Ví Dụ Về Phương Pháp So Sánh Trực Tiếp

--- Bài mới hơn ---

  • Tổng Hợp 3 Phương Pháp Làm Bài Văn Nghị Luận Văn Học So Sánh Chuẩn Nhất
  • Thực Hành Psmatch2 Và Teffects
  • So Sánh Công Nghệ Xử Lý Nước Thải Hiếu Khí Và Kỵ Khí * Vật Tư Tiêu Hao, Nông Nghiệp, Thủy Sản, Môi Trường,…
  • Các Phương Pháp Xác Định Chi Phí Để Định Giá Bất Động Sản
  • Học Giao Tiếp Tiếng Nhật Với Phương Pháp Shadowing
  • (Nguồn: Thông tư sô 14512007ITT-BTC ngày 06!Ì2I2007

    Áp dụng phương pháp so sánh trực tiếp để xác định giá đất (để đơn giản và dễ hiểu, ví dụ này chỉ giới thiệu phương pháp so sánh trực tiếp để xác định giá đất của thửa đất, khu đất cần định giá với một thửa đất, khu đất so sánh).

    Giả định trong quá trình định giá khu đất ở có diện tích 20.000m2 thuộc một đô thị loại V (kí hiệu là khu đất B), cơ quan định giá đã thu thập được thông tin về một khu đất liền kề có diện tích 25.000m2 có thể so sánh được với khu đất cần định giá đã được tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất thành công để đầu tư xây dựng nhà ở (kí hiệu là khu đất A) diễn ra trong khoảng thời gian gần nhất với thời điểm xác định giá khu đất B. Tổng số tiền thu được từ đấu giá khu đất A là 125 tỷ đồng, tính ra đơn giá một mét vuông là 5,0 triệu đồng (5 triệu đ/m2).

    Với tất cả thông tin thu thập được cơ quan định giá tiến hành so sánh giữa khu đất A và khu đất B như sau:

    Trên cơ sở mức giá đấu giá thành công của khu đất A là 125 tỷ đồng so sánh để định giá cho khu đất B, mức giá của khu đất B sẽ bị giảm:

    – Chiều rộng mặt tiền: B kém A: 2 điểm, giảm 10% = 12,5 tỷ đồng

    – Chiều sâu của khu đất: B kém A: 1 điểm, giảm 5% = 6,25 tỷ đồng

    – Giao thông: B kém A: 1,5 điểm, giảm 7,5% = 9,375 tỷ đồng

    Tổng sô’ giảm giá do khác biệt B kém A: 28,125 tỷ đồng

    B sẽ được cộng thêm:

    – Độ bụi: B hơn A: 1 điểm, tăng 5% = 6,25 tỷ đồng

    Tống số tăng giá do khác biệt B hơn A: 6,25 tỷ đồng

    Giá khu đất A dược điều chỉnh lại (kí hiệu là A’) theo những yếu tố khác biệt của khu đất B được tính toán như sau: A’ = 125 – 28,125 + 6,25 = 103,125 (tỷ đồng)

    Tính ru đơn giá một mét vuông lù: 103.125 triệu đồng : 25.000 m2 = 4,125 triệu đ/m2.

    Tương tự, giả sử cơ quan định giá lựa chọn được thêm 2 khu đất c và D nữa để so sánh với khu đất B. Kết quả phân tích, so sánh đã xác định được đơn giá của khu đất c đã điều chính theo các yếu tố của khu đất B là 4,5 triệu đ/m2 và của khu đất D đã điểu chính là 4,05 triệu đ/m2.

    Đơn giá khu đất B được xác định bằng cách lấy mức giá trung bình của 3 mức giá đã điểu chỉnh ở trên: (4,125 + 4,5 + 4,05): 3 = 4,225 (triệu đ/m2).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Xác Định Giá Trong Giao Dịch Liên Kết
  • Nội Dung Chính Của Thông Tư 41/2017/tt
  • Các Môn Học Thuộc Bộ Môn Kỹ Thuật Ô Tô
  • So Sánh Các Phương Pháp Kiểm Tra Không Phá Hủy Khác Nhau
  • Đồ Án Tốt Nghiệp Cơ Điện Tử Thiết Kế Chế Tạo Mô Hình Hệ Thống Lắp Ráp Tự Động
  • Phương Pháp Vấn Đáp(Đàm Thoại)

    --- Bài mới hơn ---

  • Chuẩn Mực Số 7: Kế Toán Các Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Kết
  • Cách Vẽ Hình Chiếu Thứ 3 Siêu Nhanh Trong Autocad
  • Volume Spread Analysis (Vsa) – Phân Tích Về Giá Và Khối Lượng – Phần 1
  • Hướng Dẫn Cách Phân Tích Khối Lượng Giao Dịch Vsa Từ Biểu Đồ Nến
  • Lăn Kim, Phi Kim Và Vi Kim Là Gì ? Nên Dùng Lăn Kim, Phi Kim Hay Vi Kim?
  • --- Bài cũ hơn ---

  • Dạy Học Bằng Phương Pháp Vấn Đáp, Đàm Thoại
  • Những Phương Pháp Uốn Ống Phổ Biến Hiện Nay
  • Cách Uống Nước Lọc “Chuẩn” Giúp Bạn Giảm Cân Không Cần Ăn Kiêng
  • Bí Quyết Uống Nước Giảm Cân Trong 10 Ngày Không Cần Ăn Kiêng
  • Mẹo Giảm Cân Nhanh Chóng Nhờ Uống Nước Lọc Đúng Cách
  • Ví Dụ Về Phương Pháp Định Giá Đất So Sánh Trực Tiếp

    --- Bài mới hơn ---

  • Giá Đất Và Phương Pháp Xác Định Giá Đất
  • Điểm Danh 5 Phương Pháp Định Giá Đất Bất Động Sản
  • Phương Pháp Thẩm Định Giá Bất Động Sản
  • Các Phương Pháp Thẩm Định Giá Bất Động Sản Hiện Hành
  • Các Phương Pháp Nghiên Cứu Thực Vật
  • Một ví dụ về phương pháp so sánh trực tiếp được trích từ Phụ lục 1 của Thông tư 36/2014/TT-BTNMT

    Nội dung ví dụ:

    Thửa đất cần định giá là thửa đất ở tại đô thị loại IV, giáp mặt đường Nguyễn Văn A, gần chợ, trường học, bệnh viện, tập trung đông dân cư, có diện tích 100m2 (kí hiệu là thửa đất A), đường nhựa, mặt cắt (bao gồm cả vỉa hè) 15m. Việc xác định giá của thửa đất A theo phương pháp so sánh trực tiếp thực hiện như sau:

    Thời điểm xác định giá đất: tháng 6 năm 2014.

    Khảo sát thị trường, thu thập được thông tin về giá đất của 03 thửa đất ở (kí hiệu là thửa đất B, C và D) tại cùng đô thị trên đã chuyển nhượng thành công trong khoảng thời gian 2 năm đến thời điểm xác định giá, có đặc điểm tương tự với thửa đất A. Giả sử trong thời gian từ tháng 3 năm 2013 đến tháng 6 năm 2014, giá đất ở phổ biến trên thị trường tại đô thị loại IV không có biến động.

    Tiến hành thu thập các thông tin của 03 thửa đất so sánh B, C, D:

    Khảo sát thị trường, thu thập được các thông tin:

    – Thửa đất tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn A hơn thửa đất tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn B là 4%; hơn thửa đất tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn C là 2%.

    – Thửa đất tiếp giáp với đường có mặt cắt rộng 15m hơn thửa đất tiếp giáp với đường có mặt cắt rộng 10m là 5%; kém hơn thửa đất tiếp giáp với 2 đường có mặt cắt rộng 15m và 6m là 10%.

    – Thửa đất có kích thước mặt tiền 10m hơn thửa đất có mặt tiền 7m là 5%, hơn thửa đất có mặt tiền 6m là 6%.

    – Thửa đất có chiều sâu 10m hơn thửa đất có chiều sâu 15m là 2%.

    – Thửa đất thuộc khu vực cấp nước sạch tốt hơn thửa đất thuộc khu vực cấp nước sạch kém ổn định là 2%.

    1. Phân tích, so sánh, điều chỉnh mức giá do các yếu tố khác biệt của các thửa đất so sánh với thửa đất cần định giá
    2. a) Phân tích, so sánh để lựa chọn các yếu tố giống nhau và khác biệt giữa các thửa đất so sánh với thửa đất cần định giá.

    Kết quả phân tích cho thấy thửa đất cần định giá và 03 thửa đất so sánh có 03 yếu tố giống nhau (mục đích sử dụng, không có tài sản gắn liền với đất, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), 05 yếu tố khác biệt (vị trí; giao thông; diện tích, kích thước; các yếu tố hạ tầng khác).

      b) Điều chỉnh mức giá do các yếu tố khác biệt của các thửa đất so sánh với thửa đất cần định giá.

    – Điều chỉnh mức giá do yếu tố khác biệt về vị trí: thửa đất A bằng thửa đất D (tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn A), hơn thửa đất B (tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn B) là 4%, hơn thửa đất C (tiếp giáp mặt đường Nguyễn Văn C) là 2%.

    Giá đất của thửa đất cần định giá A và thửa đất D là 100% thì giá đất của thửa đất B là 96%, giá đất của thửa đất C là 98%.

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất B là:

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất C là:

    – Điều chỉnh mức giá do yếu t khác biệt về giao thông: thửa đất A bằng thửa đất C (cùng tiếp giáp với đường có mặt cắt rộng 15m), hơn thửa đất B (tiếp giáp với đường có mặt cắt rộng 10m) là 5%, kém hơn thửa đất D (tiếp giáp với 2 đường có mặt cắt rộng 15m và 6m) là 10%.

    Giá đất của thửa đất cần định giá A và thửa đất C là 100% thì giá đất của thửa đất B là 95%, giá đất của thửa đất D là 110%.

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất B là:

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất D là:

    Điều chnh mức giá do yếu tố khác biệt về diện tích, kích thước: thửa đất A bằng thửa đất B (cùng có kích thước mặt tiền 10m), hơn thửa đất C (có kích thước mặt tiền 7m) là 5%, hơn thửa đất D (có kích thước mặt tiền 6m) là 6%.

