêm giá trị. Chính lao động sống đã “cải tử hoàn sinh” cho các tư liệu sản xuất, trong đó có máy móc, chuyển giá trị của chúng sang sản phẩm mới theo mức độ đã tiêu dùng trong quá trình lao động sản xuất. Nhưng một tư liệu sản xuất không bao giờ chuyển vào sản phẩm một giá trị nhiều hơn giá trị mà nó đã bị tiêu hao trong quá trình sản xuất. C.Mác ví máy móc, thiết bị trong quá trình làm tăng giá trị giống như bình cổ cong trong quá trình hoá học. Không có bình cổ cong thì không thể diễn ra các phản ứng hoá học, nhưng bản thân bình cổ cong chỉ là điều kiện cho phản ứng hoá học diễn ra, chứ không trực tiếp tham gia vào phản ứng ấy. Cũng như vậy, thiết bị, máy móc chỉ tạo điều kiện cho việc làm tăng giá trị hàng hoá chứ bản thân nó không trực tiếp tham gia vào việc tăng giá trị. Ở đây, một vấn đế được đặt ra là, tại sao thông thường những người sử dụng máy móc thiết bị tiên tiến lại thu được lợi nhuận siêu ngạch? Đó là do công nghệ tiên tiến làm tăng sức sản xuất của lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hoá xuống thấp hơn giá trị thị trường (giá trị xã hội), nhưng trên thị trường, thông qua cạnh tranh lại bán theo giá trị thị trường, nên thu được lợi nhuận siêu ngạch. Xí nghiệp A có trình độ kỹ thuật cao nhất và có khối lượng sản phẩm lớn nhất trong ngành, có gía trị cá biệt của sản phẩm thấp hơn giá trị thị trường, nên thu được lợi nhuận siêu ngạch. Như vậy, việc thu lợi nhuận siêu ngạch diễn ra qua cạnh tranh giữa những người sản xuất hàng hoá trên thị trường chứ không phải trong sản xuất. Cơ chế thị trường khắc nghiệt dựa trên nguyên tắc ” mạnh được yếu thua”, “cá lớn nuốt cá bé”. Kẻ thắng nhận được phần thưởng là lợi nhuận siêu ngạch, kẻ thua bị trừng phạt, không thu lại đủ số lao động (sống và quá khứ) đã hao phí. Nhưng giá trị của phần thưởng (+28) vừa đúng bằng khoản ” cúp phạt” nghĩa là không vượt ra ngoài tổng số gía trị và gía trị thặng dư đã được tạp ra trong lĩnh vực sản xuất. Nếu thiếu sức trừu tượng hóa, chỉ quan sát các biểu hiện bên ngoài không đi sâu vào bản chất của hiện tượng thì dễ lẫn lộn việc phân phối giá trị thặng dư với việc sản xuất ra giá trị thặng dư. Từ đó tất yếu sẽ hiểu lầm rằng, máy móc là nguồn gốc sinh ra giá trị siêu ngạch, mà không thấy rằng máy móc chỉ là điều kiện để thu được lợi nhuận siêu ngạch thông qua cạnh tranh. Thực chất vấn đề sẽ sáng tỏ hơn khi chỉ những xí nghiệp đi trước trong việc ứng dụng công nghệ tiên tiến mới thu được lợi nhuận siêu ngạch. Khi công nghệ đó trở thành phổ biến, các đối thủ cạnh tranh đã đuổi kịp trình độ tiên tiến thì giá trị thị trường sẽ hạ xuống, hàng hoá rẻ đi, những người tiêu dùng được hưởng lợi và không có người sản xuất nào thu được lợi nhuận siêu ngạch nữa. Nhưng động cơ kiếm lợi nhuận siêu ngạch lại kích thích việc ứng dụng công nghệ mới và một hiệp mới của cuộc cạnh tranh lại tiếp diễn. Nhờ đó, kỹ thuật tiến bộ không ngừng. Mặt khác, cạnh tranh dưới tác động của tiến bộ kỹ thuật tất yếu dẫn đén phân hoá giàu nghèo. Muốn thu hẹp khoảng cách giàu nghèo nhà nước phải thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo, điều tiết thu nhập của dân cư và hỗ trợ những người nghèo. Cũng cần lưu ý rằng máy móc là phương tiện giảm nhẹ nỗi cực nhọc của người lao động, tiết kiệm lao động sống nhưng không phải bao giờ máy móc cũng là điều kiện để thu được nhiều lợi nhuận hơn là sử dụng lao động thủ công. Khi nói về giới hạn sử dụng máy móc trong chủ nghĩa tư bản, C.Mác đã chỉ ra rằng nhà tư bản “không trả cho lao động đã sử dụng, mà chỉ trả cho giá trị sức lao động đã sử dụng. Cho nên, việc sử dụng máy móc bị giới hạn bởi số chênh lệch giữa giá trị của chiếc mày và giá trị của sức lao động bị máy đó thay thế. Do đó, tiền công thấp sẽ ngăn cản việc sử dụng máy móc, bởi vì lợi nhuận bắt nguồn không phải từ việc giảm bớt lao động được trả công. C.Mác đã dẫn ra sự kiện người Mỹ chế tạo ra máy đập đá, nhưng người Anh không sử dụng máy móc đó vì sử dụng “kẻ khốn khó” làm công việc ấy sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn. Việc nhận thức máy móc chỉ chuyển giá trị sang sản phẩm mới theo mức độ khấu hao chứ không làm tăng giá trị, không những giúp hiểu đúng nguồn gốc của giá trị thặng dư mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc quản lý kinh tế. Trong tầm vĩ mô phải tìm mọi cách khấu hao máy móc càng nhanh càng tốt, nhằm tránh hao mòn vô hình và hao mòn hứu hình do bảo quản kém hoặc sử dụng không hợp lý. Trên tầm vĩ mô, nhà nước cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp khấu hao nhanh như một số nước tư bản chủ nghĩa phát triển đã làm 2. Lao động với nền sản xuất tư bản chủ nghĩa Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người dùng để sản xuất ra của cải vật chất. Trong bất cứ chế độ xã hội nào, sức lao động cũng là điều kiện cơ bản của sản xuất. Nhưng sức lao động chỉ biến thành hàng hoá trong những điều kiện lịch sử nhất định. Một là, người lao động phải là người có tự do về thân thể, do đó được tự do sử dụng sức lao động của mình, kể cả tự do bán sức lao động của mình cho người khác. Hai là, người lao động hoàn toàn mất hết mọi tư liệu sản xuất, chỉ còn lại sức lao động là tài sản duy nhất. Để khỏi chết đói, họ không có con đường nào khác là phải mang bán thứ tài sản duy nhất đó. Hai điều kiện đó vạch ra khả năng và tính tất yếu của sự chyển biến sức lao động thành hàng hoá. Hàng hoá sức lao động ra đời đánh dấu một giai đoạn mới trong sự phát triển của xã hội- giai đoạn mà sản xuất hàng hoá phát triển cao nhất và chiếm địa vị thống trị trong nền kinh tế, đó là sản xuất tư bản chủ nghĩa. Do đó, hàng hoá sức lao động là một phạm trù lịch sử đặc thù của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, nó sinh ra và mất đi cùng với phương thức sản xuất đó. Cũng như mọi hàng hoá khác, hàng hoá sức lao động có hai thuộc tính: giá trị và giá trị sử dụng. a. Giá trị của hàng hoá sức lao động Là thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất sức lao động. Nói cách khác cụ thể thì giá trị của hàng hoá sức lao động bằng giá trị những tư liệu sinh hoạt cần thiết để nuôi sống người công nhân và gia đình họ, và những chi phí để đào tạo người công nhân có một trình độ chuyên môn nhất định phù hợp với yêu cầu của sản xuất tư bản chủ nghĩa. Giá trị sức lao động còn có tính lịch sử và xã hội, do đó tuỳ theo điều kiện cụ thể từng nước và từng thời kỳ mà giá trị sức lao động có thể cao hay thấp khác nhau. b. Giá trị sử dụng của hàng hoá sức lao động: Là ở chỗ nó thoả mãn nhu cầu nào đó cuat người mua. Nhưng khác với hàng hoá thông thường khác, hàng hoá sức lao động có một giá trị sử dụng đặc biệt là khi đem tiêu dùng thì nó tạo ra một giá trị lớn hơn giá trị bản thân nó. Phần giá trị lớn hơn đó chính là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt. Quá trình tiêu dùng sức lao động là quá trình lao động diễn ra trong lĩnh vực sản xuất. Chính trong lĩnh vực này, đồng thời với việc tạo ra những giá trị sử dụng thì giá trị và giá trị thặng dư cũng được tạo ra. 3. Phải chăng C.Mác quy công trực tiếp tạo ra giá trị cho lao động thể lực Có người cho rằng “C.Mác và các nhà khoa học tiền bối và cùng thời với C.Mác trong thời đại máy hơi nước, máy dệt. . . đều quan niệm của cải được lao động sáng tạo ra là của cải dạng vật thế. Từ đó quy công trực tiếp tạo ra gía trị cho lao động thực thể” và chính C.Mác đã nhấn mạnh của cải vật thể và lao động thực thể đồng thời đã có nêu luận điểm về của cải tinh thần và lao động khoa học. Sự kế tục, sáng tạo phải nối tiếp những gợi ý. Luận điểm trên hoàn toàn sai lầm, do không nắm được phương pháp trình bày của C.Mác. Khi nói giá trị hàng hoá được đo bắng thời gian lao động trung bình cần thiết hay thời gian lao động xã hội cần thiết. Tức là thời gian đòi hỏi để sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó trong những điều kiện sản xuất bình thường của xã hội với một trình độ thành thạo trung bình và một cường độ lao động trung bình trong xã hội đó. C.Mác đồng thời cũng đề cập đến lao động phức tạp coi lao động phức tạp là bội số của lao động giản đơn. Nói đúng hơn là lao động giản đơn nhân bội lên , thành thử một lao động phức tạp nhỏ hơn thì tương đương với một lượng lao động giản đơn lớn hơn. Nhưng do áp dụng phương pháp trừu tượng hoá khoa học, C.Mác đã giả định “từ nay về sau, để cho sự trình bày được đơn giản, chúng tôi sẽ trực tiếp coi mọi loại sức lao động như là một sức lao động giản đơn. Điều đó, sẽ tránh cho chúng ta khỏi phải quy lao động phức tạp ra lao động giản đơn trong từng trường hợp một”. Những ai vô tình hay hữu ý mà quên mất giả định trên sẽ cho rằng C.Mác chỉ quy công tạo ra giá trị cho lao động đơn giản cho lao động thể lực. II. SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ Quá trình lao động trên cơ sở tư bản chủ nghĩa, trước hết,vẫn là quá trình kết hợp sức lao động với tư liệu sản xuất để tạo ra giá trị sử dụng. Nhưng trong điều kiện chủ nghĩa tư bản, nhà tư bản chiếm hữu tư bản sản xuất,bóc lột công nhân làm thuê,quá trình lao động có đặc điểm là: công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản, sản phẩm do công nhân làm ra thuộc về nhà tư bản. Quá trình lao động trong chủ nghĩa tư bản còn là quá trình nhà tư bản sử dụng những hàng hoá tư liệu sản xuất và sức lao động đã mua để tạo ra giá trị thặng dư.Do đó,sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa sản xuất giá trị sử dụng và sản xuất giá trị thặng dư. Mác nói: “với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình tạo ra giá trị, thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất hàng hoá; với tư cách là sự thống nhất giữa quá trình lao động và quá trình làm tăng giá trị thì quá trình sản xuất là một quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa,là hình thái tư bản chủ nghĩa của nền sản xuất hàng hoá”. Quá trình sản xuất giá trị thăng dư đã diễn ra như:giả sử nhà tư bản mua sức lao động của công nhân theo đúng giá trị là 3 đồng đẻ dùng trong 10 giờ,và cứ 1 giờ lao động,người công nhân tạo ra một lượng giá trị mới là 0,6 đồng. Giả sử với năng xuất lao động nhất định, trong 5 giờ người công nhân có thể chuyển một số tư liệu sản xuất co trị là 20 đồng thành hàng hoá mới. Kết quả sẽ là:sau 5 giờ laođộng ,người công nhân đã biến tư liệu sản xuất thành sản phẩm mới và sản phẩm mới ấy chứa đựn một lượng giá trị là 23 đồng,trong đó gồm có 20 đồng giá trị tư liệu giá trị sản xuất chuyển sang và 3 đồng giá trị mới sáng tạo ra(0,60´5). Như vậy là sau 5 giờ lao động, đồng thời với việc tạo ra một số sản phẩm mới cho nhà tư bản, người công nhân còn tạo ra một lượng giá trị mới ngang bằng giá trị sức lao động của mình. Đến đây, nếu người công nhân được nghỉ thì anh ta không bị bóc lột. Nhưng như vậy thì nhà tư bản sẽ không đạt được mục đích của sản xuất. Nhà tư bản chi ra 23 đồng không phải để thu về 23 đồng,mà để thu một số tiền lớn hơn. Vả lại, nhà tư bản mua sức lao động của công nhân cốt để dùng trong 10 giờ, chứ không phải để dùng trong 5 giờ.Về mặt pháp lý mà nói, điều này đã có sự thoả thuận trước giữa kẻ mua và người bán dưới áp lực của quy luật cung cầu ở thị trường lao động. Như vậy, người công nhân bắt buộc phải lao động thêm 5 giờ nữa. Lần này, nhà tư bản chỉ cần chi ra một số tư liệu sản xuất có giá trị là 20 đồng, chứ không phải chi thêm tiền mua sức lao động. Sau 5 giờ lao động,đồng thới với việc chuyển số tư liệu sản xuất có giá trị 20 đồng thành sản phẩm mới, người công nhân vẫn sáng tạo ra một lượng giá trị mới là 3 đồng. Tổng cộng trong 10 giờ sản xuất, nhà tư bản chi 43 đồng (gồm 40 đồng về tư liệu sản xuất và 3 đồng mua sức lao động), nhưng lại thu về một số sản phẩm mới có giá trị là 46 đồng. Số tiền thu về lớn hơn số vốn ứng trước là 3 đồng. Hắn bỏ túi 3 đồng dôi ra đó mà không phải trả một vật ngang giá nào. Ba đồng đó là giá trị thặng dư. Như vậy là trong 10 giờ lao động, người công nhân chỉ dùng một phần thời gian để bù đắp lại giá trị sức lao động, còn một phần là thời gian lao động không còn cho nhà tư bản. Phần thời gian để người công nhân tái sản xuất giá trị sức lao động, tức là giá trị những tư liệu cần thiết cho người công nhân, là thời gian lao động cần thiết , còn phầnn thời gian dùng để sản xuất giá tri cho nhà tư bản,là thời gian lao động thặng dư. Trong ví dụ nói trên, ngoài 5 giờ lao động cần thiết để sản xuất một lượng giá trị ngang bằng giá trị sức lao động của mình (3 đồng), người công nhân còn phải thêm vào đó 5 giờ lao động thặng dư để sản xuất giá trị thặng dư cho nhà tư bản (3 đồng ). Như vậy, giá trị thặng dư là giá trị do lao động của công nhânlàm thuê sáng tạo ra thêm ngoài giá trị sức lao động của họ và bị nhà tư bản chiếm không, là kết quả của lao động không công của người công nhân . Từ đó, chúng ta thấy rằng tư bản không phải là một số tiền, cũng không phải là tư liệu sản xuất mà là quan hệ sản xuất, quan hệ xã hội nhất định trong lịch sử. Nó thể hiện quan hệ bóc lột của nhà tư bản đối với công nhân. Trong quan hệ đó, nhà tư bản nắm giữ toàn bộ công cụ và tư liệu sản xuất cũng như các tư liệu sinh hoạt chủ yếu, còn giai cấp công nhân – lực lượng sản xuất chính của xã hội, người trực tiếp làm ra của cải vật chất nuôi sống xã hội và làm giầu cho giai cấp tư sản thì chỉ có ” hai bàn tay trắng”, buộc phải bán sức lao động cho nhà tư bản để sống. Do đó có thể định nghiã nhà tư bản một cách chính xác hơn: tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công nhân làm thuê. III. PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ Có rất nhiều biện pháp và hình thức để sản xuất giá trị thặng dư. C.Mác đã khái quát thành hai phương pháp chủ yếu là phương ph

