Top 8 # Xem Nhiều Nhất Vì Sao Dẫn Đến Sinh Non Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Vì Sao Bệnh Quai Bị Lại Dẫn Đến Vô Sinh?

Quai bị là một căn bệnh dễ mắc, dễ lây lan, đặc biệt là ở trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên. Triệu chứng điển hình của bệnh quai bị là viêm tuyến mang tai.

Cơ chế gây bệnh của bệnh quai bị

Bệnh quai bị là căn bệnh có trên toàn thế giới và chỉ xuất hiện ở người. Lứa tuổi thường bị quai bị nhất là ở trẻ nhỏ và trẻ vị thành niên, cũng có những trường hợp người lớn mắc bệnh quai bị nhưng tỷ lệ này thường khá thấp.

Quai bị là căn bệnh gây ra bởi virus lây truyền qua đường hô hấp, đường ăn uống, qua những giọt nước bọt khi bệnh nhân nói, ho, hắt hơi. Riêng vấn đề lây qua đường phân và nước tiểu thì hiện vẫn chưa có bất kỳ xác nhận nào dù cho virus quai bị có khả năng tồn tại trong nước tiểu từ 2-3 tuần.

Khi bị nhiễm bệnh virus sẽ nhân lên trong khoang tỵ hầu và hạch bạch huyết. Sau khoảng 12-15 ngày nhiễm bệnh virus sẽ tăng cao trong huyết thanh và lan ra các cơ quan khác. Thời gian lây là khoảng 6 ngày trước cơn toàn phát sưng tuyến mang tai cho đến 2 tuần sau khi có các triệu chứng bệnh lý.

Biểu hiện rõ nhất của bệnh quai bị là sốt và sưng một hoặc cả hai bên tuyến mang tai. Ngoài tuyến mang tai thì một số cơ quan khác như tuyến nước bọt, màng não, tuyến sinh dục (tinh hoàn hoặc buồng trứng) cũng có thể đồng thời bị viêm.

Ảnh hưởng của bệnh quai bị đến khả năng sinh sản của nam giới

Viêm tinh hoàn là biến chứng nguy hiểm và thường gặp của bệnh quai bị xảy ra ở nam giới sau tuổi dậy thì. Tỉ lệ xuất hiện biến chứng viêm tinh hoàn là khoảng 20-35%. Khi tinh hoàn bị viêm người bệnh sẽ cảm thấy tinh hoàn bị đau, sưng to và thường đi kèm với sốt. Sau đó, quá trình teo tinh hoàn sẽ diễn tiến trong khoảng 50% những bệnh nhân này. Những trường hợp còn lại sau khi viêm tinh hoàn thì quá trình sinh tinh có thể trở lại như bình thường.

Không chỉ riêng ở nam giới mà bệnh quai bị cũng có thể gây ảnh hưởng đến buồng trứng của nữ giới. Tuy nhiên, biến chứng viêm buồng trứng ở phụ nữ bị quai bị thường rất hiếm gặp và ít ảnh hưởng đến khả năng sinh sản.

Thường thì quá trình teo tinh hoàn sẽ diễn tiến trong khoảng từ 1-6 tháng sau đợt viêm cấp tính. Lúc này, quá trình sinh tinh sẽ giảm dần và có thể mất hẳn. Teo mô tinh hoàn có thể là do tác động trực tiếp của virus hoặc thứ phát do thiếu màu cục bộ trong quá trình mô bị viêm, phù. Nếu người bệnh bị viêm cả 2 bên tinh hoàn thì sẽ có thể dẫn đến vô sinh hoàn toàn. Tỷ lệ này thường là khoảng 15%.