    Thửa đất A và thửa đất C (có chiều sâu 10m) hơn thửa đất B và thửa đất D (có chiều sâu 15m) là 2%.

    Giá đất của thửa đất cần định giá A là 100% thì giá đất của thửa đất B là 98%, giá đất của thửa đất C là 95%, giá đất của thửa đất D là 92%.

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất B là:

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất C là:

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất D là:

    – Điều chỉnh mức giá do yếu tố khác biệt về hạ tầng khác:

    Cấp nước sạch: thửa đất A bằng thửa đất D (thuộc khu vực cấp nước tốt) hơn thửa đất B và thửa đất C (thuộc khu vực cấp nước kém ổn định) là 2%.

    Giá đất của thửa đất cần định giá A và thửa đất D là 100% thì giá đất của thửa đất B và thửa đất C là 98%.

    Tỷ lệ điều chỉnh của thửa đất B và thửa đất C là:

    Tỷ lệ chênh lệch giữa giá đất của thửa đất cần định giá A với giá đất ước tính theo thửa đất so sánh B là:

    Tương tự có tỷ lệ chênh lệch giữa giá đất của thửa đất cần định giá A với giá đất ước tính theo thửa đất C và thửa đất D lần lượt là -1,97% và 1,27%.

    Do đó, giá đất của thửa đất cần định giá A bảo đảm chênh lệch với các giá đất ước tính không quá 10%.

    Kết luận: Giá đất của thửa đất cần định giá A là 34,30 triệu đồng/m 2

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phân Tích Và Lựa Chọn Đối Tượng So Sánh Độc Lập
  • Phương Pháp So Sánh Giá Giao Dịch Độc Lập
  • Kỹ Thuật Định Giá Doanh Nghiệp Nhanh Bằng P/e Và Ev/ebitda
  • P/e Là Gì? Tìm Hiểu P/e Từ A Đến Z
  • Thẩm Định Giá Doanh Nghiệp Theo Phương Pháp So Sánh Dựa Vào Tỷ Số P/b
  • Ví Dụ Về Phương Pháp Định Giá Đất – Phương Pháp Chiết Trừ – Luật Sư Đỗ Minh

    --- Bài mới hơn ---

  • Nguyên Lý Cơ Bản: Tách Chiết Adn Bằng Phenol
  • Tách Chiết Adn Từ Máu Ngoại Vi/ Máu Cuống Rốn
  • Phân Tích Định Tính Và Định Lượng Β
  • Kỹ Thuật Chiết Xuất “Xanh” – Nền Tảng Tạo Ra Các Hợp Chất Thiên Nhiên Chất Lượng Cao
  • Chiết Xuất Tinh Dầu Như Thế Nào?
  • Một ví dụ về phương pháp định giá đất chiết trừ trích từ phụ lục số 02 ban hành kèm thông tư 36/2014/TT-BTNMT

    Ví dụ phương pháp chiết trừ:

    Thửa đất cần định giá là một thửa đất ở tại thành phố A, giáp mặt đường nội bộ rộng 8m trong một khu đô thị mới, có diện tích 90m2 (mặt tiền 5m x chiều sâu 18m), trên thửa đất đã xây dựng nhà 3 tầng hoàn chỉnh. Việc xác định giá của thửa đất trên theo phương pháp chiết trừ thực hiện như sau:

    1. Khảo sát, thu thập thông tin

    Khảo sát thị trường, thu thập được thông tin về 03 bất động sản có đặc điểm tương tự với bất động sản cần định giá trong cùng khu đô thị trên. Để đơn giản, trong ví dụ này chỉ thực hiện ước tính giá đất của 01 bất động sản so sánh trong số 03 bất động sản đã giao dịch thành công.

    Các thông tin thu thập được của bất động sản so sánh đó là một ngôi nhà có diện tích mặt bằng là 100m2 (nhà 03 tầng, diện tích xây dựng mỗi tầng 75m2; mặt tiền 5m) nằm tiếp giáp đường nội bộ khác rộng 8m; giá bán bất động sản (nhà và đất) giao dịch thành công là 7.200 triệu đồng, thời điểm chuyển nhượng cách thời điểm hiện tại 6 tháng, trong thời gian này giá đất trên thị trường tương đối ổn định.

    Khi phân tích, so sánh mức giá do các yếu tố khác biệt giữa thửa đất của bất động sản so sánh với thửa đất của bất động sản cần định giá, xác định được tỷ lệ điều chỉnh mức giá là 6%.

    Khảo sát thực địa và thị trường thu thập được số liệu sau:

    – Đơn giá xây dựng ngôi nhà có tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương theo giá thị trường hiện tại là 7 triệu đồng/m2 sàn (đơn giá trọn gói).

    – Ngôi nhà đã được sử dụng 12 năm; tuổi đời kinh tế dự kiến là 40 năm.

    1. Xác định giá trị hiện tại của tài sản gắn liền với đất của các bất động sản so sánh

    – Tổng diện tích sàn xây dựng của ngôi nhà: 75m2/tầng x 3 tầng = 225 m2.

    – Chi phí thay thế xây dựng mới ngôi nhà có diện tích và tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương:

    7 triệu đồng/m2 x 225 m2 = 1.575 triệu đồng.

    – Xác định giá trị hao mòn:

    + Tỷ lệ hao mòn: áp dụng phương pháp xác định tỷ lệ hao mòn theo tuổi đời kinh tế:

    Tỷ lệ hao mòn của ngôi nhà=          1–Số năm sử dụng còn lạiTuổi đời kinh tế=          1          –28= 0,30 hoặc 30%40

    + Giá trị hao mòn: 1.575 triệu đồng x 30% = 472,5 triệu đồng

    – Giá trị hiện tại của ngôi nhà:

    1.575 triệu đồng – 472,5 triệu đồng = 1.102,5 triệu đồng

    1. Ước tính giá đất của bất động sản so sánh

    Giá trị đất của bất động sản so sánh là:

    7.200 triệu đồng – 1.102,5 triệu đồng = 6.097,5 triệu đồng

    Giá đất của bất động sản so sánh là:

    6.097,5 triệu đồng/100m2 = 60,975 triệu đồng/m2

    1. Ước tính giá đất của bất động sản cần định giá

    Tỷ lệ điều chỉnh mức giá do các yếu tố khác biệt giữa thửa đất của bất động sản so sánh với thửa đất của bất động sản cần định giá là 6%. Do đó giá đất ước tính của bất động sản cần định giá là:

    60,975 triệu đồng + (60,975 triệu đồng x 6%) = 64,634 triệu đồng/m2

    Làm tròn: 64,6 triệu đồng/m2

    Giả định có 02 bất động sản so sánh khác, áp dụng phương pháp xác định giá trị hiện tại của tài sản gắn liền với đất, xác định được giá đất lần lượt là: 58 triệu đồng/m2 và 65 triệu đồng/m2. Sau khi phân tích, so sánh mức giá do các yếu tố khác biệt giữa 02 thửa đất của 02 bất động sản so sánh này với thửa đất của bất động sản cần định giá, xác định được tỷ lệ điều chỉnh mức giá lần lượt là 7% và -2%.

    Từ đó, giá đất ước tính của bất động sản cần định giá theo giá đất của 02 bất động sản so sánh nêu trên là:

    58,0 triệu đồng + (58,0 triệu đồng x 7%) = 62,06 triệu đồng/m2

    65,0 triệu đồng + [65,0 triệu đồng x (-2%)] = 63,70 triệu đồng/m2

    1. Xác định giá đất của bất động sản cần định giá

    Giá đất của bất động sản cần định giá=64,6 + 62,06 + 63,70

    3

    =63,45 triệu đồng/m2

    Tỷ lệ chênh lệch giữa giá đất của bất động sản cần định giá với giá đất ước tính theo các bất động sản so sánh lần lượt là: -1,78% ; 2,24% và -0,39%.

    Do đó, giá đất của bất động sản cần định giá bảo đảm chênh lệch với các giá đất ước tính không quá 10%.

    Kết luận: Giá đất của bất động sản cần định giá là 63,45 triệu đồng/m2

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Tính Chiết Khấu Dòng Tiền Dưới Góc Nhìn Của Nđt Giá Trị Monish Panbrai – Cophieux
  • Sàng Lọc Ung Thư Cổ Tử Cung Bằng Phương Pháp Quan Sát Cổ Tử Cung Với Acid Acetic (Via) Tại Bắc Ninh Và Cần Thơ Năm 2013
  • Tổng Quan Các Phương Pháp Sàng Lọc Ung Thư Cổ Tử Cung
  • Phương Pháp Sàng Lọc Ung Thư Cổ Tử Cung
  • Quy Trình Sàng Lọc Ung Thư Cổ Tử Cung
  • Dạy Học Bằng Phương Pháp Vấn Đáp, Đàm Thoại

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Vấn Đáp(Đàm Thoại)
  • Chuẩn Mực Số 7: Kế Toán Các Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Kết
  • Cách Vẽ Hình Chiếu Thứ 3 Siêu Nhanh Trong Autocad
  • Volume Spread Analysis (Vsa) – Phân Tích Về Giá Và Khối Lượng – Phần 1
  • Hướng Dẫn Cách Phân Tích Khối Lượng Giao Dịch Vsa Từ Biểu Đồ Nến
  •  1.Phương pháp vấn đáp, đàm thoại trong giảng dạy là gì?