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư
  • Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Tử Cung
  • Phương Pháp Rfa Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Có Hiệu Quả?
  • Phương Pháp Rfa Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Có Thật Sự Hoàn Hảo?
  • Tiêu Chuẩn Ngành 22Tcn 346:2006 Về Quy Trình Thí Nghiệm Xác Định Độ Chặt Nền, Móng Đường Bằng Phễu Rót Cát Do Bộ Giao Thông Vận Tải Ban Hành
  • Phân Tích Quá Trình Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối?

    --- Bài mới hơn ---

  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Giá Trị Thặng Dư
  • Tài Liệu Lý Luận Của C.mác Về Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Dưới Chủ Nghĩa Tư Bản. Ý Nghĩa Thực Tiễn Đối Với Nước Ta Hiện Nay..pptx
  • Thặng Dư Là Gì? Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Trị Thặng Dư
  • Ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư?
  • Phương Pháp Giáo Dục Steam Cho Trẻ Mầm Non Bạn Nên Biết
  • Trên thực tế nhà tư bản luôn luôn tìm cách nâng cao trình độ bóc lột để thu được thật nhiều giá trị thặng dư. Trong giai đoạn phát triển đầu tiên của sản xuất tư bản chủ nghĩa, khi kỹ thuật còn thấp, tiến bộ chậm chạp thì phương pháp chủ yếu để tăng giá trị thặng dư là kéo dài ngày lao động của công nhân.

    – Khái niệm: Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư được tạo ra do kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động xã hội, trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.

    Ví dụ: Giả sử ngày lao động là 8 giò, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và 4 giờ là thời gian lao động thặng dư. Điều đó có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau đây:

    Nếu nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ, trong khi thời gian tất yếu không thay đổi, vẫn là 4 giờ. Khi đó ngày lao dộng được chia như sau:

    Như vậy, khi kéo dài tuyệt đối ngày lao động trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không thay đổi, thì thời gian lao động thặng dư tăng lên, nên tỷ suất giá trị thặng dư tăng lên. Trước đây tỷ suất giá trị thặng dư là 100%, thì bây giờ là 150%.

    – Xu hướng của các nhà tư bản là ra sức kéo dài ngày lao động đến cực độ. Nếu có thể thì họ bắt công nhân làm 24 giờ một ngày. Họ đã bỏ tiền ra mua sức lao động trong một ngày thì họ muốn sử dụng hàng hoá mua được suốt cả ngày đó. Nhưng ngày lao động không thể kéo dài quá 24 giờ và không có một ai có thể làm việc được suốt 24 giờ. Vì người công nhân cần phải có thời gian ăn, ngủ, nghỉ ngơi, giải trí…. để phục hồi sức khoẻ. Việc kéo dài ngày lao động còn vấp phải sự phản kháng của giai cấp công nhân.

    – Giai cấp tư sản muốn kéo dài ngày lao động, còn giai cấp công nhân lại muốn rút ngắn thời gian lao động. Do đó, độ dài ngày lao động có thể co giãn và việc xác định độ dài ấy tuỳ thuộc vào so sánh lực lượng trong cuộc đấu tranh giữa hai giai cấp nói trên. Điểm dừng của độ dài ngày lao động là điểm mà ở đó lợi ích kinh tế của nhà tư bản và lợi ích kinh tế của người lao động được thực hiện theo một thoả hiệp tạm thời.

    – Khi độ dài ngày lao động đã được xác định, nhà tư bản lại tìm cách tăng cường độ lao động của công nhân. Tăng cường độ lao động có nghĩa là chi phí nhiều sức lao dộng hơn trong một khoảng thời gian nhất định, nên vẻ thực chất cũng tương tự như kéo dài ngày lao động. Vì vậy, kéo dài thời gian lao động và tăng cường độ lao động là hai biện pháp để sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Gttd
  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Gttd
  • Phân Tích Quá Trình Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối?
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Giá Trị Thặng Dư
  • Nếu bạn thường xuyên đọc hoặc xem tin tức về kinh tế sẽ thấy người ta nhắc nhiều đến giá trị thặng dư. Chắc chắn đối với nhiều người, giá trị thặng dư sẽ là một điều gì đó rất trừu tượng và khó hiểu. Đại đa số đều không biết giá trị thặng dư là gì.