Tóm lại, nam giới sau khi dậy thì cần đặc biệt chú ý nếu bị quai bị để tránh dẫn đến biến chứng viêm tinh hoàn. Bệnh quai bị có kèm viêm tinh hoàn có nhiều khả năng dẫn đến vô sinh, đặc biệt là khi người bệnh bị viêm cả 2 bên tinh hoàn. Thường thì quá trình teo tinh hoàn sẽ diễn biến từ từ sau đợt viêm cấp tính nên nam giới có thể đến các trung tâm điều trị vô sinh xin trữ lạnh tinh trùng khi chất lượng tinh trùng chưa giảm nhiều. Việc lưu trữ tinh trùng nên được thực hiện ở những thanh niên chưa lập gia đình hoặc chưa có con.

Biện pháp phòng chống biến chứng khi bị quai bị

Để phòng bệnh quai bị, khi trẻ được 1 tuổi cha mẹ nên cho trẻ tiêm vacxin phòng quai bị. Những người bị quai bị không nên tự chữa tại nhà mà bên vào viện khám và điều trị, đồng thời nên cách ly với mọi người xung quanh để tránh lây bệnh. Nhất là những bé trai chưa từng bị quai bị thì nên tránh tiếp xúc với những người bị quai bị.

Khi bị quai bị người mắc bệnh nên được cách ly 2 tuần kể từ khi phát hiện bệnh, vệ sinh răng miệng, ăn các loại thực phẩm dễ tiêu hóa, đắp khăn ấm lên vùng bị sưng để giảm đau và có thể dùng Paracetamol để hạ sốt. Trường hợp nam giới bị viêm tinh hoàn thì nên mặc quần lót để nâng tinh hoàn, giảm đau, nghỉ ngơi nhiều hơn và hạn chế vận động.

Một số trường hợp bác sĩ có thể chỉ định cho người bệnh dùng corticoid đúng liều, quan trọng nhất là dùng liều lớn để khởi đầu và giảm dần trong 7-10 ngày. Ngoài ra, nếu tinh hoàn bị chèn ép nhiều bác sỹ có thể sẽ chỉ định tiến hành phẫu thuật để giải áp.

Vì Sao Trẻ Sinh Non Có Xu Hướng Tăng?

Các bác sĩ đang thăm khám cho trẻ sinh non, nhẹ cân.

Đối diện nhiều nguy cơ bệnh tật

Đây là con số được công bố tại buổi họp mặt có gần 100 gia đình trẻ sinh non được chăm sóc tại Khoa Sơ sinh Bệnh viện Phụ sản Hà Nội. Theo PGS. TS. Nguyễn Duy Ánh, những năm gần đây, tỷ lệ trẻ sinh non trên thế giới là 10%.

Còn Bệnh viện Phụ sản Hà Nội mỗi năm cũng tiếp nhận trên 40.000 trẻ sơ sinh ra đời, trong đó, trẻ sơ sinh non tháng, nhẹ cân chiếm khoảng 9-10%. Những cô bé, cậu bé khi chào đời với cân nặng từ 700gr – 800gr đến 1.200gr – 1.800gr thân hình bé tí hon vì thế phải đối mặt với nhiều vấn đề về bệnh tật.

Còn ThS. BS. Chuyên khoa II Phan Thị Huệ – Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho hay, trẻ sơ sinh và đặc biệt trẻ sinh non chịu ảnh hưởng tác động môi trường có nguy cơ cao mắc bệnh tật, do đó cần chăm sóc, theo dõi đặc biệt của cán bộ y tế và gia đình. Có tới 35-46% trẻ dưới 1.000gr và 23% trẻ dưới 1.500gr phải đối mặt với bệnh phổi mạn tính. Nhiều trẻ dưới 1.500gr gặp các vấn đề về cho ăn, tăng trưởng, thiếu máu do thiếu sắt.

Không chỉ vậy, một số trường hợp trẻ còn bị chảy máu nội sọ, chảy máu nhu mô, quanh não thất gia tăng nguy cơ chậm phát triển tinh thần và vận động; tổn thương chất trắng dẫn đến nguy cơ tổn thương vận động, nhãn cầu.