    2. Các loại vấn đáp

    Có 3 loại vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích minh họa và vấn đáp tìm tòi

    • Vấn đáp tái hiện: Được thực hiện khi những câu hỏi do

      giáo viên

      đặt ra chỉ yêu cầu

      học sinh

      nhắc lại kiến thức

    • Vấn đáp giải thích minh họa được thực hiện khi những câu hỏi giáo viên đặt ra có kèm theo các VD minh họa (bằng lời hay bằng hình ảnh trực quan) giúp học sinh dễ hiểu, dễ ghi nhớ
    • Vấn đáp tìm tòi ( hay vấn đáp phát hiện) là loại vấn đáp mà giáo viên tổ chức sự trao đổi ý kiến giữa thầy với cả lớp, giữa trò với trò

    3. Ưu nhược điểm của phương pháp vấn đáp

    • Ưu điểm

    Rèn luyện tư duy cho học sinh qua các tài liệu có sẵn hoặc do học sinh tự tìm tòi

    Kích thích tính tích cực của học sinh trong học tập

    Bồi dưỡng năng lực diễn đạt bằng lời cho học sinh một cách chính xác, đầy đủ, xúc tích

    Tạo tương tác hai chiều cho cả giáo viên và học sinh giúp giáo viên điều chỉnh bài giảng của mình cho phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

    Theo dõi sát quá trình học tập của học sinh

    • Nhược điểm

    Giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian và công sức, phải có năng lực sư phạm tốt.

     

    CÁC DỊCH VỤ CỘNG THÊM NGOÀI DÀNH CHO KHÁCH HÀNG CÓ NHU CẦU

    • Dịch vụ cho thuê máy tính
    • Dịch vụ cho thuê biển thông báo sự kiện
    • Dịch vụ cho thuê wifi di động
    • Dịch vụ camera di động
    • Dịch vụ phòng chờ
    • Dịch vụ lễ tân
    • Dịch vụ văn phòng

    Liên hệ tư vấn và đặt phòng:

    HOTLINE: 0915.259.497

    TẦNG 7 – TRUNG TÂM THƯƠNG MẠI VÂN HỒ – SỐ 51 LÊ ĐẠI HÀNH – HAI BÀ TRƯNG – HÀ NỘI

     

    --- Bài cũ hơn ---

  • Những Phương Pháp Uốn Ống Phổ Biến Hiện Nay
  • Cách Uống Nước Lọc “Chuẩn” Giúp Bạn Giảm Cân Không Cần Ăn Kiêng
  • Bí Quyết Uống Nước Giảm Cân Trong 10 Ngày Không Cần Ăn Kiêng
  • Mẹo Giảm Cân Nhanh Chóng Nhờ Uống Nước Lọc Đúng Cách
  • 5 Cách Uống Nước Giảm Cân Siêu Tốc Trong 10 Ngày Không Cần Ăn Kiêng
  • Phương Pháp Vốn Cổ Phần (Equity Method) Là Gì? Ví Dụ Về Phương Pháp Vốn Cổ Phần

    --- Bài mới hơn ---

  • Phương Pháp Volume Spread Analysis (Vsa) Là Gì?
  • Phương Pháp Vsa (Volume Spread Analysis) Là Gì Và Các Mẫu Hình Cơ Bản
  • Đừng Tự Hại Mình Với Phương Pháp Vi Kim Tảo Biển
  • Vi Kim Tảo Biển Là Gì? Có An Toàn Không? Quy Trình Thực Hiện?
  • Lịch Sử Phương Pháp Wyckoff
  • Khái niệm

    Phương pháp vốn cổ phần trong tiếng Anh là Equity Method.

    Phương pháp vốn cổ phần là một kĩ thuật kế toán được sử dụng bởi một công ty để ghi lại lợi nhuận kiếm được thông qua khoản đầu tư vào một công ty khác. Với phương pháp kế toán vốn chủ sở hữu, công ty đầu tư báo cáo doanh thu mà công ty nhận đầu tư kiếm được trên báo cáo thu nhập của mình, theo tỉ lệ tương ứng với khoản đầu tư vốn vào công ty nhận đầu tư.

    Hiểu về phương pháp vốn cổ phần

    Phương pháp vốn cổ phần là kĩ thuật tiêu chuẩn được sử dụng khi công ty đầu tư có ảnh hưởng đáng kể đến công ty nhận đầu tư. Khi một công ty nắm giữ khoảng 20% đến 50% cổ phiếu của công ty khác, nó được coi là có ảnh hưởng đáng kể. Các công ty có cổ phần dưới 20% trong một công ty khác cũng có thể có ảnh hưởng đáng kể, trong trường hợp đó họ cũng cần sử dụng phương pháp vốn cổ phần.

    Ảnh hưởng đáng kể được định nghĩa là quyền tham gia của công ty đầu tư vào việc đưa ra các quyết định về chính sách tài chính và chính sách hoạt động của bên được đầu tư nhưng không kiểm soát hoặc đồng kiểm soát các chính sách đó. Quyền lực này bao gồm đại diện trong ban giám đốc, tham gia xây dựng chính sách và trao đổi nhân sự quản lí.

    Cách ghi doanh thu và thay đổi tài sản theo phương pháp vốn cổ phần

    Phương pháp vốn cổ phần thừa nhận mối quan hệ kinh tế tồn tại giữa hai chủ thể. Công ty đầu tư ghi lại phần thu nhập của công ty nhận đầu tư dưới dạng doanh thu từ đầu tư trên báo cáo thu nhập. Ví dụ: nếu một công ty sở hữu 25% công ty khác có thu nhập ròng 1 triệu đô la, công ty báo cáo thu nhập từ đầu tư 250.000 đô la theo phương pháp vốn cổ phần.

    Khi công ty đầu tư có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả hoạt động và tài chính của công ty nhận đầu tư, nó có thể ảnh hưởng trực tiếp đến giá trị đầu tư của công ty đầu tư. Công ty đầu tư ghi nhận khoản đầu tư ban đầu vào cổ phiếu của công ty thứ hai như một tài sản với giá gốc. Theo phương pháp vốn cổ phần, giá trị của khoản đầu tư được điều chỉnh định kì để phản ánh các thay đổi về giá trị. Điều chỉnh cũng được thực hiện khi cổ tức được chi trả cho các cổ đông.

    Sử dụng phương pháp vốn cổ phần, một công ty báo cáo giá trị sổ sách của khoản đầu tư độc lập với bất kì thay đổi giá trị nào trên thị trường. Với ảnh hưởng đáng kể đến các chính sách điều hành và tài chính của một công ty khác, công ty đầu tư đang đặt cơ sở giá trị đầu tư của mình vào những thay đổi về giá trị tài sản ròng của công ty đó từ hoạt động kinh doanh, tài chính và kết quả hoạt động. Ví dụ, khi công ty được đầu tư báo cáo lỗ ròng, công ty đầu tư ghi lại phần lỗ của họ là “khoản lỗ đầu tư” trên báo cáo thu nhập, điều này cũng làm giảm giá trị đầu tư trên bảng cân đối kế toán.

    Khi công ty được đầu tư trả cổ tức bằng tiền mặt, giá trị tài sản ròng của nó sẽ giảm. Sử dụng phương pháp vốn cổ phần, công ty đầu tư nhận cổ tức ghi nhận sự gia tăng số dư tiền mặt của mình, nhưng trong khi đó, báo cáo giảm giá trị sổ sách của khoản đầu tư. Các hoạt động tài chính khác ảnh hưởng đến giá trị tài sản ròng của công ty nhận đầu tư sẽ có tác động tương tự đến giá trị cổ phần đầu tư của công ty đầu tư.

    Ví dụ về Phương pháp vốn cổ phần

    Ví dụ: giả sử công ty ABC mua 25% của công ty XYZ với giá 200.000 đô la. Vào cuối năm đầu tiên, XYZ Corp báo cáo thu nhập ròng 50.000 đô la và trả cổ tức 10.000 đô la cho các cổ đông. Tại thời điểm mua, công ty ABC ghi nợ với số tiền 200.000 đô la vào khoản “Đầu tư vào XYZ” trong tài khoản tài sản và ghi có tương đương vào khoản tiền mặt.

    Cuối năm, công ty ABC ghi nợ với số tiền 12.500 đô la (25% của khoản thu nhập ròng 50.000 đô la) vào khoản “Đầu tư vào XYZ” trong tài khoản tài sản và ghi có tương đương vào khoản doanh thu đầu tư. Ngoài ra, công ty ABC ghi nợ số tiền 2.500 đô la (25% từ khoản chia cổ tức 10.000 đô la) vào khoản tiền mặt trong tài khoản tài sản và ghi có tương đương vào khoản “Đầu tư vào XYZ”. Ghi nợ cho khoản đầu tư làm tăng giá trị tài sản, trong khi ghi có cho khoản đầu tư làm giảm nó.

    Số dư mới trong tài khoản “Đầu tư vào XYZ” là 210.000 đô la. Doanh thu đầu tư 12.500 đô la sẽ xuất hiện trên báo cáo thu nhập của ABC. Số dư 210.000 đô la mới trong tài khoản đầu tư sẽ xuất hiện trên bảng cân đối kế toán của ABC. Khoản tiền mặt 197.500 đô la được thanh toán trong năm (mua 200.000 đô la – nhận cổ tức 2.500 đô la) sẽ xuất hiện trong dòng tiền từ phần hoạt động đầu tư của báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

    (Theo Investopedia)

    Lê Huy

    --- Bài cũ hơn ---

  • Kế Toán Khoản Đầu Tư Vào Công Ty Liên Doanh Liên Kết Theo Phương Pháp Vốn Chủ Sở Hữu ⋆ Kế Toán Ytho
  • Phạm Vi Áp Dụng Phương Pháp Vốn Chủ Sở Hữu
  • Phương Pháp Dạy Học Và Kĩ Thuật Dạy Học
  • Tính Điện Trở Qua Phương Pháp Vẽ Lại Mạch Điện Cực Hay
  • Cách Uốn Ống Đồng Không Bị Bẹp
  • Phương Pháp Qui Nạp Ngược (Backward Induction) Là Gì? Ví Dụ Về Phương Pháp Qui Nạp Ngược

    --- Bài mới hơn ---

  • Sách Giải Bài Tập Toán Lớp 11 Bài 1: Phương Pháp Quy Nạp Toán Học (Nâng Cao)
  • Phương Pháp Cm Quy Nạp Cực Kỳ Dễ Chungmingquynap08 Doc
  • Cm Quy Nạp Toán Học Phuong Phap Cm Quy Nap Doc
  • Chuyên Đề Quy Nạp Toán Học
  • Phương Pháp Quy Nạp Toán Học
  • Khái niệm

    Phương pháp qui nạp ngược trong tiếng Anh là Backward Induction.