    Học thuyết giá trị thặng dư được xem là phát minh quan trọng chỉ đứng thứ 2 sau biện luận duy vật lịch sử của Mác. Vậy giá trị thặng dư là gì? Về cơ bản giá trị thặng dư chính là sự phản ánh quy luật kinh tế cơ bản của chủ nghĩa tư bản. Việc sinh ra và chiếm đoạt giá trị thặng dư phản ánh bản chất quan hệ trong sản xuất tư bản chủ nghĩa (quan hệ bóc lột của nhà tư bản với người lao động làm thuê).

    Giá trị thặng dư là gì?

    Giá trị thặng dư chính là giá trị do công nhân làm thuê lao động sản sinh ra vượt quá giá trị sức lao động của họ nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt hết. Đối với hoạt động sản xuất, nhà tư bản phải chi vào tư liệu sản xuất và mua sức lao động. Mục đích khi chi tiền là nhằm thu được một số tiền dôi ra ngoài số tiền mà họ đã chi trong quá trình sản xuất. Số tiền dôi ra chính là giá trị thặng dư.

    Như vậy phần giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm hết được gọi là giá trị thặng dư.

    Giá trị thặng dư được Mác nghiên cứu dưới góc độ hao phí lao động. Trong đó công nhân làm thuê sản xuất nhiều giá trị hơn chi phí được trả cho họ. Đây là yếu tố được quy định bởi tiền lương tối thiểu chỉ đủ cho họ sinh sống với tư cách người lao động. Đối với Mác sự bóc lột sức lao động chỉ có thể được loại bỏ khi nhà tư bản trả cho họ toàn bộ giá trị mới được tạo ra.

    Hiện có 2 phương pháp chủ yếu để thu được giá trị thặng dư:

    • Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.
    • Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chính là kéo dài thời gian lao động thặng dư trong khi năng suất, giá trị và thời gian lao động tất yếu không đổi. Cơ sở chung của chế độ tư bản chủ nghĩa chính là sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối.

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối được sử dụng phổ biến trong giai đoạn đầu chủ nghĩa tư bản. Đây là thời điểm lao động còn ở trình độ thủ công, năng suất lao động còn thấp. Lúc này bằng lòng tham vô hạn, các nhà tư bản giở mọi thủ đoạn kéo dài ngày lao động nhằm nâng cao khả năng bóc lột sức lao động công nhân làm thuê.

    Tuy nhiên sức lực con người có hạn. Hơn nữa vì công nhân đấu tranh quyết liệt đòi rút ngắn ngày lao động nên các nhà tư bản không thể kéo dài ngày lao động vô thời hạn. Nhưng ngày lao động cũng không được rút ngắn đến mức bằng thời gian lao động tất yếu.

    Một hình thức khác của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối chính là tăng cường độ lao động. Bởi vì tăng cường độ lao động cũng tương tự việc kéo dài thời gian lao động trong ngày nhưng thời gian lao động cần thiết không đổi.

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

    Khi độ dài ngày lao động không đổi, thời gian lao động cần thiết giảm sẽ tăng thời gian lao động thặng dư (thời gian sản xuất giá trị thặng dư tương đối cho nhà tư bản).

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động. Từ đó tăng thời gian lao động thặng dư lên trong điều kiện ngày lao động và cường độ lao động không đổi.

    Giá trị thặng dư siêu ngạch

    Giá trị thặng dư siêu ngạch chính là phần giá trị thặng dư thu được trội hơn giá trị thặng dư bình thường của xã hội. Nếu xét từng nhà tư bản xuất thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời. Tuy nhiên xét về toàn xã hội tư bản thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên. Do đó giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực thúc đẩy mạnh nhất cho các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động.

    Cả giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch đều dựa vào cơ sở tăng năng suất lao động. Tuy nhiên cả 2 khác nhau ở chỗ giá trị thặng dư tương đối dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội. Trong khi giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên việc tăng năng suất lao động cá biệt.

    Sau khi tìm hiểu giá trị thặng dư là gì (bỏ qua yếu tố bóc lột) bạn sẽ thấy cả 2 phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và tuyệt đối đều có thể áp dụng vào nền kinh tế. Cả 2 đều thúc đẩy nhằm tạo ra nhiều sản phẩm thặng dư cho xã hội. Đây chính là tiền đề để tái sản xuất mở rộng, phát triển quy mô và tăng trưởng kinh tế.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng
  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 Doc
  • Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Có Sự Khác Biệt Căn Bản Gì?
  • Phương Pháp Điều Trị Viêm Lộ Tuyến Cổ Tử Cung Hiệu Quả
  • Ý Nghĩa Của Việc Nghiên Cứu Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Giáo Dục Steam Cho Trẻ Mầm Non Bạn Nên Biết
  • Đột Phá Trong Ứng Dụng Phương Pháp Giáo Dục Steam Tại Trường Mầm Non Mai Dịch Chất Lượng Cao
  • Cách Học Steam Cho Trẻ Mầm Non
  • Steam Là Gì? Sự Khác Nhau Giữa Phương Pháp Học Stem Và Steam
  • Phương Pháp Giáo Dục Stem Và Những Lưu Ý Phụ Huynh Cần Biết
  • Trong Học thuyết về giá trị thặng dư, C. Mác đã có một nhận định có tính chất dự báo khoa học trong xã hội hiện nay, đó là: “Mục đích thường xuyên của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là làm thế nào để với một tư bản ứng trước tối thiểu, sản xuất ra một giá trị thặng dư hay sản phẩm thặng dư tối đa; và trong chừng mực mà kết quả ấy không phải đạt được bằng lao động quá sức của những người công nhân, thì đó là một khuynh hướng của tư bản, thể hiện ra trong cái nguyện vọng muốn sản xuất ra một sản phẩm nhất định với những chi phí ít nhất về sức lực và tư liệu, tức là một khuynh hướng kinh tế của tư bản dạy cho loài người biết chi phí sức lực của mình một cách tiết kiệm và đạt tới mục đích sản xuất với một chi phí ít nhất về tư liệu” (2).

    Từ việc nghiên cứu Học thuyết giá trị thặng dư của C. Mác, chúng ta thấy rõ ít nhất ba vấn đề lớn trong giai đoạn phát triển hiện nay của đất nước.

    Một là, trong thời kỳ quá độ nền kinh tế ở nước ta, trong một chừng mực nào đó, quan hệ bóc lột chưa thể bị xóa bỏ ngay, sạch trơn theo cách tiếp cận giáo điều và xơ cứng cũ. Càng phát triển nền kinh tế nhiều thành phần chúng ta càng thấy rõ, chừng nào quan hệ bóc lột còn có tác dụng giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, thì chừng đó chúng ta còn phải chấp nhận sự hiện diện của nó.

    Hai là, trong thực tế nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, mọi phương án tìm cách định lượng rành mạch, máy móc và xơ cứng về mức độ bóc lột trong việc hoạch định các chủ trương chính sách, cũng như có thái độ phân biệt đối xử với tầng lớp doanh nhân mới đều xa rời thực tế và không thể thực hiện được. Điều có sức thuyết phục hơn cả hiện nay là quan hệ phân phối phải được thể chế hóa bằng luật. Đường lối chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước mỗi khi được thể chế hóa thành luật và các bộ luật thì chẳng những góp phần xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, lấy luật làm công cụ và cơ sở để điều chỉnh các hành vi xã hội nói chung, mà còn cả hành vi bóc lột nói riêng. Ai chấp hành đúng pháp luật thì được xã hội thừa nhận và tôn vinh theo phương châm: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Trong nhận thức, quan điểm chung nên coi đó cũng chính là mức độ bóc lột được xã hội chấp nhận, tức là làm giàu hợp pháp. Trong quản lý xã hội thì phải kiểm soát chặt chẽ thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp để, một mặt, chống thất thu thuế, mặt khác, bảo đảm sự công bằng trong phân phối thông qua Nhà nước và bằng các “kênh” phân phối lại và điều tiết thu nhập xã hội. Thiết nghĩ, đây là một hướng tiếp cận vấn đề bóc lột giúp chúng ta tránh được những nhận thức giáo điều, phi biện chứng về quan hệ bóc lột, cũng như việc vận dụng nó trong một giai đoạn lịch sử cụ thể của việc giải phóng sức sản xuất, tạo động lực phát triển kinh tế và chủ động hội nhập thành công với nền kinh tế quốc tế.

    Ba là, mặt khác, cũng phải bảo vệ những quyền chính đáng của cả người lao động lẫn giới chủ sử dụng lao động bằng luật và bằng các chế tài thật cụ thể mới bảo đảm công khai, minh bạch và bền vững. Những mâu thuẫn về lợi ích trong quá trình sử dụng lao động là một thực tế, việc phân xử các mâu thuẫn ấy như thế nào để tránh những xung đột không cần thiết cũng lại là một yêu cầu cấp thiết hiện nay, thể hiện trong bản chất của chế độ mới. Bảo vệ được những quyền lợi chính đáng, những quyền lợi được luật pháp bảo vệ, của tất cả các bên trong quan hệ lao động là một bảo đảm cho việc vận dụng một cách hợp lý quan hệ bóc lột trong điều kiện hiện nay, đồng thời cũng là những đóng góp cơ bản nhất cho cả quá trình hoàn thiện và xây dựng mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

    nguồn: thongtinphapluatdansu.edu.vn

    --- Bài cũ hơn ---

  • Thặng Dư Là Gì? Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Trị Thặng Dư
  • Tài Liệu Lý Luận Của C.mác Về Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Dưới Chủ Nghĩa Tư Bản. Ý Nghĩa Thực Tiễn Đối Với Nước Ta Hiện Nay..pptx
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Giá Trị Thặng Dư
  • Phân Tích Quá Trình Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối?
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Gttd
  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Gttd
  • Phân Tích Quá Trình Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối?
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Giá Trị Thặng Dư
  • Tài Liệu Lý Luận Của C.mác Về Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Dưới Chủ Nghĩa Tư Bản. Ý Nghĩa Thực Tiễn Đối Với Nước Ta Hiện Nay..pptx
  • Giá trị thặng dư siêu ngạch?