Khoa Sơ sinh trẻ non tháng Bệnh viện Phụ sản Hà Nội tiếp nhận điều trị đặc biệt dành cho những bệnh nhân tí hon. Số lượng trẻ non tháng ở Khoa tăng dần trong những năm gần đây. Tỷ lệ trẻ non tháng các năm trước dao động từ 8-9%; năm 2018 tăng 9,6%. Công tác chăm sóc điều trị cho các bé không chỉ cần trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm dồi dào mà còn cần cả những trái tim của những người mẹ.

Trẻ sinh non phải đối mặt với nhiều nguy cơ từ suy hô hấp do phổi chưa phát triển đầy đủ đến hạ đường huyết, vàng da, nhiễm trùng, viêm ruột ngoại tử, thiếu máu, vàng da, mù lòa, điếc, xuất huyết não, màng não.

Chị N.T.T, một người mẹ có con sinh non chia sẻ: “Tôi mang thai đôi hai con trai. Đẻ non và chỉ còn một cháu cân nặng 0,7kg sống. Sau thời gian dài chăm sóc hai mẹ con được ra viện, cháu khỏe mạnh, mỗi tội không biết bú sữa mẹ nên về nhà sẽ tập cho cháu bú sữa mẹ.

Bác sĩ cũng nhắc nhở nhiều về việc bảo vệ đường hô hấp cho cháu khi về nhà cũng như cách chăm sóc cháu những ngày đầu. Các bác sĩ nói do cháu sinh non nên đường hô hấp sẽ yếu hơn trẻ đầy đủ tháng, bởi thế phải để ý điều hòa giữ ấm, bảo vệ đường hô hấp”.

Tư vấn về cách chăm sóc trẻ non tháng, PGS. TS. BS. Nguyễn Duy Ánh tư vấn, chăm sóc trẻ non tháng, nhẹ cân luôn là thách thức, bởi lẽ trẻ sinh non có hệ thống miễn dịch chưa hoàn hảo, các cơ quan chức năng trong cơ thể chưa hoàn thiện.

PGS. TS Nguyễn Duy Ánh – Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội.

Do vậy, trẻ rất dễ bị nhiễm đường hô hấp, nhiễm khuẩn, sức chịu đựng của trẻ với thay đổi của môi trường cũng vô cùng kém, điều này đòi hỏi trẻ phải được chăm sóc trong điều kiện đặc biệt 24/24 giờ, kiểm soát nghiêm ngặt các chức năng hô hấp, tim mạch, tiêu hóa…

Các chức năng cơ thể không hoàn hảo nên sự thay đổi môi trường, thời tiết, thân nhiệt, áp suất đều rất kém. Những trẻ sinh cực non 7 tháng luôn được quan tâm chăm sóc đặc biệt, trẻ không thể tự thở, tự ăn hoặc tự giữ ấm được, thường được nuôi lồng ấp giúp cho trẻ duy trì thân nhiệt ổn định, theo dõi huyết áp, nhịp tim, hơi thở 24/24 giờ để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường nếu có.

Trẻ được bổ sung dinh dưỡng bằng cách tiêm qua đường tĩnh mạch, thậm chí phải được máy hỗ trợ thở để duy trì sự sống… “Trẻ non tháng luôn được đảm bảo chăm sóc trong điều kiện y tế tốt nhất” – ông Ánh cho hay.

Thông thường trẻ sẽ được trở về gia đình chăm sóc khi các bác sĩ đảm bảo trẻ có thể tự bú, tự thở, tự thích nghi với môi trường. Tuy nhiên, quá trình chăm sóc sau đó của gia đình cũng cần tuân thủ nghiêm ngặt theo chỉ dẫn của bác sĩ để trẻ có thể phát triển bình thường, tránh những tổn hại không đáng có tới sức khỏe của trẻ sau này như giảm sút trí tuệ hay chậm phát triển thể lực..

Vì Sao Trẻ Sinh Non Thường Mắc Bệnh Lý Võng Mạc?