    Phương pháp qui nạp ngược trong lí thuyết trò chơi là một quá trình lặp đi lặp lại của lí luận ngược thời gian từ khi kết thúc một vấn đề hoặc tình huống để giải quyết các khuôn mẫu phổ thông hữu hạn và những trò chơi tuần tự để đưa ra một chuỗi các hành động tối ưu.

    Ở mỗi giai đoạn của trò chơi, phương pháp qui nạp ngược quyết định chiến lược tối ưu của người chơi thực hiện bước cuối cùng trong trò chơi. Sau đó, hành động tối ưu của người chơi tiếp theo được xác định, thực hiện hành động của người chơi cuối cùng như đã đưa ra.

    Quá trình này tiếp tục về phía sau cho đến khi hành động tốt nhất cho mọi thời điểm đã được xác định. Thực tế, người ta xác định trạng thái cân bằng Nash của mỗi trò chơi con trong trò chơi gốc.

    Tuy nhiên, kết quả suy ra từ phương pháp qui nạp ngược thường không dự đoán được lối chơi thực tế của con người. Các nghiên cứu thực nghiệm đã chỉ ra rằng hành vi “hợp lí” (theo dự đoán của lí thuyết trò chơi) hiếm khi được thể hiện trong cuộc sống thực. Người chơi phi lí thực sự có thể kết thúc việc nhận thưởng phạt cao hơn so với dự đoán của phương pháp qui nạp ngược, như minh họa trong Trò chơi con rết.

    Ví dụ về phương pháp qui nạp ngược

    Ví dụ, giả sử người chơi A đi trước và phải quyết định xem anh ta có nên “lấy” hay “bỏ qua” thứ được cất giấu, số tiền hiện tại là 2 đô la. Nếu anh ta lấy, thì A và B nhận được 1 đô la cho mỗi người, nhưng nếu A bỏ qua, quyết định lấy hay bỏ qua bây giờ được đưa ra bởi người chơi B.

    Nếu B lấy, cô ấy nhận được 3 đô la (nghĩa là, trước đó là 2 đô la + 1 đô la) và A được 0 đô la. Nhưng nếu B bỏ qua, A sẽ quyết định lấy hay bỏ qua, và cứ thế. Nếu cả hai người chơi luôn chọn bỏ qua thì mỗi người sẽ nhận được số tiền thưởng là 100 đô la vào cuối trò chơi.

    Điểm hay của trò chơi là nếu cả A và B cùng hợp tác và tiếp tục bỏ qua cho đến khi kết thúc trò chơi thì họ sẽ nhận được khoản tiền thưởng tối đa 100 đô la mỗi người. Nhưng nếu họ không tin tưởng nhau và mong họ chọn “lấy” ngay tại cơ hội đầu tiên thì trạng thái cân bằng Nash dự đoán người chơi sẽ nhận được món tiền thấp nhất có thể (1 đô la trong trường hợp này).

    Điểm cân bằng Nash trong trò chơi này là nơi không có người chơi nào có động cơ đi chệch khỏi chiến lược đã chọn của mình sau khi xem xét lựa chọn của đối thủ, cho thấy người chơi đầu tiên sẽ tham gia vào vòng đầu tiên của trò chơi. Tuy nhiên, trong thực tế, tương đối ít người chơi làm như vậy. Kết quả là, họ nhận được lượng tiền cao hơn lượng tiền dự đoán theo phân tích cân bằng.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Cách Thức Trình Bày Đoạn Văn: Diễn Dịch
  • Phương Pháp Chứng Minh Quy Nạp
  • Một Số Biện Pháp Phát Triển Ngôn Ngữ Cho Trẻ 3 Tuổi
  • Tiêm Huyết Tương Giàu Tiểu Cầu Prp Có Tác Dụng Gì? Chi Phí Giá Tiêm Khoảng Bao Nhiêu?
  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp Tiêm Huyết Tương Giàu Tiểu Cầu (Prp) Điều Trị Thoái Hóa Khớp Gối Tại Vinmec
  • Các Tính Năng Và Ví Dụ Về Phương Pháp Fifo / Quản Trị Tài Chính

    --- Bài mới hơn ---

  • Tính Giá Theo Phương Pháp Nhập Trước Xuất Trước (Fifo)
  • Fifo Là Gì? Lifo Là Gì? Sự Khác Biệt Giữa Phương Pháp Fifo Và Lifo
  • Tiểu Luận Môn Kế Toán Quốc Tế Phân Tích Ảnh Hưởng Việc Bỏ Đi Phương Pháp Lifo Trong Hệ Thống Kế Toán Một Doanh Nghiệp
  • Phương Pháp Nhập Sau, Xuất Trước (Last In, First Out
  • Hướng Dẫn Trẻ Học Toán Theo Phương Pháp Finger Math
  • các Phương pháp FIFO đó là một kỹ thuật định giá hàng tồn kho có chữ cái đầu tương ứng với “First In, First Out” (nhập trước, xuất trước). Nó giả định rằng dòng chi phí dựa trên thực tế là những sản phẩm đầu tiên được mua cũng là những sản phẩm đầu tiên được bán.

    Trong hầu hết các công ty, giả định này trùng khớp với dòng sản phẩm thực tế, đó là lý do tại sao phương pháp định giá hàng tồn kho trong lý thuyết được coi là đúng hơn. Khái niệm về dòng chảy FIFO là hợp lý để một công ty tuân theo, vì việc bán các sản phẩm lâu đời nhất trước tiên làm giảm nguy cơ lỗi thời hàng tồn kho.

    Phương pháp FIFO được cho phép theo Nguyên tắc kế toán được chấp nhận chung và Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế. Phương pháp này cung cấp kết quả tương tự theo hệ thống kiểm kê định kỳ hoặc vĩnh viễn.

    Phương pháp kế toán mà một công ty quyết định sử dụng để xác định chi phí hàng tồn kho có thể ảnh hưởng trực tiếp đến bảng cân đối kế toán, báo cáo thu nhập và báo cáo lưu chuyển tiền tệ..

    Chỉ số

    Tính năng

    Theo phương pháp FIFO, các sản phẩm đầu tiên được mua là sản phẩm đầu tiên bị xóa khỏi tài khoản hàng tồn kho. Điều này khiến các sản phẩm còn lại trong kho được hạch toán cho các chi phí phát sinh gần đây nhất.

    Do đó, tài sản hàng tồn kho được ghi trong bảng cân đối kế toán sẽ chứa chi phí khá gần với chi phí gần đây nhất có thể có được trên thị trường.

    Tuy nhiên, phương pháp này cũng có nghĩa là các chi phí lịch sử lâu đời nhất được so sánh với doanh thu hiện tại, khi chúng được ghi nhận trong giá vốn hàng bán. Điều này có nghĩa là tỷ suất lợi nhuận gộp không nhất thiết phản ánh sự kết hợp đầy đủ giữa thu nhập và chi phí.

    Nếu giá đang tăng, FIFO cho chúng ta một dấu hiệu tốt hơn về giá trị của hàng tồn kho cuối cùng trong bảng cân đối kế toán, nhưng cũng làm tăng thu nhập ròng, bởi vì hàng tồn kho có thể vài năm tuổi được sử dụng để định giá giá vốn hàng bán..

    Hậu cần

    Hàng tồn kho được chỉ định chi phí khi các mặt hàng được chuẩn bị để bán. Những chi phí được phân bổ cho FIFO dựa trên những gì đến trước. Ví dụ: nếu 100 mặt hàng được mua với giá 10 đô la và sau đó mua thêm 100 mặt hàng với giá 15 đô la, thì FIFO sẽ phân bổ chi phí của mặt hàng đầu tiên được bán lại thành 10 đô la.

    Sau khi bán 100 mặt hàng, chi phí mặt hàng mới sẽ trở thành 15 đô la, bất kể mua hàng tồn kho bổ sung được thực hiện.

    Phương pháp FIFO tuân theo logic rằng để tránh lỗi thời, một công ty sẽ bán các mặt hàng cũ nhất trong kho trước và giữ các mặt hàng mới nhất trong kho..

    Đối với loại hình kinh doanh tốt hơn

    Nếu một công ty bán các mặt hàng dễ hỏng và bán các mặt hàng cũ trước, FIFO sẽ đưa ra tính toán chính xác nhất về hàng tồn kho và lợi nhuận bán hàng. Điều này bao gồm các doanh nghiệp bán lẻ bán thực phẩm hoặc các sản phẩm khác có ngày hết hạn, chẳng hạn như thuốc.

    Tuy nhiên, ngay cả các công ty không phù hợp với mô tả này có thể muốn sử dụng phương pháp này vì lý do sau: theo FIFO, hàng tồn kho vẫn còn trên kệ vào cuối tháng được định giá bằng giá gần với giá hiện tại của những mặt hàng đó.

    Điều này sẽ tạo ra một báo cáo bảng cân đối vững chắc, bởi vì các tài sản có khả năng có giá trị cao hơn theo phương pháp FIFO so với phương pháp LIFO..

    Báo cáo lãi lỗ cũng sẽ phản ánh lợi ích lớn hơn theo phương pháp FIFO. Mặc dù điều này có thể dẫn đến thuế cao hơn, có thể xem xét sử dụng phương pháp này bởi vì nó sẽ cho thấy tình hình tài chính vững chắc hơn cho các nhà đầu tư và người cho vay tiềm năng..

    Ưu điểm

    – Kết quả của FIFO với giá thấp hơn của giá vốn hàng bán. Điều này là do thực tế là các mặt hàng cũ thường có chi phí thấp hơn các mặt hàng được mua gần đây, do khả năng tăng giá.

    – Giá trị hàng hóa bán ra thấp hơn sẽ mang lại lợi nhuận lớn hơn cho công ty.

    Nhược điểm

    – Hóa đơn thuế cao hơn. Bởi vì FIFO tạo ra lợi nhuận cao hơn, có khả năng sẽ phải trả nhiều thuế hơn.

    – Không có gì đảm bảo rằng các mặt hàng cũ hơn được bán trước, điều này có thể khiến sản phẩm đến ngày hết hạn trước khi được bán..