    – Quá trình cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp của mình nhằm giảm giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá

    – Quá trình cạnh tranh giữa các nhà tư bản buộc họ phải áp dụng phương pháp sản xuất tốt nhất để tăng năng suất lao động trong xí nghiệp của mình nhằm giảm giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị xã hội của hàng hoá, nhờ đó thu dược giá trị thặng dư siêu ngạch.

    – Khái niệm: Giá trị thặng dư siêu ngạch là phần giá thặng dư thu được do tăng năng suất lao động cá biệt, làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị trường của nó.

    – Xét từng trường hợp, thì giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, nhanh chóng xuất hiện rồi cũng lại nhanh chóng mất đi. Nhưng xót toàn bộ xã hội tư bản thân giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tồn tại thường xuyên. Theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là khát vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất. Tăng năng suất lao dộng, làm cho năng suất lao động xã hội tăng lên nhanh chóng.

    – Giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối cùng có một cơ sở chung đó là dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động để rút ngắn thời gian lao động cần thiết.

    – Điểm khác nhau giữa giá trị thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối:

    + Giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động cá biệt, còn giá trị thặng dư tương đối dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động xã hội. Giá trị thặng dư siêu ngạch sẽ được thay thế bằng giá trị thặng dư tương đối khi trình độ kỹ thuật mới được áp dụng ở các tư bản cá biệt trở thành phổ biến trong xã hội. Vì thế, C. Mác gọi giá trị thặng dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối.

    + Giá trị thặng dư tương đối do toàn bộ giai cấp các nhà tư bản thu dược. Nó biểu hiện sự tiến bộ kỹ thuật của chủ nghĩa tư bản được áp dụng rộng rãi. Xét về mặt đó thì nó thể hiện quan hệ giữa giai cấp công nhân và toàn bộ giai cấp các nhà tư bản. Giá trị thặng dư siêu ngạch là mục đích trực tiếp mà mỗi nhà tư bản cố gắng đạt tới trong cuộc cạnh tranh với các nhà tư bản khác. Xét về mặt này, giá trị thặng dư siêu ngạch không chỉ biểu hiện mối quan hệ giữa công nhân làm thuê và nhà tư bản, mà còn biểu hiện mối quan hệ giữa các nhà tư bản với nhau.

    Từ đó, ta thấy rằng giá trị thặng dư siêu ngạch là động lực trực tiếp, mạnh nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, áp dụng công nghệ mới vào sản xuất, hoàn thiện tổ chức lao động và tổ chức sản xuất để tăng năng xuất lao động giảm giá trị của hàng hoá.

    chúng tôi

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng
  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 Doc
  • Giữa Phương Pháp Biện Chứng Và Phương Pháp Siêu Hình Có Sự Khác Biệt Căn Bản Gì?
  • Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Và Quá Trình Vận Dụng Vào Công Cuộc Công Nghiệp Hóa Hiện Đại Hóa Ở Nước Ta Hiện Nay

    --- Bài mới hơn ---

  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Gttd
  • Phân Tích Quá Trình Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối?
  • Hai Phương Pháp Sản Xuất Ra Giá Trị Thặng Dư
  • Tài Liệu Lý Luận Của C.mác Về Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Dưới Chủ Nghĩa Tư Bản. Ý Nghĩa Thực Tiễn Đối Với Nước Ta Hiện Nay..pptx
  • Thặng Dư Là Gì? Những Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Giá Trị Thặng Dư
  • Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    A. MỞ ĐẦU

    1. Lý do chọn đề tài.

    Sau hơn hai mươi năm đổi mới, đất nước ta đã gặt hái được nhiều thành tựu

    như kinh tế ngày càng phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, uy tín Việt

    Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

    Tuy nhiên, với xuất phát điểm từ nông nghiệp nên nền kinh tế nước ta có

    quy mô nhỏ, quá trình hòa nhập quốc tế đang gặp phải nhiề khó khăn.Vì vậy,để

    khắc phục thực trạng yếu kém và phát huy thế mạnh hiện có nước ta đã thực hiện

    quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

    Để thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa nước ta đã huy

    động các yếu tố phát triển với nhiều lĩnh vực khác nhau.Trong đó, việc vận dụng

    các quy luật kinh tế mà đặc biệt là học thuyết giá trị thặng dư đã và đang là một

    hướng áp dụng có hiệu quả trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng

    XHCN ở nước ta hiện nay.

    Giá trị thặng dư là một trong những phát hiện vĩ đại của C.Mác và theo như

    V.I.Lênin nhận xét thì ” Học thuyết giá trị thặng dư là viên đá tảng của học thuyết

    kinh tế của Mác “.Gí trị thặng dư đã mang lại những bước phát triển cho nước ta

    trong giai đoạn hiện nay.Tính tất yếu khách quan về việc vận dụng giá trị thặng

    dư vào Việt Nam đã được thông qua trong các văn kiện Đại hội của Đảng nhưng

    trong một chừng mực nào đó vẫn còn tồn tại các thành kiến với các thành phần

    kinh tế tư nhann, tư bản coi thành phần kinh tế này là bốc lột và nhận thức này

    không chỉ xảy ra với một số cán bộ là Đảng viên làm công tác quản lý mà còn

    xảy ra ngay trong những người trực tiếp làm kinh tế tư nhân ở nước ta.

    Trong bối cảnh đó, việc học tập và nghiên cứu môn kinh tế chính trị mà đặc

    biệt là học thuyết giá trị thặng dư sẽ góp phần giải quyết những vướng mắc trong

    quá trình phát triển các thành phần kinh tế cũng nư quá trình vận dụng giá trị

    thặng dư vào công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.Với

    mong muốn có thể khắc phục sự lạc hậu về lý luận kinh tế, sự giáo điều, tách rời

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    1

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    lý luận và cuộc sống và góp phần hình thành tư duy kinh tế mới, tạo điều kiện

    thuận lợi nhằm thúc đẩy nhanh quá trình công nghiếp hóa – hiện đại hóa.

    Với những lý do đó, tôi quyết định chọn đề tài: ” Phương pháp sản xuất giá

    trị thặng dư và quá trình vận dụng vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở

    nước ta hiện nay ” làm tiểu luận.

    2. Mục đích nghiên cứu.

    – Nhằm nâng cao hiểu biết về học thuyết giá trị thặng dư.

    – Khẳng định tầm quan trọng của việc vận dụng giá trị thặng dư vào công

    cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.

    3. Đối tượng nghiên cứu.

    – Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư và quá trình vận dụng vào công

    cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.

    4. Phương pháp nghiên cứu.

    – Phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng xem xét các quá trình kinh tế

    trong mối liên hệ tác động qua lại, luôn vận động, phát triển không ngừng và gắn

    điều kiện lịch sử cụ thể.

    – Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: thu thập, phân tích, xử lý và tổng hợp

    tài liệu, so sánh, lôgic – lịch sử, trừu tượng hóa khoa học.

    5. Cấu trúc của đề tài.

    – Ngoài phần mở đầu và phần tài liệu tham khảo thì đè tài gồm có hai

    chương.

    Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ, PHƯƠNG

    PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TUYỆT ĐỐI VÀ GIÁ TRỊ THẶNG

    DƯ TƯƠNG ĐỐI.

    Chương 2: PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TUYỆT

    ĐỐI VÀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TƯƠNG ĐỐI ĐƯỢC VẬN DỤNG VÀO

    CÔNG CUỘC CÔNG NGHIỆP HÓA HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN

    NAY.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    2

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    B. NỘI DUNG

    Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁ TRỊ THẶNG DƯ,

    PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TUYỆT ĐỐI

    VÀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TƯƠNG ĐỐI.

    1.1. Quan điểm về giá trị thặng dư.

    Học thuyết về giá trị thặng dư là một trong những phát kiến lớn nhất mà

    Mác đã đóng góp cho nhân loại và những giá trị đó nó vẫn tồn tại cho đến ngày

    nay.Tuy nhiên, lịch sử nhân loại không ngừng phát triển theo dòng thác của thời

    gian, xu thế phát triển đó gắn với những thách thức và cơ hội không lường

    trước.Vì vây, học thuyết về giá trị thặng dư cần có quá trình nghiên cứu và tìm

    hiểu để có thể áp dụng vào hoàn cảnh mới hiện nay.

    Trước Mác, ngay cả những nhà kinh tế tư bản lỗi lạc như Ricarđo cũng

    không thể giả thích được vì sao trao đổi hàng hóa theo đúng quy luật mà nhà tư

    bản vẫn thu được lợi nhuận.Nhờ phân biệt được phạm trù lao động và tính chất

    hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, C.Mác đã chứng minh một cách khoa

    học rằng trong quá trình sản xuất hàng hóa lao động cụ thể của công nhân chuyển

    giá trị của tư liệu sản xuất đã được tiêu dùng sang sản phẩm, đồng thời lao động

    trừu tượng của người đó thêm vào sản phẩm một giá trị mới lớn hơn sức lao động

    của mình.Khoản lớn hơn đó, tức là số dư ra ngoài khoản bù lại giá trị sức lao

    động , C.Mác gọi đó là giá trị thặng dư mà nhà tư bản chiếm đoạt.

    Khi nói đến rư bản người ta thường liên tưởng đến tiền, đến tư liệu sản xuất,

    nhưng không phải như vậy, mà tư bản là quan hệ sản xuất hàng hóa, là mối quan

    hệ sản xuất giữa giai cấp tư sản và giai cấp công nhân làm thuê, tư bản là giá trị

    tạo ra giá trị thặng dư bằng cách bốc lột lao động không công của công nhân làm

    thuê.Vì vậy,điều này lý giải mục đích của giai cấp tư bản chính là giá trị thặng

    dư.Nhưng để sản xuất ra giá trị thặng dư trước hết, nhà tư bản phải sản xuất ra

    hàng hó có giá trị sử dụng vì giá trị sử dụng là nội dung vật chất của hàng hóa, là

    vật mang giá trị và giá trị thặng dư.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    3

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    Đây cũng là quá trình nhà tư bản tiêu dùng hàng hoá sức lao động và tư liệu

    sản xuất để sản xuất giá trị thặng dư. Bởi thế mỗi sản phẩm được làm ra đều được

    kiểm soát bởi nhà tư bản và thuộc sở hữu của nhà tư bản. Trong quá trình sản

    xuất tư bản chủ nghĩa, bằng lao động cụ thể của mình công nhân lao động làm

    thuê sử dụng tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào hàng hoá, bằng lao

    động trừu tượng công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động, phần

    lớn hơn đó là giá trị thặng dư.