Trẻ sinh non có nguy cơ mắc rất nhiều bệnh lý, biến chứng nguy hiểm do chưa đủ thời gian để phát triển toàn diện các cơ quan, hoàn thiện đầy đủ các chức năng của cơ thể. Một trong số đó phải kể đến bệnh võng mạc ở trẻ sinh non.

1. Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non là gì?

Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non có tên quốc tế là retinopathy of prematurity, gọi tắt là Rop. Đây là một rối loạn mắt do sự phát triển bất thường của mạch máu võng mạc, thường gặp ở trẻ sinh non (trước 31 tuần) hoặc trẻ sơ sinh nhẹ cân (cân nặng dưới 1,25kg). Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non có thể xuất hiện ở cả hai mắt. Nếu không được phát hiện và điều trị sớm có thể gây mất thị giác lúc nhỏ, thậm chí là mù vĩnh viễn.

2. Nguyên nhân khiến trẻ sinh non mắc bệnh lý võng mạc

Thông thường, mắt của trẻ sẽ bắt đầu phát triển từ tuần thứ 16 của thai kỳ, được đánh dấu bằng sự xuất hiện của các mạch máu võng mạc ở dây thần kinh thị giác phía mặt sau của mắt. Các mạch máu võng mạc dần phát triển tiến về phía cạnh của võng mạc, cung cấp oxy và chất dinh dưỡng cho cạnh võng mạc. Quá trình phát triển này diễn ra nhanh hơn ở 12 tuần cuối của thai kỳ. Trẻ sinh non chưa đủ tháng khiến quá trình phát triển của mạch máu võng mạc bị gián đoạn, các mạch máu chưa tiếp cận được các cạnh võng mạc. Võng mạc chưa phát triển hoàn thiện, không được cung cấp đủ oxy và chất dinh dưỡng dẫn đến khả năng mắc bệnh lý võng mạc.

Trẻ càng sinh non càng có nguy cơ mắc bệnh lý võng mạc cao. Các đối tượng cần được kiểm tra và theo dõi bệnh võng mạc ở trẻ sinh non bao gồm:

Trẻ sinh non dưới 31 tuần

Trẻ có cân nặng lúc sinh dưới 1,5kg

Trẻ có cân nặng lúc sinh từ 1,5kg – 2kg và là trường hợp đa thai

Trẻ có cân nặng lúc sinh từ 1,5kg – 2kg nhưng bị các bệnh lý kèm theo như: bị ngạt khi sinh hay phải thở oxy kéo dài

3. Dấu hiệu của bệnh võng mạc ở trẻ sinh non

Trẻ sơ sinh có nguy cơ mắc bệnh võng mạc ở trẻ sinh non với các mức độ khác nhau. Mỗi mức độ lại có biểu hiện và triệu chứng riêng biệt.

Bệnh võng mạc trẻ sinh non chia làm 5 giai đoạn:

Giai đoạn I: Các mạch máu võng mạc có sự phát triển bất thường nhẹ

Giai đoạn II: Các mạch máu võng mạc có sự phát triển bất thường trung bình

Giai đoạn III: Các mạch máu võng mạc có sự phát triển bất thường nặng

Giai đoạn IV: Các mạch máu võng mạc có sự phát triển bất thường nặng và một phần võng mạc bị vong ra

Giai đoạn V: toàn bộ võng mạc bị bong

Diễn biến bất thường của mạch máu võng mạc không thể quan sát bằng mắt thường mà phải nhờ sự hỗ trợ của các thiết bị y tế, cho đến khi bệnh võng mạc trẻ sinh non trở nên nghiêm trọng thì trẻ có thể có các dấu hiệu sau:

Mắt chuyển động bất thường

Mắt lác

Đồng tử màu trắng

4. Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non có nguy hiểm không?

Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non thường chưa xuất hiện ngay khi trẻ vừa ra đời. Một số trẻ sẽ có mạch máu võng mạc phát triển bình thường. Một số trẻ sau một thời gian khi các mạch máu võng mạc không cung cấp đủ oxy và chất dinh dưỡng cho cạnh võng mạc sẽ mắc bệnh.