    Đây là điều mà nhiều cửa hàng tạp hóa trải nghiệm, bởi vì có những khách hàng lấy hàng hóa từ phía sau chứ không phải từ phía trước của kệ.

    Ví dụ

    Ví dụ 1

    Phương pháp FIFO giả định rằng đơn vị đầu tiên nhập vào kho là đơn vị đầu tiên được bán.

    Ví dụ: giả sử rằng một tiệm bánh sản xuất 200 ổ bánh mì với chi phí 1 đô la mỗi thứ Hai. Vào thứ ba, nó tạo ra thêm 200 ổ bánh, nhưng với chi phí 1,25 đô la mỗi cái.

    Phương pháp FIFO xác định rằng nếu tiệm bánh bán 200 ổ bánh vào thứ Tư, chi phí của hàng hóa bán ra này sẽ là 1 đô la cho mỗi bánh mì, tổng cộng là 200 đô la, được ghi trong báo cáo thu nhập, vì đó là chi phí của mỗi cái. trong số 200 ổ bánh mì đầu tiên trong kho.

    Nếu lạm phát không tồn tại, thì ba phương pháp định giá hàng tồn kho sẽ tạo ra kết quả chính xác như nhau. Khi giá vẫn ổn định, tiệm bánh có thể sản xuất tất cả bánh mì với giá 1 đô la, và FIFO, LIFO và chi phí trung bình sẽ có giá 1 đô la cho mỗi bánh mì..

    Ví dụ 2

    Ví dụ: giả sử một cửa hàng tạp hóa nhận được 50 đơn vị sữa vào thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu. Nếu bạn đến cửa hàng đó vào thứ Sáu để mua một gallon sữa, thì sữa được mua rất có thể sẽ được giao vào thứ Hai. Điều này là do đó là những gì đã được đưa lên kệ đầu tiên.

    Với phương pháp kiểm kê hàng năm, cửa hàng sẽ tương quan tất cả doanh số bán sữa với số tiền nhận được vào thứ Hai cho đến khi hết 50 đơn vị. Nó sẽ được thực hiện ngay cả khi khách hàng quay lại và lấy một hộp các tông mát hơn.

    Điều này nghe có vẻ sắc thái, nhưng nó trở nên rất quan trọng khi giá dao động từ nhà cung cấp. Ví dụ: nếu những gì nhận được vào thứ Tư có chi phí cao hơn những gì nhận được vào thứ Hai, do lạm phát hoặc biến động thị trường.

    Tài liệu tham khảo

    1. Đầu tư (2016). Định giá hàng tồn kho cho các nhà đầu tư: FIFO và LIFO. Lấy từ: Investopedia.com.
    2. Steven Bragg (2018). Phương pháp nhập trước xuất trước (FIFO). Công cụ kế toán. Lấy từ: notifytools.com.
    3. Cirtalynn Shelton (2017). Phương pháp kiểm kê hàng năm là gì? Đầu tiên, đầu tiên giải thích. Phù hợp với doanh nghiệp nhỏ Lấy từ: Fitmallbusiness.com.
    4. CFI (2019). Nhập trước xuất trước (FIFO). Lấy từ: Corporatefinanceinst acad.com.
    5. Will Kenton (2018). Đầu vào, đầu ra – FIFO. Đầu tư. Lấy từ: Investopedia.com.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Phương Pháp Nhập Trước, Xuất Trước (First In, First Out
  • 【Tin Tức】Tính Giá Xuất Kho Theo Phương Pháp Fifo
  • Tìm Hiểu Về Phương Pháp First In First Out Trong Kế Toán
  • Bài Tập Về Tính Giá Các Đối Tượng Kế Toán
  • Cách Tính Giá Xuất Kho Theo Phương Pháp Fifo
  • Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Các Dạng Hình Tứ Giác
  • Tập Huấn Văn:phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Chuyen De Ve Lai Mach Dien Và Tính Giá Trị Điện Trở
  • Phương Pháp Dạy Học Theo Định Hướng Phát Triển Năng Lực Học Sinh
  • Một Số Phương Pháp Và Kĩ Thuật Dạy Học Tích Cực Sử Dụng Phù Hợp, Hiệu Quả Trong Nhà Trường Thcs (Tài Liệu Tham Khảo)
  • Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    A. Đặt vấn đê

    I. Lí do chọn đê tài

    Đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã đặt ra từ rất lâu và được

    sự quan tâm đặc biệt của nhiều nhà giáo dục, nhất là của các thầy giáo, cô giáo.

    Nhưng việc vận dụng đổi mới phương pháp dạy học trong dạy học không phải là

    việc dễ dàng thực hiện và đạt được hiệu quả ngay từ đầu. Trước đây, chúng ta

    dạy học vẫn theo phương pháp truyền thống với quan niệm : học là quá trình

    tiếp thụ và lĩnh hội qua đó hình thành kiến thức, kỹ năng, tư tưởng tình cảm.

    Giáo viên(GV) luôn là người truyền thụ toàn bộ những kiến thức, những hiểu

    biết của mình về một vấn đề nào đó; còn học sinh(HS) là người ghi nhớ, tiếp thu

    mọi lời giảng của GV. Chính vì vậy mà phương pháp đó dẫn đến chỗ HS là

    người thụ động và qúa trình nhận thức mang tính chất áp đặt, một chiều. HS học

    để đối phó với thi cử và sau khi thi xong những điều đã học thường bị bỏ quên

    hoặc ít dùng đến. Hiện nay, phương pháp dạy học truyền thống không còn thích

    hợp với mục tiêu giáo dục – đào tạo, hơn thế việc đổi mới chương trình sách

    giáo khoa càng cần phải đặt trọng tâm vào việc đổi mới phương pháp dạy học.

    Bởi chỉ có đổi mới cơ bản phương pháp dạy học chúng ta mới có thể tạo được

    sự đổi mới thực sự trong giáo dục, mới có thể đào tạo được lớp người năng

    động, sáng tạo, có tiềm năng cạnh tranh trí tuệ trong bối cảnh nhiều nước trên

    thế giới đang hướng tới nền kinh tế tri thức.

    Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trong

    Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII(1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa

    VIII(1996), được thể chế hóa trong luật giáo dục (2005). Điều 28.2 trong Luật

    giáo dục đã ghi : ” Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực,

    tự giác chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp

    học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến

    thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập

    cho học sinh ” . Có thể nói cốt lõi của việc đổi mới dạy học là hướng tới hoạt

    động học tập chủ động; chống lại thói quen học tập thụ động.

    Tuy nhiên, đối với mỗi môn học trong nhà trường tùy theo đặc trưng bộ

    môn mà vận dụng việc đổi mới phương pháp sao cho thích hợp, linh hoạt để đạt

    mục tiêu cần đạt . Đối với môn Ngữ văn, việc vận dụng phương pháp dạy học

    mới vẫn còn hạn chế . GV chỉ say mê khám phá văn bản và khổ công tìm tòi

    cách thức lên lớp sao cho hấp dẫn mà không chú ý HS bài đó như thế nào ? Mục

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    1

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    đích của giờ dạy học văn theo quan điểm, phương pháp mới không phải người

    GV là người truyền thụ lời giảng của mình một cách chủ quan mà mục đích cao

    nhất là làm sao để chủ thể HS dưới sự hướng dẫn của GV chủ động khám phá,

    tiếp nhận tác phẩm và đồng thời bộc lộ được tình cảm bản thân.

    Trong quá trình giảng dạy văn học, có nhiều phương pháp dạy học tích

    cực được áp dụng và mỗi phương pháp đều được thử thách qua thời gian. Chẳng

    hạn phương pháp thuyết trình; phương pháp dạy học phát hiện và giải quyết

    vấn đề ; phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ; dạy học theo dự án …

    Kết quả của mỗi phương pháp đều có những ưu điểm, nhược điểm riêng. Một

    trong những phương pháp dạy học tích cực đưa lại kết quả cao trong học tập,

    phát huy được tính chủ thể của HS là phương pháp vấn đáp.

    Trong phạm vi bài tập nghiên cứu khoa học này, tôi đi sâu tìm hiểu phương

    pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn ở khối trung học phổ thông. Tôi đã

    quyết định chọn đề tài này để trước hết là bản thân có điều kiện khái quát nâng

    cao chuyên môn sau thời gian nghiên cứu áp dụng và qua đây mong được chia

    sẻ với đồng nghiệp cùng quan tâm để góp phần nâng cao chất lượng chuyên

    môn và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn trong phạm vi nhà trường

    THPT.

    II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU.

    – Dựa trên một số lí luận cơ bản về triết học, về tâm lí học, về việc đổi

    mới phương pháp dạy học văn … để đề ra một số biện pháp trong phương pháp

    dạy học vấn đáp .

    – Nhằm mục đích nâng cao chất lượng của giờ học, phát huy tính tích cực,

    tự giác chủ động, sáng tạo của HS; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ

    năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, rèn cho HS bản lĩnh tự tin, khả năng

    diễn đạt một vấn đề, gây hứng thú học tập cho HS.

    IV. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU.

    Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tôi đề xuất một số nhiệm vụ của đề

    tài:

    + Xác định cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của dạy học vấn đáp (đàm

    thoại) .

    + Đề xuất một số biện pháp dạy học vấn đáp trong môn Ngữ Văn.

    + Thực hiện một số công việc trong phương pháp vấn đáp.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    2

    B. Nội dung

    CHƯƠNG I : NHỮNG CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA PHƯƠNG PHÁP

    VẤN ĐÁP TRONG DẠY HỌC NGỮ VĂN.

    1. Cơ sở tâm lí học.

    Nhận thức thế giới xung quanh, tìm hiểu những sự vật, hiện tượng xảy ra

    xung quanh mình là một nhu cầu không thể thiếu của con người. Đây là một

    trong ba mặt cơ bản của đời sống, của tâm lí con người (Nhận thức – Tình cảm

    – Hành động). Nhờ có nhận thức mà chúng ta không chỉ phản ánh hiện thực

    xung quanh mình mà cả hiện thực của bản thân nữa, không chỉ phản ánh cái bên

    ngoài, cái hiện tại mà cả cái bên trong, cái sẽ tới và các quy luật phát triển của

    hiện thực.