    Khi thu được giá trị thặng dư nhà tư bản sẽ chia nó làm nhiều phần, sử dụng

    vào những mục đích khác nhau, trong đó một phần rất lớn dùng mua tư liệu sản

    xuất, để tái mở rộng sản xuất nhằm đem lại nhiều giá trị thặng dư hơn.

    1.2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và giá trị thặng dư

    tương đối

    1.2.1. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư có được

    nhờ kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu trong điều

    kiện năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không

    thay đổi.

    Phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối được áp dụng ở giai đoạn đầu của

    chủ nghĩa tư bản, thời kì này nền kinh tế sản xuất chủ yếu là sử dụng lao động

    thủ công, hoặc lao động với những máy móc giản đơn ở các công trường thủ

    công. Đó là sự gia tăng về mặt lượng của quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư.

    Bởi phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài

    ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu, trong khi năng suất lao động,

    giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu là không thay đổi.

    Giả sử ngày lao động là 8 giờ, trong đó 4 giờ là thời gian lao động tất yếu và

    4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó trình độ bóc lột của nhà tư bản là

    100%. Giả định nhà tư bản kéo dài ngày lao động thêm 2 giờ, trong khi thời gian

    tất yếu không thay đổi, vì thế giá trị thặng dư cũng tăng lên, trình độ bóc lột tăng

    lên đạt 150% (m’ = 150%)

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    4

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    Với sự thèm khát giá trị thặng dư, nhà tư bản phải tìm mọi cách để kéo dài

    ngày lao động và phương pháp bóc lột này đã đem lại hiệu quả rất cao cho các

    nhà tư bản. Nhưng ngày lao động có những giới hạn nhất định. Giới hạn trên của

    ngày lao động do thể chất và tinh thần của người lao động quyết định. Dưới chủ

    nghĩa tư bản mặc dù sức lao động của công nhân là hàng hoá, nhưng nó lại tồn tại

    trong cơ thể sống của con người. Vì vậy, ngoài thời gian người công nhân làm

    việc cho nhà tư bản trong xí nghiệp, người công nhân đòi hỏi còn phải có thời

    gian để ăn uống nghỉ ngơi nhằm tái sản xuất ra sức lao động. Mặt khác, sức lao

    động là thứ hàng hoá đặc biệt vì vậy ngoài yếu tố vật chất người công nhân đòi

    hỏi còn phải có thời gian cho những nhu cầu sinh hoạt về tinh thần, vật chất, tôn

    giáo của mình. Từ đó tất yếu dẫn đến phong trào của giai cấp vô sản đấu tranh

    đòi giai cấp tư sản phải rút ngắn thời gian lao động trong ngày. Giới hạn dưới của

    ngày lao động không thể bằng thời gian lao động tất yếu, tức là thời gian lao

    động thăng dư bằng không. Như vậy, về mặt kinh tế, ngày lao động phải dài hơn

    thời gian lao động tất yếu nhưng không thể vượt quá giới hạn về thể chất và tinh

    thần của người lao động.

    Vì vậy, giai cấp tư sản phải chuyển sang một phương pháp bóc lột mới tinh

    vi hơn, đó là phương pháp bóc lột giá trị thặng dư tương đối.

    1.2.2. Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối.

    Để khắc phục những vấn đề mà phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối gặp

    phải thì nhà tư bản đã áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

    vào sản xuất.

    Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư có được

    nhờ rút ngắn thời gian lao động tất yếu chủ yếu bằng cách tăng năng suất lao

    động trong những ngành sản xuất ra tư liệu sinh hoạt nhờ đó, mà hạ thấp giá trị

    sức lao động, rút ngắn thời gian lao động tất yếu, thời gian lao động thặng dư

    tăng lên trong điều kiện độ dài ngày lao động và cường độ không thay đổi.

    Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của người lao

    động và vấp phải cuộc đấu tranh ngày càng mạnh mẽ của giai cấp công nhân.

    Mặt khác, khi sản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển đến giai đoạn đại công nghiệp

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    5

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    cơ khí, kĩ thuật đã tiến bộ làm cho năng suất lao động tăng lên nhanh chóng, thì

    các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng năng suất

    lao động, bó lột giá trị thặng dư tương đối. Giá trị thặng dư tương đối là giá trị

    thặng dư thu được do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách nâng cao

    năng suất lao động xã hội, nhờ đó tăng thời gian lao động thăng dư lên ngay

    trong điều kiện độ dài ngày lao động vẫn như cũ. Vì giá trị sức lao động được

    quyết định bởi các tư liệu tiêu dùng và dịch vụ để sản xuất, tái sản xuất sức lao

    động, nên muốn hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm giá trị các tư liệu sinh

    hoạt và dịch vụ cần thiết cho người lao động. Điều đó chỉ được thực hiện bằng

    cách tăng năng suất lao động xã hội cho các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và

    các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ.

    Giả sử ngày lao động là 8 giờ, nó được chia ra 4 giờ là thời gian lao động tất

    yếu, 4 giờ là thời gian lao động thặng dư, khi đó tỷ suất giá trị thặng dư là 100%.

    Nhưng khi máy móc được thay đổi, ngày lao động không thay đổi, thời gian lao

    động tất yếu của người công nhân chỉ còn lại là 3 giờ, thời gian lao động thặng

    dư đã tăng lên là 5 giờ, vì vậy tỷ suất thặng dư đã tăng lên là 166%. (Đồng nghĩa

    với trình độ bóc lột tăng lên).

    Sự ra đời và phát triển và sử dụng rộng rãi máy móc đã làm cho năng suất

    lao động tăng lên nhanh chóng. Máy móc có ưu thế tuyệt đối so với các công cụ

    thủ công, vì công cụ thủ công là công cụ lao động do con người trực tiếp sử dụng

    bằng sức lao động nên bị hạn chế bởi khả năng sinh lý của con người, nhưng khi

    lao động bằng máy móc sẽ không gặp phải những hạn chế đó. Vì thế, việc sử

    dụng máy móc làm năng suất lao động tăng lên rất cao, làm giảm giá trị tư liệu

    sinh hoạt, làm hạ thấp giá trị hàng hoá sức lao động, rút ngắn thời gian lao động

    tất yếu kéo dài thời gian lao động thặng dư, giúp nhà tư bản thu được nhiều giá

    trị thặng dư hơn. Phương pháp giá trị thặng dư tương đối ngày càng được nâng

    cao do các cuộc cách mạng khoa học, đặc biệt cuộc cách mạng khoa học công

    nghệ phát triển với tốc độ vũ bão, đem lại sự phát triển chưa từng có trong lịch sử

    loài người, nó khác với cuộc cách mạng khoa học là dẫn đến sự hình thành các

    nguyên lý công nghệ sản xuất mới, chứ không đơn thuần về công cụ sản xuất như

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    6

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    cách mạng khoa học, do đó dẫn đến sự tăng trưởng cao, đưa xã hội loài người

    bước sang một nền văn minh mới – nền văn minh trí tuệ.

    Một dạng của giá trị thặng dư tương đối là giá trị thặng dư siêu ngạch, đây là

    cái đích hướng tới của các nhà tư bản. Giá trị thặng dư siêu ngạch là giá trị thặng

    dư thu được do áp dụng công nghệ mới làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp

    hơn giá trị xã hội của nó. Xét trong từng trường hợp giá trị thặng dư siêu ngạch là

    hiện tượng tạm thời, nó sẽ bị mất đi khi công nghệ đó đã được phổ biến rộng rãi,

    nhưng xét theo phạm vi toàn xã hội thì đây một hiện tượng thường xuyên. Theo

    đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch là kì vọng của nhà tư bản và là động lực mạnh

    nhất thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kĩ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất

    lao động, làm cho năng suất xã hội tăng lên nhanh chóng. C.Mác gọi giá trị thặng

    dư siêu ngạch là hình thức biến tướng của giá trị thặng dư tương đối, vì giá trị

    thặng dư siêu ngạch và giá trị thặng dư tương đối đều dựa trên cơ sở tăng năng

    suất lao động.

    1.2.3 Mối quan hệ giữa phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối

    và phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối

    Trên cơ sở nghiên cứu hai phương pháp sản xuất trong giá trị thặng dư ta

    thấy thực ra, hai phương pháp giá trị thặng dư không hề bị tách rời nhau, mà chỉ

    trong mỗi thời kì khác nhau sự vận dụng hai phương pháp là nhiều hay ít mà thôi,

    trong thời kì đầu của chủ nghĩa tư bản thì phương pháp giá trị thặng dư tuyệt đối

    được sử dụng nhiều hơn so với phương pháp giá trị thặng dư tương đối, còn trong

    thời kì sau của chủ nghĩa tư bản thì ngược lại.

    Trong xã hội hiện đại ngày nay, việc nhà tư bản kết hợp tốt hai phương pháp

    sản xuất giá trị thặng dư đã tạo ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư

    bản, bằng cách tăng cường các phương tiện kỹ thuật và quản lý để bóc lột ngày

    càng nhiều sức lao động làm thuê. Máy móc hiện đại được áp dụng, các lao động

    chân tay bị cắt giảm nhưng điều đó không đi đôi với giảm nhẹ cường độ lao động

    của người công nhân, mà trái lại do việc áp dụng máy móc không đồng bộ nên

    khi máy móc chạy với tốc độ cao, có thể chạy với tốc độ liên tục buộc người

    công nhân phải chạy theo tốc độ vận hành máy làm cho cường độ lao động tăng

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    7

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    lên, năng suất lao động tăng, ngoài ra nền sản xuất hiện đại áp dụng tự động hoá

    cao cường độ lao động người công nhân tăng lên với hình thức mới đó là cường

    độ lao động thần kinh thay thế cho cường độ lao động cơ bắp, tạo ra sản phẩm

    chứa nhiều chất xám có giá trị lớn.