    Mục tiêu của nhà trường phổ thông nói chung và mục tiêu của trường

    THPT nói riêng là hình thành nhân cách của HS, phát triển toàn diện và trưởng

    thành về mặt xã hội của HS. Trong nhà trường phổ thông, HS được giáo dục

    bằng nhiều phương pháp, nhiều ngành học… trong đó bộ môn Ngữ văn được coi

    là một môn học chủ công trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách.

    Nhân cách là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lí cá nhân quy định

    giá trị xã hội và hành vi của họ. HS là một nhân cách trong chừng mực nào đó

    mà các phẩm chất xã hội ở đó được phát triển để nó trở thành chủ thể có ý thức

    đối với mọi hoạt động công ích của mình. Như vậy có nghĩa là một trong những

    con đường để hình thành và phát triển nhân cách là con đường hoạt động của

    chính HS. Con đường tác động có mục đích tự giác của xã hội bằng giáo dục

    đến HS sẽ trở nên vô hiệu hoá nếu như HS không tiếp nhận, không hưởng ứng

    những tác động đó, không trực tiếp tham gia vào các hoạt động nhằm phát triển

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    3

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    tâm lí, hình thành nhân cách. Chính vì vậy qua giờ học vấn vận dụng phương

    pháp vấn đáp, HS có dịp bù đắp những tri thức mà mình chưa được biết, chưa

    hiểu hoặc hiểu chưa rõ, để tự mình tiếp nhận và hoàn thiện mình về tư tưởng,

    đạo đức và hành vi trong học tập và trong cuộc sống.

    2. Cơ sở nhận thức.

    Nhận thức là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc người nhưng sự

    phản ánh này không phải giản đơn, thụ động mà là quá trình biện chứng dựa trên

    hoạt động tích cực của chủ thể trong quan hệ đối với khách thể. Nhưng không

    phải con người nào cũng đều là chủ thể của nhận thức. Con người trở thành chủ

    thể khi nó tham gia vào hoạt động xã hội nhằm biến đổi và nhận thức khách thể.

    Trong nhà trường HS chính là chủ thể của hoạt động nhận thức; còn khách thể

    chính là những tri thức kinh nghiệm của nền văn minh nhân loại. Theo cơ sở

    triết học: con người tự làm ra mình bằng chính hoạt động của mình nhưng cái

    quan trọng là làm ra cái đó như thế nào và bằng cách nào?

    Đối với môn Ngữ văn HS đến trường để học tập thực chất là để tiếp nhận,

    chiếm lĩnh những giá trị của tác phẩm văn chương. Vì mục đích ấy, HS tự đọc

    lấy tác phẩm, tự chiếm lĩnh lấy tác phẩm, nắm bắt được cái hồn của tác phẩm.

    GV chỉ là người hướng dẫn, chỉ bảo cho HS những hướng tiếp cận tác phẩm sao

    cho có hiệu quả nhất, HS từ đó mà tự chiếm lĩnh tác phẩm. Đồng thời cùng với

    sự chiếm lĩnh tác phẩm ấy, HS dưới những câu hỏi gợi mở, dẫn dắt của GV mà

    trình bày những suy nghĩ, cách hiểu của mình về vấn đề đặt ra trong tác phẩm.

    Chính vì những vấn đề đó mà rất cần có một giờ học vấn đáp để qua giờ

    học ấy HS có thể khẳng định họ thật sự là những chủ thể sáng tạo trong quá

    trình nhận thức bằng chính hoạt động của mình.

    3. Cơ sở văn học.

    Nếu hình tượng hội hoạ được xây dựng bằng đường nét, màu sắc; âm

    nhạc được xây dựng bằng nhịp điệu, giai điệu, âm thanh…thì hình tượng văn học

    được xây dựng bằng chất liệu ngôn từ. Do lấy ngôn từ làm chất liệu cho nên

    hình tượng văn học chỉ tác động vào trí tuệ, tâm hồn, tình cảm gợi nên sự liên

    tưởng và tưởng tượng trong tâm trí người đọc. Nhờ liên tưởng và tưởng tượng

    trên những nét tương đồng giữa thế giới âm thanh và hình ảnh, giữa thế giới hữu

    hình và thế giới vô hình trở thành hiện hình qua phương tiện ngôn ngữ.

    Thực chất của vấn đề phát huy chủ thể HS trong giờ Ngữ văn là khêu gợi,

    kích thích và nuôi dưỡng, phát triển ở HS nhu cầu đồng cảm và khát vọng nhận

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    4

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    thức cái mới qua hình tượng, tính cách nhân vật. Và cũng qua đó việc học tác

    phẩm văn học thực sự trở thành một hoạt động cá thể hoá sâu sắc đi từ nhận

    thức khách quan hình tượng đến chỗ tự nhận thức; do đó có khát vọng sống và

    hành động theo nhân vật lí tưởng. Chính vì vậy trong giờ học văn rất cần có sự

    trao đổi giữa GV và HS, giữa HS và GV để qua giờ học ấy thu được kết quả cao

    hơn và cũng qua giờ học ấy HS có dịp bộc lộ mình, tự khẳng định mình, đồng

    thời GV cũng có cơ hội để nắm được trình độ tiếp nhận của HS.

    CHƯƠNG II : THỰC TRẠNG CỦA ĐỀ TÀI

    Qua quá trình dạy học, kinh nghiệm của bản thân, quá trình dự giờ của đồng

    nghiệp , tôi nhân thấy :

    – Một số GV chủ yếu vẫn dạy theo phương pháp dạy học truyền thống:

    GV sử dụng các phương pháp diễn giảng truyền thụ toàn bộ những kiến thức

    một chiều ; còn HS là người ghi nhớ, tiếp thu mọi lời giảng của GV. Giờ học trở

    nên khô khan, trầm, thậm chí căng thẳng, HS tham gia học bài một cách chiếu

    lệ. Rõ ràng điều đó dẫn đến chất lượng, hiệu quả giờ học không cao.

    – Còn một số GV có vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực trong

    giờ học song chưa hiệu quả, còn hình thức. Chẳng hạn vận dụng phương pháp

    vấn đáp : GV đặt ra những câu hỏi yêu cầu HS trả lời song chưa tạo ra được

    không khí tranh luận sôi nổi giữa HS với nhau hay giữa HS với GV.

    – Một trong những nguyên nhân dẫn tới tình trạng trên là một số GV nhận

    thức chưa rõ bản chất của việc dạy học văn. Dạy học văn trong nhà trường

    không đơn thuần là giảng văn, phân tích văn học mà là dạy đọc văn bản, đó là

    quá trình đối thoại giữa HS, GV và tác giả đằng sau văn bản . Đó là hình thức

    giao tiếp, đối thoại vượt thời gian, không gian, không phải là truyền thụ một

    chiều. Bên cạnh đó một số GV vẫn còn nhiều ngộ nhận về lí thuyết và lúng túng

    trong biện pháp thực thi việc cải cách, đổi mới phương pháp dạy học vấn đáp .

    Chẳng hạn các phương pháp đổi mới là gì ? Khi đổi mới phương pháp dạy học

    thì vai trò của người thầy có bị hạ thấp không ? Câu hỏi như thế nào là đổi mới?

    Bao nhiêu câu hỏi là vừa ?…..

    – Ngoài ra, GV chuẩn bị bài dạy chưa thật kĩ, đặc biệt là chưa xây dựng

    được hế thống câu hỏi phù hợp với bài dạy, chưa chú ý tới việc chuẩn bị bài học

    của HS, chưa phân loại đối tượng HS trong từng lớp … GV chưa ý thức rõ về

    dạng câu hỏi, mức độ yêu cầu của câu hỏi dẫn đến khâu tổ chức dạy học tìm

    hiểu bài học thiếu tính khoa học, tình trạng GV hỏi một đằng HS trả lời một nẻo

    hoặc trả lời không đúng trọng tâm yêu cầu.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    5

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    Chính vì vậy, vần đề vận dụng đổi mới phương pháp dạy và học văn càng

    được quan tâm hơn bao giờ hết đặc biệt là phương pháp vấn đáp. Tuy nhiên,

    việc đổi mới phương pháp dạy học văn không có nghĩa là gạt bỏ các phương

    pháp truyền thống mà phải vận dụng một cách hiệu quả các phương pháp dạy

    học hiện có theo quan điểm dạy học tích cực kết hợp các phương pháp hiện đại.

    CHƯƠNG III: NỘI DUNG DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).

    I. QUAN NIỆM VỀ DẠY HỌC VẤN ĐÁP (ĐÀM THOẠI).

    1. Thế nào là phương pháp vấn đáp?

    Phương pháp vấn đáp là phương pháp trong đó GV đặt ra các câu hỏi để

    HS trả lời , hoặc tranh luận với nhau và với cả GV, qua đó HS lĩnh hội được nội

    dung bài học. Phương pháp vấn đáp, đàm thoại khác với thuyết trình ở chỗ nội

    dung cần truyền thụ không được thể hiện qua lời giảng của người dạy mà được

    thực hiện bởi hệ thống câu trả lời của người học, dưới sự gợi mở bởi các câu hỏi

    của người dạy đề xuất. Các câu hỏi này được tổ chức thành một hệ thống phù

    hợp với nội dung bài học, đối tượng HS.

    2. Mục đích và yêu cầu của phương pháp vấn đáp

    Mục đích của phương pháp vấn đáp là nâng cao chất lượng giờ học bằng

    cách tăng cường hình thức hỏi đáp, đàm thoại giữa GV và HS, rèn cho HS lĩnh

    tự tin, khả năng diễn đạt một vấn đề trước tập thể. Muốn thực hiện điều đó, đòi

    hỏi GV phải xây dựng được hệ thống câu hỏi phù hợp với yêu cầu bài học, hấp

    dẫn, sát đối tượng, xác định được vai trò chức năng của từng câu hỏi, mục đích

    hỏi , các yếu tố kết nối hệ thống câu hỏi. Câu hỏi phải khơi gợi được hứng thú

    tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách chu đáo và thực sự

    khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc biệt là không có tác

    dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi không cần nhiều

    nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống

    buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình. Ngoài ra

    người GV cần dự án các phương án trả lời của HS để có thể thay đổi hình thức,

    cách thức mức độ hỏi, có thể dẫn dắt qua các câu hỏi phụ tránh đơn điệu nhàm

    chán, nặng nề bế tắc; tạo hứng thú học tập cho HS và tăng hấp dẫn của giờ học .