    Vì vậy, sản xuất tư bản chủ nghĩa trong diều kiện hiện đại là sự kết hợp tinh

    vi của phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và phương pháp sản xuất

    giá trị thặng dư tương đối.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    8

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    Chương 2: PHƯƠNG PHÁP SẢN XUẤT GIÁ TRỊ THẶNG DƯ

    TUYỆT ĐỐI VÀ GIÁ TRỊ THẶNG DƯ TƯƠNG ĐỐI ĐƯỢC

    VẬN DỤNG VÀO CÔNG CUỘC CÔNG NGHIỆP HÓA

    HIỆN ĐẠI HÓA Ở NƯỚC TA HIỆN NAY.

    2.1 Quan điểm của Đảng về phương pháp sản xuất giá trị thặng dư vận dụng

    vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa.

    Hoà cùng với xu hướng toàn cầu hoá, hội nhập kinh tế quốc tế, đất nước

    chúng ta cũng đang song song thực hiện nhiệm vụ xây dựng Chủ nghĩa xã hội.

    Trên con đường quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Việt Nam có rất nhiều mục tiêu

    phải đạt được, nhiều nhiệm vụ phải hoàn thành. Với xuất phát điểm là một nước

    nông nghiệp lạc hậu, chúng ta gặp khá nhiều khó khăn bởi sự nghèo nàn về cơ sở

    vật chất, sự yếu kém trong công nghệ sản xuất, năng suất lao động thấp, . Trong

    khi đó Chủ nghĩa xã hội nhắm tới việc xây dựng một xã hội giàu mạnh, công

    bằng, dân chủ, văn minh. Chính vì thế xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho Chủ

    nghĩa xã hội là mục tiêu cơ bản của đất nước ta. Tuy nhiên, để đẩy nhanh việc tạo

    dựng nền tảng đó cần có phương tiện, cách thức thực hiện hữu hiệu, đó là Công

    nghiệp hoá và Hiện đại hoá.

    Công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 Khoá

    VII của Đảng ta (1994) là: ” quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt

    động sản xuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động

    thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công

    nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển của

    công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội

    cao”. Và tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), khi thông qua đường

    lối đẩy mạnh Công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng ta nhấn mạnh: “Mục tiêu của

    Công nghiệp hoá, hiện đại hoá là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp

    có cơ sở vật chất- kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến

    bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    9

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công

    bằng, văn minh”.

    Tại Đại hội này, Đảng ta cũng xác định rõ mục tiêu “phấn đấu đến năm 2022

    đưa nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp” và một trong những biện

    pháp để thực hiện là tiếp tục áp dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng dư vào

    các lĩnh vực kinh tế ở nước ta. Vai trò của Công nghiệp hoá và hiện đại hoá tỏ ra

    hết sức quan trọng trong công cuộc xây dựng đổi mới toàn diện đất nước, cho

    nên Nhà nước ta cần hoạch định chiến lược, bước đi rõ ràng để tiến hành công

    nghiệp hoá, hiện đại hoá bằng con đường tối ưu. Sau 20 năm đổi mới, chúng ta

    cần nhìn lại những điều đã và đang làm được cũng như những tồn tại cần giải

    quyết trong từng ngành cụ thể để có được cách nhìn nhận đúng đắn, thấy được

    những tồn tại yếu kém còn mắc phải cũng như có những biện pháp khắc phục

    nhằm đạt được mục tiêu cao đẹp của đát nước.

    2.2 Thực trạng của quá trình vận dụng phương pháp sản xuất giá trị thặng

    dư vào công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa ở nước ta hiện nay.

    2.2.1 Tình hình nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư ở nước ta hiện nay.

    Học thuyết giá trị thặng dư của Mác ra đời trên cơ sở nghiên cứu phương

    thức sản xuất tư bản chủ nghĩa. Phát hiện giá trị thặng dư làm nổ ra cuộc cách

    mạng thực sự trong toàn bộ khoa học kinh tế, vũ trang cho giai cấp vô sản thứ vũ

    khí sắc bén trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa tư bản. Ngày nay, từ quan niệm

    đổi mới về chủ nghĩa xã hội, học thuyết này còn có ý nghĩa quan trọng trong sự

    nghiệp xây dựng nền kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ở nước

    ta, việc nghiên cứu, khai thác và học tập những di sản lý luận của Mác trở thành

    việc làm cần thiết trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã

    hội chủ nghĩa.

    Hướng khai thác lý luận giá trị thặng dư tập trung vào những nội dung sau

    đây:

    Một là, Khai thác những di sản lý luận trong học thuyết này về nền kinh tế

    hàng hoá.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    10

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    Học thuyết giá trị thặng dư của Mác được xây dựng trên cơ sở nghiên cứu

    nền sản xuất hàng hoá, đặc biệt nền kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Cho nên,

    chính Mác chứ không phải ai khác, là một trong những người nghiên cứu sâu sắc

    về kinh tế thị trường. Thực chất của nền kinh tế thị trường là nền kinh tế hàng

    hoá phát triển ở trình độ cao. Nước ta đang phát triển kinh tế hàng hoá nhiều

    thành phần vận động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo

    định hướng xã hội chủ nghĩa và hiện nay gọi là kinh tế thị trường định hướng xã

    hội chủ nghĩa. Mặc dù nền kinh tế thị trường ở nước ta có tính đặc thù của nó,

    song đã là sản xuất hàng hoá thì ở đâu cũng đều có những đặc tính phổ biến,

    cũng phải nói đến giá trị và giá trị thặng dư. Điều khác nhau chỉ là trong những

    quan hệ kinh tế khác nhau thì giá trị và giá trị thặng dư mang bản chất xã hội

    khác nhau. Vì vậy, việc nghiên cứu tính phổ biến và tính đặc thù của nền sản xuất

    tư bản chủ nghĩa, nghiên cứu những phạm trù, công cụ và việc sử dụng chúng

    trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từ di sản lý luận của

    Mác là việc làm có nhiều ý nghĩa thực tiễn.

    Ngay từ khi mới ra đời, chủ nghĩa tư bản đã phát triển nền kinh tế thị trường,

    qua thị trường, giai cấp tư sản mới mua được tư liệu sản xuất và sức lao động,

    mới bán được hàng hoá và do đó bóc lột được giá trị thặng dư do người lao động

    tạo ra. Trong nền kinh tế thị trường, dưới tác động của các quy luật kinh tế, trong

    đó có quy luật giá trị thặng dư, các nhà tư bản-các doanh nghiệp đã không ngừng

    ứng dụng những thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất để nâng cao năng

    suất lao động, tích cực hợp lý hoá quá trình sản xuất, tiết kiệm các yếu tố đầu

    vào, tìm hiểu nhu cầu thị trường… để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

    Các tiềm năng về vốn, khoa học công nghệ, trình độ quản lý sản xuất kinh

    doanh… được khơi dậy và phát triển mạnh mẽ, từ đó làm cho nền kinh tế trở nên

    năng động. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở

    nước ta, trong khu vực kinh tế nhà nước và tập thể, chúng ta cần vận dụng các

    phương pháp sản xuất giá trị thặng dư mà các nhà tư bản đã sử dụng để phát triển

    sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế kết hợp với thực hiện phân

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    11

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    phối theo lao động và hiệu quả kinh tế nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh

    thần cho người lao động.

    Hai là, làm rõ hơn bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản ngay trong thành

    phần kinh tế tư nhân ở nước ta hiện nay. Qua nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư,

    chúng ta phải khẳng định rằng, sự giàu có của nhà tư bản là kết quả của sự bóc

    lột giá trị thặng dư. Có người cho rằng, nhà tư bản thu nhiều lợi nhuận là do lao

    động quản lý, lao động khoa học – kỹ thuật của nhà tư bản. Thực tế, trong thời kỳ

    đầu của chủ nghĩa tư bản, nhiều nhà tư bản đồng thời là giám đốc, thậm chí còn

    là cán bộ khoa học kỹ thuật nữa. Những chức năng quản lý và khoa học kỹ thuật

    ấy thuộc phạm trù lao động, không thuộc phạm trù tư bản. Nếu nhà tư bản kiểm

    cả chức năng quản lý và khoa học kỹ thuật thì trong thu nhập của nhà tư bản sẽ

    bao gồm giá trị mới do lao động quản lý và khoa học kỹ thuật tạo ra cộng với giá

    trị thặng dư chiếm đoạt không phải trả công.

    Khi phê phán luận điểm của nhà kinh tế chính trị học chúng tôi cho rằng lợi

    nhuận doanh nghiệp là tiền công trả cho lao động quản lý của nhà tư bản, C.Mác

    đã chỉ rõ: Chỉ cần dành ra một khoản thù lao nhỏ mọn là nhà tư bản có thể trút

    gánh nặng quản lý đó cho người giám đốc làm thuê nhưng nhà tư bản vẫn thu

    được lợi nhuận doanh nghiệp. Ở những vùng công nghiệp của nước Anh, sau mỗi

    lần khủng hoảng, một số khá nhiều những cựu chủ xưởng với một số tiền thù lao

    nhỏ nhặt đã đứng ra trông nom những nhà máy trước đây là của chính họ, trông

    nom với tư cách là những người quản lý, phục vụ cho những chủ mới, thường là

    chủ nợ của họ. Ngày nay, trong các công ty và xí nghiệp tư bản hiện đại, chức

    năng quan lý thường được giao cho các managers – những người làm thuê cao

    cấp, nhưng các chủ sở hữu tư bản vẫn thu những khối lượng lợi nhuận khổng lồ.

    Như vậy, khi quy mô kinh doanh ngày càng lớn, nhà tư bản đã hiện rõ sự bóc lột

    của mình đó là có một khoản lợi nhuận lớn nhưng không phải bỏ sức lao động

    mới có được mà chỉ cần là người sở hữu tư bản.

    Ba là, nghiên cứu học thuyết giá trị thặng dư không phải là để kỳ thị thành

    phần kinh tế tư bản tư nhân mà để khuyến khích nó phát triển, bởi vì có hiểu rõ

    bản chất của nó mới có chính sách đúng đắn với nó. Chẳng hạn, hiểu rõ mục đích

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    12

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    và động cơ của sản xuất TBCN là thu càng nhiều giá trị thặng dư càng tốt, thì

    muốn khuyến khích thành phần kinh tế tư bản tư nhân phát triển và thu hút vốn

    đầu tư từ nước ngoài chúng ta phải có chính sách như thế nào để họ thu được lợi

    nhuận thoả đáng, thậm chí cao hơn lợi nhuận thu được khi học đầu tư vào các

    nước láng giềng của ta. Mặt khác, phải có biện pháp điều tiết bớt sự chênh lệch

    quá đáng giữa người giàu và người nghèo, đồng thời có các chính sách xã hội để

    giảm bớt bất công.

    Bốn là, khai thác những luận điểm của Mác nói về qúa trình sản xuất, thực

    hiện, phân phối giá trị thặng dư trong chủ nghĩa tư bản cùng những biện pháp,

    thủ đoạn nhằm thu được nhiều giá trị thặng dư của các nhà tư bản nhằm góp phần

    vào việc quản lý các thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa trong nền kinh tế nước

    ta sao cho vừa có thể khuyến khích phát triển, vừa hướng các thành phần kinh tế

    này đi vào quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội.

    Việc quản lý thành phần kinh tế tư nhân, cụ thể là bộ phận kinh tế tư bản tư

    nhân nhằm hạn chế việc bóc lột người lao động quá mức như kéo dài thời gian

    lao động vượt quá thời gian quy định của luật lao động mà không có sự thống

    nhất của người lao động, việc cắt xén tiền công, cắt xén các chế độ của người lao

    động như bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tai nạn

    lao động. Việc nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư sẽ cho chúng ta thấy rằng

    chúng ta thừa nhận có sự bóc lột trong khu vực kinh tế tư nhân nhưng việc bóc

    lột này không thể như trong chế độ tư bản chủ nghĩa được mà người lao động cần

    phải được bảo vệ thông qua hệ thống pháp luật của Việt Nam. Thực tế, chúng ta

    cần phát triển kinh tế tư nhân để tạo nhiều việc làm, khai thác các tiềm năng về

    vốn, khoa học công nghệ, nhân lực cho phát triển sản xuất kinh doanh… nhưng

    người lao động vì thế cũng bị bóc lột. Nhà nước ta cũng đã có hệ thống luật pháp

    bảo vệ người lao động như: Luật lao động, Luật bảo hiểm, Quy định về tiền

    lương tối thiểu cho khu vực doanh nghiệp….nhưng vẫn chưa đầy đủ. Tuy nhiên,

    yếu kém nhất hiện nay trong bảo vệ người lao động là thiếu sự kiểm tra chặt chẽ

    và xử lý vi phạm nghiêm minh của các cơ quan chức năng đối với kinh tế tư bản

    tư nhân. Nhiều cuộc đình công, bãi công gần đây của công nhân nước ta ở các

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    13

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã chỉ

    rõ điều này. Tại hội nghị “Tổng kết tình hình năm 2011 và triển khai nhiệm vụ

    năm 2012″, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho hay, từ năm 1995 đến nay,

    cả nước đã xảy ra hơn 4.100 cuộc đình công, trong đó chủ yếu ở các doanh

    nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài như Đài Loan, Hàn Quốc, Nhật Bản… với hơn

    3.100 cuộc, chiếm 75,4%. Tỷ lệ này đang có xu hướng tăng dần qua các năm,

    nhất là từ 2006. Năm 2011 đạt mức kỷ lục với 857 cuộc diễn ra trong vòng 11

    tháng. Con số này của năm 2010 là 422 vụ, năm 2009 là 218 vụ, năm 2008 là 720

    vụ…

    Nguyên nhân được Bộ xác định trước hết do một số chủ doanh nghiệp chưa

    chấp hành đúng quy định luật lao động như không ký hợp đồng, không đóng bảo

    hiểm xã hội, không giải quyết chế độ ngày nghỉ, bảng lương…Khắc phục được

    yếu kém này, chúng ta sẽ thúc đẩy nền kinh tế phát triển đồng thời đảm bảo lợi

    ích chính đáng của người lao động, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong

    nền kinh tế thị trường.

    Trong tương lai, khi mà sản xuất tư bản tư nhân đã phát triển tới trình độ

    cao, bản thân nó sẽ đòi hỏi phải có sự biến đổi cho phù hợp với trình độ xã hội

    hoá cao của LLSX, thì nhà nước sẽ hướng nó đi dần vào quỹ đạo của CNXH

    bằng những hình thức đa dạng của CNTB, trong đó có lợi ích của nhà tư bản vẫn

    được đảm bảo, chứ không bị xoá bỏ hay tước đoạt.

    Năm là, khai thác di sản của Mác nói về quá trình tổ chức sản xuất và tái sản

    xuất tư bản chủ nghĩa với tính cách là một nền sản xuất lớn gắn với quá trình xã

    hội hoá sản xuất ngày càng cao nhằm tạo ra khối lượng giá trị thặng dư ngày

    càng lớn. Trên cơ sở những gì được coi là tất yếu của quá trình lịch sử tự nhiên,

    đặc biệt là về mặt tổ chức – kinh tế, vận dụng vào nền kinh tế nước ta thời kỳ quá

    độ lên chủ nghĩa xã hội nhằm thúc đẩy nhanh quá trình xã hội hoá theo định

    hướng xã hội chủ nghĩa từ một nền sản xuất nhỏ tiến lên sản xuất lớn, hiện đại

    sản xuất ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư để thực hiện nhiệm vụ trung tâm của

    thời kỳ quá độ là CNH, HĐH nền kinh tế nhằm không ngừng nâng cao đời sống

    vật chất tinh thần của người lao động.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    14

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    Như vậy hiện nay ở nước ta, mục đích nghiên cứu kinh tế chính trị nói

    chung và lý luận giá trị thặng dư nói riêng có sự thay đổi. Nếu trước đây, mục

    đích nghiên cứu của kinh tế chính trị là để phê phán phương thức sản xuất

    TBCN, tìm ra bản chất bóc lột giá trị thặng dư của CNTB cổ điển và xu hướng

    thay thế CNTB bằng một xã hội tốt đẹp hơn, thì giờ đây, bên cạnh mục đích như

    trước, chúng ta còn có mục đích nghiên cứu, khai thác học thuyết giá trị thặng dư

    với tư cách là một hệ thống lý luận phong phú và sâu sắc về kinh tế thị trường

    nhằm vận dụng vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế – xã hội trong thời

    kỳ đổi mới.

    Qua phân tích một số vấn đề chủ yếu của lý luận giá trị thặng dư ở trên

    chúng ta vẫn tiếp tục khẳng định rằng học thuyết giá trị thặng dư – học thuyết về

    bản chất bóc lột và địa vị lịch sử của chủ nghĩa tư bản vẫn là cơ sở phương pháp

    luận để nhận thức đúng chủ nghĩa tư bản hiện đại. Học thuyết đó còn là cơ sở lý

    luận cho sự vận dụng vào quá trình phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận

    động theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội

    chủ nghĩa ở nước ta hiện nay.

    2.2.2 Phát triển và sử dụng nguồn nhân lực.

    Việt Nam được thế giới đánh giá là có lợi thế về dân số đông, đang trong

    thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao động khá dồi dào. Đây là

    nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện thành công Chiến lược

    phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2020 đã được Đại hội Đảng XI thông qua

    ngày 16/2/2011. Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam vẫn còn

    thấp và cần phải được cải thiện càng sớm càng tốt.

    Hiện nay ở Việt Nam đang hình thành 2 loại hình nhân lực: nhân lực phổ

    thông và nhân lực chất lượng cao. Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm số

    đông, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp. Cái

    thiếu của Việt Nam hiện nay không phải là nhân lực phổ thông, mà là nhân lực

    chất lượng cao. Không thể nói đến nhân lực chất lượng cao khi chất lượng giáo

    dục đại học còn thấp; kết cấu hạ tầng còn rất thấp kém; tỷ lệ lao động mới qua

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    15

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    đào tạo mới chỉ có từ 30 đến 40%; trình độ ngoại ngữ, khả năng sử dụng máy

    tính, công nghệ thông tin kém…

    Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao động đã qua đào tạo

    trên tổng số 48,8 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có 8,4 triệu người có bằng

    cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước. Số người từ 15 tuổi trở

    lên được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ thuật rất thấp, chiếm khoảng 40%. Cơ

    cấu đào tạo hiện còn bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ: Đại học và trên Đại

    học là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi

    trên thế giới, tỷ lệ này là 1-4-10. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB),

    Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc

    cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn so với nhiều nước

    khác. Nếu lấy thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79

    điểm (xếp thứ 11/12 nước Châu Á tham gia xếp hạng của WB) trong khi Hàn

    Quốc là 6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái Lan là 4,94… Cơ cấu phân

    bổ lao động theo ngành nghề cũng mất cân đối. Các ngành kỹ thuật – công nghệ,

    nông – lâm – ngư nghiệp ít và chiếm tỉ trọng thấp, trong khi đó các ngành xã hội

    luật, kinh tế, ngoại ngữ… lại quá cao. Nhiều ngành nghề, lĩnh vực có tình trạng

    vừa thừa vừa thiếu nhân lực. Những lĩnh vực hiện đang thiếu lao động như: Kinh

    doanh tài chính, ngân hàng, kiểm toán, công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông,

    cơ khí chế tạo…

    Đẻ khắc phục được những nhược điểm và phát huy những ưu điểm về sử

    dụng và phát triển nguồn lao động ở hiện tại và trong tương lai hay tăng chất

    lượng của nguồn lao động như nâng cao trình độ học vấn của nhân nhất là phổ

    cập tiểu học, trung học cơ sở, mở trường dạy nghề, học phải gắn với thực

    hành. Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương: ” Xã hội hoá giáo dục nhằm đa dạng

    hoá các loại hình giáo dục, đào tạo với phương châm nhà nước và nhân dân

    cùng làm”. Với những chủ trương đó chất lượng nguồn lao động đã có những

    sự biến đổi so với trước đây và quá trình sử dụng nguồn lao động đã mang lại

    hiệu quả ngày càng cao trong những năm tiếp theo.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    16

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    17

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    35,81% năm 2001. Còn phân theo ngành của kinh tế ngoài quốc doanh và kinh

    tế có vốn đầu tư nước ngoài, tỷ trọng vốn đầu tư

    dành cho công nghiệp và nông nghiệp không ngừng tăng lên, vốn đầu tư

    dành cho ngành dịch vụ giảm từ 45,83% năm 1999 xuống 44,04% năm 2001.