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    6

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    3. Các nhân vật tham gia trong giờ học vấn đáp.

    a. Giáo viên trong giờ học vấn đáp.

    Thực tế cho thấy, trong một thời gian dài trước khi cải cách giáo dục người

    ta đã từng quan niệm học văn là một quá trình thầy đọc, giảng, cảm thụ còn trò

    chỉ là những cỗ máy ghi chép. Theo cách dạy học truyền thống, người giáo viên

    trong giờ học là người quyết định một cách toàn diện chất lượng dạy học và

    được coi là chủ thể của hoạt động dạy. Thế nhưng, trước yêu cầu ngày càng cao

    của xã hội và sự bùng nổ về tri thức, thông tin đã đặt người học trước một nhiệm

    vụ mới khó khăn hơn. Bản chất của sự học ngày nay đã thay đổi. Học bao giờ

    cũng phải đi đôi với hành “học và hành phải kết hợp chặt chẽ…phải gắn liền

    với thực tế những đòi hỏi của dân tộc, xã hội” giáo viên không còn đóng vai trò

    đơn thuần là người truyền đạt kiến thức, GV trở thành người thiết kế, tổ chức,

    hướng dẫn các hoạt động độc lập, hoặc theo nhóm nhỏ để học sinh tự lực chiếm

    lĩnh nội dung học tập, chủ động đạt các mục tiêu kiến thức, kĩ năng, thái độ theo

    yêu cầu của chương trình. Điều này đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư công

    sức, thời gian rất nhiều so với kiểu dạy và học thụ động mời có thể thực hiện bài

    lên lớp với vai trò là người gợi mở, xúc tác, động viên, cố vấn, trọng tài trong

    các hoạt động tìm tòi tranh luận của HS. GV phải có trình độ chuyên môn sâu,

    rộng, có trình độ sư phạm mới có thể tổ chức hướng dẫn các hoạt động của HS.

    Với giờ đọc – hiểu văn bản Ngữ văn, GV là người điều khiển, hướng dẫn để

    HS tự khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. Người GV phải chuẩn bị kĩ nội

    dung bài học như xác định rõ mục tiêu bài học, tiến trình tổ chức dạy học . Đặc

    biệt là quá trình tổ chức hướng dẫn dạy – học bài mới. GV phải xây đựng được

    một hệ thống câu hỏi vấn đáp phù hợp với nội dung bài học. Câu hỏi phải khơi

    gợi được hứng thú tham gia hoạt động của HS và phải được chuẩn bị một cách

    chu đáo và thực sự khoa học, không thể tùy hứng, vụn vặt, thiếu hệ thống, đặc

    biệt là không có tác dụng dẫn dắt HS thâm nhập và cắt nghĩa văn bản. Câu hỏi

    không cần nhiều nhưng phải là những câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt,

    có tình huống buộc HS phải suy nghĩ và có hứng thú bộc lộ cảm nghĩ của mình.

    Có thể nói xây dựng được hệ thống câu hỏi vấn đáp có chất lượng có tác dụng

    gợi dẫn HS thâm nhập khám phá tác phẩm là một nghệ thuật đòi hỏi sự công

    phu và tài năng thực sự của GV.

    Theo kinh nghiệm của tôi, đối với mỗi câu hỏi, người GV phải xác định được

    mức độ, mục đích, nội dung và hình thức câu hỏi, cũng như tính hệ thống, dẫn

    dắt của môĩ câu hỏi. Cũng phải lưu ý một điều là tùy vào tình huống thực tế, vào

    đối tượng HS mà người GV có thể thay câu hỏi hoặc bổ sung các câu hỏi cho

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    7

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    8

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    II. MỘT SỐ GIẢI PHÁP VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP VẤN ĐÁP

    – Trong giờ học văn, GV phải là người điều khiển, hướng dẫn để HS tự

    khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. HS là một chủ thể trực tiếp tiếp nhận,

    chiếm lĩnh tác phẩm. HS có điều kiện phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn

    mà lâu nay bản thân các em chưa khám phá, bộc lộ hoặc còn rụt rè, lúng túng…

    Từ đó, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi diễn đạt một vấn đề trước tập thể.

    – GV cần phải nắm vững bản chất của phương pháp vấn đáp, đặc biệt là

    phải phân biệt được các loại, mức độ vấn đáp để từ đó xây dựng hệ thống câu

    hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, khơi gợi được hứng thú

    tham gia hoạt động của HS, phù hợp với nội dung bài học .

    Qua tài liệu tham khảo và kinh nghiệm của bản thân, tôi nhận thấy có ba

    phương pháp (mức độ) vấn đáp: Vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích chứng

    minh và vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo

    II.1. Vấn đáp tái hiện : Đây là phương pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu

    HS chỉ cần nhớ lại và tái hiện nội dung bài học. Đây là dạng vấn đáp ở mức độ

    bình thường, không đòi hỏi HS phải tư duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc

    dựa vào văn bản văn học.

    Ví dụ 1: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của đoạn trích Việt Bắc, có

    thể đặt câu hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của bài ? HS dựa vào tiểu dẫn trả lời:

    Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7- 1954, Hiệp định Giơ-nevơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải

    phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới . Tháng 10- 1954, những người

    kháng chiến từ căn cứ miền núi về miền xuôi, nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố

    Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    Ví dụ 2: Khi hướng dẫn HS tìm hiểu những phát hiện của người nghệ sĩ

    nhiếp ảnh trongvăn bản Chiếc thuyền ngoài xa(Nguyễn Minh Châu) , GV đặt

    câu hỏi vấn đáp tái hiện : Tuy nhiên, ngay khi tâm hồn bay bổng trong những

    cảm xúc thẫm mỹ, đang tận hưởng cái khoảng khắc trong ngần của tâm hồn thì

    người nghệ sĩ nhiếp ảnh đã kinh ngạc phát hiện ra điều gì tiếp theo ngay sau

    bức tranh ? Tâm trạng người nghệ sĩ khi đó như thế nào? .

    HS tái hiện : Bước ra từ chiếc thuyền ngư phủ đẹp như mơ là một người

    đàn bà xấu xí, mệt mỏi ; một gã đàn ông to lớn, dữ dằn ; một cảnh tượng tàn

    nhẫn: gã chồng đánh đập vợ một cách thô bạo … đứa con thương mẹ đã đánh lại

    cha để rồi nhận lấy hai cái bạt tai của bố ngã dúi xuống cát…Chứng kiến cảnh

    tượng đó người nghệ sĩ Phùng kinh ngạc đến thẫn thờ. Người nghệ sĩ như chết

    lặng, không tin vào những gì đang diễn ra trước mắt.

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    9

    N ăm học: 2012- 2013

    10

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    11

    N ăm học: 2012- 2013

    12

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    13

    Phương pháp vấn đáp trong dạy học môn Ngữ văn

    C. KẾT LUẬN

    Áp dụng phương pháp vấn đáp (đàm thoại) trong dạy học môn Văn ở

    trường phổ thông là một việc làm cần thiết để nhằm nâng cao chất lượng HS.

    Phương pháp dạy học nào thì cũng có mặt tích cực và hạn chế của nó. Nhưng

    nói chung theo phương pháp dạy học mới hiện nay lấy HS làm trung tâm thì

    việc dạy học theo phương pháp vấn đáp mang lại thành công nhiều hơn.

    Việc áp dụng phương pháp vấn đáp vào trong dạy học bộ môn Ngữ Văn

    có tác dụng rất lớn trong việc phát triển trí tuệ, tâm hồn của HS, rèn luyện kỹ

    năng, phát huy sáng tạo của HS, phát huy hướng tìm tòi, phát hiện trong quá

    trình học của HS. Nhưng với phương pháp này đôi khi cũng có hạn chế đối với

    các lớp HS yếu, dễ gây mất thời gian.

    Mỗi phương pháp đều có thế mạnh riêng. Người GV là người tổ chức

    hoạt động dạy và học, vì vậy phải biết tận dụng sức mạnh của mỗi phương pháp

    để từ đó đạt hiệu quả cao trong học tập và giảng dạy. Có người đã từng nói: Từ

    trong nước chảy ra sẽ là nước, từ trong máu chảy ra sẽ là máu. Người GV phải

    biết xuất phát từ cái tâm, sự nhiệt huyết của mình để làm tròn sứ mệnh thiêng

    liêng kết nối trái tim với trái tim. Trái tim sẽ mách bảo cách dạy sao cho mỗi

    ngày, mỗi tiết thật sự bổ ích và hấp dẫn.

    D. Ý KIẾN ĐỀ NGHỊ VẬN DỤNG KINH NGHIỆM.

    Thực hiện quá trình đổi mới phương pháp dạy học là công việc phức

    tạp, đòi hỏi nhiều công sức tâm huyết của mỗi GV chúng ta. Trong quá trình

    thực hiện, đổi mới đòi hỏi phải có sự kết hợp đồng bộ giữa nhiều cấp độ. Chính

    vì vậy, tôi xin nêu một vài kiến nghị đề nghị tới các cấp như sau:

    – Sở giáo dục nên tiếp tục tổ chức các đợt học tập chuyên đề và tập trung

    nhiều hơn đến vấn đề đổi mới phương pháp dạy học và tạo điều kiện để các cụm

    tổ chức trao đổi kinh nghiệm về phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng

    và các bộ môn khác trong nhà trường nói chung.

    – Ban chuyên môn nhà trường tiếp tục tăng cường kiểm tra dự giờ thường

    xuyên để động viên, thúc đẩy GV đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất

    lượng giáo dục.