    Như vậy muốn tạo được chỗ đứng cho mình trên thị trường quốc tế chúng ta

    phải có những sản phẩm hàng hóa mang thương hiệu Việt Nam. Vì thế phải phát

    triển công nghiệp, thu hút vốn đầu tư nhằm nâng cao sức mạnh cho công nghiệp.

    2.2.4. Áp dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất

    Theo lý luận giá trị thặng dư của Mác, máy móc không tạo ra giá trị thặng

    dư, nhưng nó tạo điều kiện để tăng sức sản xuất của lao động, hạ giá trị cá biệt

    của hàng hoá thấp hơn giá trị của thị trường, nhờ đó mà giá trị thặng dư tăng lên.

    Ngày nay, việc ứng dụng khoa học – kỹ thuật đã trở thành một nhu cầu

    không thể thiếu đối với nông nghiệp, đem lại giá trị kinh tế cao như sản xuất thu

    hoạch bảo quản chế biến…

    Đối với công nghiệp, nhất là trong ngành công nghệ thông tin, điện tử, viễn

    thông đã ứng dụng nhiều thành tựu khoa học, kỹ thuật của thế giới và đã thực

    hiện được đúng theo chủ trương “đi trước đón đầu” của Đảng ta. Với các lĩnh

    vực khác trong ngành công nghiệp, việc sử dụng các máy móc hiện đại vào sản

    xuất cũng được đẩy mạnh, góp phần tăng giá trị sản xuất công nghiệp lên 12,9%

    (năm 2000).

    Đảng và Nhà nước ta đã biết áp dụng phù hợp những máy móc, khoa học

    công nghệ hiện đại cho từng ngành, từng lĩnh vực kinh tế.

    Trên cơ sở nghiên cứu và ứng dụng học thuyết giá trị thặng dư đặc biệt là

    vấn đề áp dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất đã mang lại nhiều giá trị to

    lớn cho sự tăng trưởng của Việt Nam và đẩy mạnh hơn nữa quá trình công nghiệp

    hóa hiện đại hóa đất nước trong giai đoạn hiện nay.

    2.2.5 Vấn đề bốc lột trong sử dụng giá trị thặng dư ở nước ta.

    Ngày nay sức cạnh tranh trên thị trường ngày càng lớn, để thành công trong

    công việc kinh doanh, người chủ kinh doanh ngày nay không chỉ có đóng góp tài

    sản, tiền vốn mà còn đóng góp sức lao động của mình vào quá trình sản xuất.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    18

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    19

    Tiểu luận kinh tế chính trị Mác Lênin I

    Tập trung đầu tư cho công nghiệp, với mục tiêu lấy đó làm đà để phát triển

    các ngành khác trong nền kinh tế quốc dân, trong đó đặc biệt phải đầu tư cho

    ngành công nghiệp chế biến, cần phải chú ý đầu tư cho ngành công nghiệp chế

    biến nông – lâm sản, vì đây là chìa khoá, nhằm nâng cao giá trị, khả năng cạnh

    tranh của hàng hoá nông lâm sản trên thị trường thế giới.

    Việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư này cần được coi là nhiệm vụ của tất cả các

    thành phần kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, chứ không

    phải chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước hay một vài doanh nghiệp nhà nước.

    Cần gắn việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư với việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế

    nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của nền kinh tế quốc dân.

    Thực hiện tự do di chuyển vốn giữa các ngành kinh tế, nhưng đồng thời Nhà

    nước phải đóng vai điều tiết đầu tư bằng những chính sách kinh tế vĩ mô (như

    thuế, và những ưu đãi, khuyến khích đối với những ngành cần đầu tư) nhằm đảm

    bảo việc chuyển dịch cơ cấu vốn đầu tư cũng như cơ cấu kinh tế theo định hướng

    phát triển kinh tế – xã hội.

    Việc chuyển dịch cơ cấu đầu tư và tập trung vào công nghiệp sẽ tạo ra

    những bước phát triển nhanh hơn,đưa nước ta trở thành một nước đại công

    nghiệp, hội nhập với toàn thế giới và thực hiện được mục tiêu công nghiệp hóa

    hiện đại hóa đất nước.

    2.3.2 Khuyến khích thu hút đầu tư

    Quá trình nghiên cứu lý luận giá trị thặng dư ta thấy được việc thu hút đầu

    tư sẽ thúc đẩy mở rộng quy mô sản xuất và thu được nhiều giá trị thặng dư.

    Để cải thiện môi trường kinh doanh trong nước cũng như thực hiện sự

    bình đẳng giữa các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp thuộc thành

    phần kinh tế tư nhân, đặc biệt là trong lĩnh vực vay vốn ở các ngân hàng.

    Tiếp tục tiến hành cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu các thủ tục cho

    các doanh nghiệp, vì trong kinh doanh cơ hội tốt chỉ xuất hiện trong thời gian

    ngắn.

    SVTH: Nguyễn Thị Hằng – Lớp: GDCT 2B

    20

    --- Bài cũ hơn ---

  • Giá Trị Thặng Dư Siêu Ngạch?
  • Giá Trị Thặng Dư Là Gì? Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuyệt Đối Và Tương Đối
  • Những Nét Cơ Bản Nhất Của Lịch Sử Hình Thành Phép Biện Chứng
  • Sự Khác Nhau Giữa Ba Hình Thức Của Chủ Nghĩa Duy Vật
  • Bài 1: Thế Giới Quan Duy Vật Và Phương Pháp Luận Biện Chứng Bai 1 Doc
  • Sự Giống Và Khác Nhau Giữa Các Phương Pháp Sản Xuất Giá Trị Thặng Dư Tuơng Đối, Tuyệt Đối Và Siêu

    --- Bài mới hơn ---

  • So Sánh Giá Trị Thặng Dư Tương Đối À Giá Trị Thặng Du Siêu Nghạch
  • So Sánh Ưu Nhược Điểm Của 5 Loại Sơn Tốt Nhất Trên Thị Trường
  • So Sánh Siêu Thị Mini Và Cửa Hàng Tiện Lợi Khác Nhau Điểm Gì?
  • Top 7 Cửa Hàng Tiện Lợi Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
  • So Sánh 3 Chuỗi Cửa Hàng Tiện Lợi Lớn Tại Nhật Bản Bạn Nên Biết
  • Giá trị thặng dư tuyệt đối, tương đối và siêu ngạch

    + Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: Là phương pháp sản xuát giá trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu; trong khi năng suất lao động, giá trị sức lao động và thời gian lao động tất yếu không thay đổi.

    · Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là cơ sở chung của chế độ tư bản chủ nghĩa. Phương pháp này được áp dụng phổ biến ở giai đoạn đầu của chủ nghĩa tư bản, khi lao động còn thấp.

    · Với lòng tham không đáy, nhà tư bản mọi cách kéo dài ngày lao động để nâng cao trình độ bóc lột. Nhưng do giới hạn về ngày tự nhiên, về sức lực con người nên không thể kéo dài vô hạn. Mặt khác, còn do đấu tranh quyết liệt những giai cấp công nhân đòi rút ngắn thời gian lao động cũng không thể rút ngắn chỉ bằng thời gian lao động tất yếu. Một hình thức khác của sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối là tăng cường lao động vì tăng cường lao động cũng giống như kéo dài thời gian lao động trong ngày trong khi thời gian lao động càn thiết không thay đổi.

    + Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư do rút ngắn thời gian lao động tất yếu bằng cách hạ thấp giá trị sức lao động, nhờ đó tăng thời gian loa động thặng dư lên trong điều kiện độ dài ngày lao động, cường độ lao động cũng như cũ.

    · Để hạ thấp giá trị sức lao động thì phải giảm bớt giá trị các tư liệu sinh hoạt và dịch vụ cần thiết cho người công nhân. Muốn vậy, phải tăng năng suất lao động xã hội trong các ngành sản xuất tư liệu tiêu dùng và các ngành sản xuất tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tuw liệu sản xuất tiêu dùng.

    – Giữa hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối có điểm giống nhau đều làm tăng thời gian lao động thặng dư của người công nhân không chỉ đủ nuôi sông mình, mà còn tạo ra phần thặng dư. Song, hai phương pháp này có sự khác nhau về cách thức làm tăng thời gian lao động thặng dư.

    + Giá trị thặng dư siêu ngạch: Là giá trị thặng dư thu được do người áp dụng công nghẹ mới sớm hơn các xí nghiệp khác, làm cho giá trị cá biệt của hàng hoá thấp hơn giá trị thị trường của nó. Khi đa số các xí nghiệp đều đổi mới kỹ thuật và công nghệ thì giá trị thặng dư sieu ngạch của doanh nghiệp đó không còn nữa.

    · Xét từng đơn vị sản xuất tư bản chủ nghĩa, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng tạm thời, cục bộ. Nhưng xét về toàn bộ tư bản, giá trị thặng dư siêu ngạch là hiện tượng thường xuyên. Vì vậy, giá trị thặng dư siêu ngạch là một động lực thúc đẩy các nhà tư bản cải tiến kỹ thuật, tăng năng suất lao động.

    · Giá trị thăng dư siêu ngạch là giá trị thặng dư tương đối giống nhau ở chỗ đều là tăng năng suất lao động. Vì vậy giá trị thặng dư siêu ngạch là biến tướng của giá trị thặng dư tương đối. Nhưng giữa chúng có sự khác nhau: giá trị thặng dư siêu ngạch dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động cá biệt; còn giá trị thặng dư tương đối thì dựa trên cơ sở tăng năng suất lao động.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa
  • Khái Niệm Cơ Bản Về Giá Trị, Giá Trị Sử Dụng, Giá Trị Trao Đổi Và Giá Cả Của Hàng Hóa ?
  • Bài Tập Tiếng Anh Lớp 6 Dạng So Sánh Của Tính Từ
  • Cấu Trúc & Bài Tập So Sánh Hơn Và So Sánh Nhất Trong Tiếng Anh
  • Câu So Sánh Trong Tiếng Trung: Cấu Trúc, Mẫu Câu Và Cách Dùng Chuẩn Nhất ⇒By Tiếng Trung Chinese
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100