    – Tổ nhóm chuyên môn và mỗi người thầy chúng ta cần quan tâm đúng

    mức tới công việc vận dụng việc đổi mới phương pháp dạy học, không chủ quan

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    14

    Lê Thị Hoa

    Người thực hiện: Lê Thị Hoa

    N ăm học: 2012- 2013

    15

    --- Bài cũ hơn ---

  • Uu Diem Va Nhuoc Diem 5 Pp
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn
  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Hấp Dẫn Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Văn

    --- Bài mới hơn ---

  • Uu Diem Va Nhuoc Diem 5 Pp
  • Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Một Số Vấn Đề Về Nội Dung Và Phương Pháp Giảng Dạy Các Dạng Hình Tứ Giác
  • Tập Huấn Văn:phương Pháp Và Kỹ Thuật Dạy Học Tích Cực
  • Chuyen De Ve Lai Mach Dien Và Tính Giá Trị Điện Trở
  • Đây là phương pháp mà giáo viên đặt ra các câu hỏi để học sinh trả lời, hoặc tranh luận với nhau và với cả giáo viên, qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học.

    Theo cô Lê Thị Hoa, phương pháp vấn đáp, đàm thoại khác với thuyết trình ở chỗ nội dung cần truyền thụ không được thể hiện qua lời giảng của người dạy mà được thực hiện bởi hệ thống câu trả lời của người học, dưới sự gợi mở bởi các câu hỏi của người dạy đề xuất. Các câu hỏi này được tổ chức thành một hệ thống phù hợp với nội dung bài học, đối tượng học sinh.

    Từ kinh nghiệm bản thân, cô Lê Thị Hoa chia sẻ các phương pháp vấn đáp hiệu quả trong dạy học Văn và những lưu ý với các phương pháp này.

    Vấn đáp tái hiện

    Đây là phương pháp GV đặt ra câu hỏi yêu cầu HS chỉ cần nhớ lại và tái hiện nội dung bài học. Đây là dạng vấn đáp ở mức độ bình thường, không đòi hỏi HS phải tư duy mà chỉ cần huy động trí nhớ hoặc dựa vào văn bản văn học.

    Ví dụ: GV cho HS tìm hiểu phần tiểu dẫn của đoạn trích Việt Bắc, có thể đặt câu hỏi: Nêu hoàn cảnh ra đời của bài ? HS dựa vào tiểu dẫn trả lời: Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc thắng lợi. Tháng 7- 1954, Hiệp định Giơ-ne-vơ về Đông Dương được kí kết. Hòa bình lập lại, miền Bắc nước ta được giải phóng và bắt tay vào xây dựng cuộc sống mới . Tháng 10- 1954, những người kháng chiến từ căn cứ miền núi về miền xuôi, nhân sự kiện có tính lịch sử ấy Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

    Vấn đáp tái hiện có thể xem là bước đầu khi đi sâu tìm hiểu, khám phá, phát hiện giá trị của văn bản văn học. Đây còn là cơ sở để giáo viên đặt ra những câu hỏi nêu vấn đề nhằm hướng dẫn, giúp HS phát hiện giá trị, vẻ đẹp của văn bản văn học.

    Vấn đáp giải thích, chứng minh

    GV phải xây dựng hệ thống câu hỏi yêu cầu HS phải tư duy, biết vận dụng các thao tác lập luận giải thích(dùng lí lẽ, lí giải nội dung, bản chất của vấn đề để mọi người cùng hiểu vấn đề ), phân tích, chứng minh ( chia tách đối tượng thành từng khía cạnh, từng phần xem xét đánh giá, kết hợp dùng dẫn chứng để làm sáng tỏ vấn đề, đối tượng ).

    Với phương pháp này, GV tổ chức hướng dẫn HS đi sâu khám phá các giá trị của tác phẩm văn học nay bản chất vấn đề của bài học.

    Tuy nhiên vấn đề đặt ra là GV xây dựng hệ thống câu hỏi vấn đáp giải thích, chứng minh như thế nào để hấp dẫn HS đồng thời đảm bảo được mục tiêu cần đạt.

    Theo kinh nghiệm của cô hoa, người GV nên căn cứ vào mục tiêu cần đạt kết hợp với hệ thống câu hỏi Hướng dẫn học bài trong sách giáo khoa, thể loại văn bản, dung lượng bài học.

    Ngoài ra, còn phải chú ý đến đối tượng HS từng lớp, từng nhóm, thậm chí từng cá nhân trong lớp trong lớp về các mặt như lứa tuổi, tâm sinh lý, trình độ, vốn sống, khả năng nhận thức, khả năng diễn đạt… Trên cơ sở đó GV xây dựng hệ thống câu hỏi vấn đáp .

    Chẳng hạn, khi tìm hiểu vẻ hung bạo của con sông Đà trong tùy bút “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân, GV nêu câu hỏi: Có ý kiến nhận xét cho rằng : Nguyễn Tuân đã có sự quan sát công phu, tìm hiểu kĩ càng để khắc họa sự hung bạo trên nhiều dạng vẻ. Em có đồng ý với ý kiến trên không? Vì sao?

    Kết quả HS trả lời: Sông Đà được miêu tả chỗ thì chẹt lại như chiếc yết hầu. Lại có những quãng sông hàng cây số của một thế giới đầy gió gùn ghè, đá giăng đến chân trời và sóng bọt tung trắng xóa…

    Tả cái hút nước quãng Tà Mường Vát, những cái hút nước xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu… Những trùng vi thạch trận sẵn sàng nuốt chết con thuyền và người lái. .. Âm thanh luôn thay đổi…

    Vấn đáp tìm tòi, phát hiện, sáng tạo

    Đây là dạng câu hỏi vấn đáp đòi hỏi HS không chỉ biết giải thích, chứng minh mà hơn thế phải biết khái quát, phát hiện ra bản chất của vấn đề, tầng lớp nghĩa ẩn của văn bản văn học, hơn thế HS phát hiện ra những tầng nghĩa mới.

    Vận dụng những câu hỏi vấn đáp ở mức độ này, đòi hỏi GV phải lưu ý tới mục đích, hình thức hỏi tránh đưa ra những câu hỏi mang tính chất đánh đố HS, đặc biệt phải chú ý tới đối tượng tiếp nhận (HS khả năng nhận thức, tư duy).

    Khi đặt ra câu hỏi này GV thường hướng tới đối tượng là HS khá, giỏi nhằm phát huy khả năng nhận thức, tư duy, sáng tạo của các em. Tuy nhiên GV có thể đưa ra câu hỏi dẫn dắt gợi mở nhằm giúp các em có sức học trung bình cũng có thể khám phá, phát hiện và trả lời.

    Chẳng hạn, khi tìm hiểu mạch cảm xúc, bố cục của văn bản văn học GV nên đặt câu hỏi dạng này.

    Ví dụ khi tìm hiểu bố cục bài thơ Tây Tiến(Quang Dũng), GV nêu câu hỏi: Sau khi nghe xong bài thơ, em hãy căn cứ vào mạch cảm xúc của bài thơ cho biết bài thơ chia thành mấy đoạn? Nêu nội dung chính của từng đoạn?

    Những bước cơ bản tổ chức dạy học vấn đáp

    Theo cô Lê Thị Hoa, để tổ chức một giờ học vấn đáp hoàn chỉnh trong dạy văn, GV có thể tiến hành theo một số bước cơ bản sau:

    Thứ nhất: Xác định vấn đề cần vấn đáp (đàm thoại). Thông qua việc hướng dẫn đọc, GV phải hướng dẫn hay gợi ý cho HS những chi tiết, hình ảnh tiêu biểu chứa đựng nội dung bao quát cơ bản để trong quá trình đọc HS cảm nhận được vấn đề mình cần phải trả lời hay tìm hiểu trong giờ học đó.

    Vấn đề đưa ra vấn đáp với HS có khi chỉ là một hình ảnh, một chi tiết, một khía cạnh nội dung hay một nhân vật nào đó trong tác phẩm. Nhưng chi tiết hoặc hình ảnh đó phải tiêu biểu, đóng vai trò then chốt mà qua đó giúp HS nắm được tư tưởng của đoạn trích hoặc tác phẩm.

    Thứ hai: Hướng dẫn học sinh vấn đáp. Đây là một việc làm quan trọng của GV trong giờ học văn. Khi đã đưa ra một hệ thống câu hỏi, nếu học sinh không thể tìm ra câu trả lời ngay được thì người GV cần phải dẫn dắt, gợi mở vấn đề bằng những câu hỏi phụ để từ đó HS tìm ra ý cho câu hỏi chính.

    Trong thực tế, HS có thể nắm được nhiều các chi tiết của tác phẩm nhưng chưa biết kết nối các chi tiết đó để có thể rút ra được các nhận định đánh giá. Đây cũng là lý do khiến các em rụt rè khi trả lời, vì vậy đòi hỏi GV gợi mở, dẫn dắt.

    “Trong giờ học văn, giáo viên (GV) phải là người điều khiển, hướng dẫn để học sinh (HS) tự khám phá ra vẻ đẹp của văn bản văn học. HS là một chủ thể trực tiếp tiếp nhận, chiếm lĩnh tác phẩm. HS có điều kiện phát huy những khả năng mới vốn tiềm ẩn mà lâu nay bản thân các em chưa khám phá, bộc lộ hoặc còn rụt rè, lúng túng… Từ đó, tạo cho các em sự mạnh dạn, tự tin khi diễn đạt một vấn đề trước tập thể. GV cần phải nắm vững bản chất của phương pháp vấn đáp, đặc biệt là phải phân biệt được các loại, mức độ vấn đáp để từ đó xây dựng hệ thống câu hỏi thích đáng, trọng tâm, then chốt, có tình huống, khơi gợi được hứng thú tham gia hoạt động của HS, phù hợp với nội dung bài học”. Cô Lê Thị Hoa

    --- Bài cũ hơn ---

  • Đề Tài Phương Pháp Vấn Đáp Trong Dạy Học Môn Ngữ Văn
  • Bí Quyết Học Thi Vấn Đáp, Trắc Nghiệm, Thi Viết
  • Bí Quyết Thi Vấn Đáp Thành Công
  • Phương Pháp Và Kĩ Thuật Đánh Giá Kết Quả Học Tập Trên Lớp/vấn Đáp
  • Nâng Cao Chất Lượng Học Toán Với Phương Pháp Kiểm Tra Vấn Đáp
  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100