Tình trạng bệnh võng mạc ở trẻ sinh non được chia làm 2 loại là bệnh nhẹ có thể tự lành và bệnh nặng cần điều trị.

Hầu hết các trường hợp mắc bệnh võng mạc trẻ sinh non thường ở thể nhẹ (chiếm khoảng 90%), bệnh có thể tự cải thiện và không có ảnh hưởng gì lâu dài. Tuy nhiên, cha mẹ vẫn cần đưa trẻ đi khám mắt định kỳ và theo dõi thường xuyên để tránh những biến chứng sau này.

Bệnh võng mạc trẻ sơ sinh ở thể nặng cần phải được điều trị càng sớm càng tốt, nếu không sẽ gây suy giảm thị lực, nhiều trường hợp bị mù vĩnh viễn.

5. Điều trị bệnh võng mạc ở trẻ sinh non

Bệnh võng mạc ở trẻ sinh non có thể điều trị bằng laser hoặc phẫu đông lạnh. Bệnh được điều trị càng sớm, hiệu quả thu được càng cao. Tuy nhiên, bệnh võng mạc ở trẻ sinh non ở giai đoạn đầu không thể phát hiện bằng mắt thường nên rất khó nhận biết. Chính vì thế trẻ sinh non hoặc trẻ sinh nhẹ cân cần được đi khám tầm soát sau sinh khoảng 4 tuần để kịp thời phát hiện các bệnh lý gặp phải và có phương án điều trị kịp thời.

Khoa mắt tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là đơn vị uy tín trong lĩnh vực chăm sóc và điều trị các bệnh lý về mắt ở trẻ sinh non. Hiện nay tại bệnh viện đang áp dụng Laser chùm Pascal với nhiều ưu điểm. Đây là một thiết bị laser quang đông võng mạc tiên tiến nhất hiện nay trên thế giới, khắc phục nhiều nhược điểm của các loại laser thông dụng hiện nay. Thời gian tác dụng laser lên các mô của võng mạc rất ngắn, không gây bỏng rộng quanh vùng laser nên giúp kiểm soát tác dụng theo ý muốn, ít gây tổn hại võng mạc xung quanh vùng laser. Bên cạnh đó, đây là phương pháp điều trị vùng hoàng điểm an toàn. Hơn nữa, phương pháp này không hoặc rất ít gây đau, giảm thiểu biến chứng và tác dụng phụ của laser.

Để được thăm khám với các bác sĩ chuyên khoa nhi có kinh nghiệm tại Vinmec. Quý khách vui lòng đặt lịch tại website để được phục vụ.

Để được tư vấn trực tiếp, Quý Khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đăng ký trực tuyến TẠI ĐÂY.

Mẹ Bầu Sinh Non, Vì Đâu?

Trong thời gian mang thai, nhiễm trùng đường tiết niệu, viêm âm đạo là bệnh thường gặp ở mẹ bầu. Các bệnh này khiến bà mẹ mang thai có nguy cơ đối mặt với những cơn co bóp tử cung liên tục dẫn tới hiện tượng sinh non.

Mang đa thai

Theo thống kê, 60% trường hợp bà bầu mang đa thai đều sinh sớm từ 20 – 30 ngày trước ngày dự sinh. Nguyên nhân là do trọng lượng của nhiều thai nhi gây áp lực lên tử cung của mẹ bầu dẫn tới sinh non.

Thiểu ối hoặc đa ối

Nước ối là môi trường dinh dưỡng bao bọc, bảo vệ và nuôi dưỡng thai nhi trong suốt thai kỳ. Việc mẹ bầu bị thiếu ối hoặc quá nhiều nước ối đều là dấu hiệu cảnh báo nguy cơ sinh non và các biến chứng sản khoa. Việc ít ối có thể gây ra tình trạng cạn ối, trẻ thiếu dinh dưỡng và oxy, ngược lại nếu lượng ối quá nhiều sẽ khiến mẹ bầu thường xuyên gặp các cơn chướng bụng, co thắt dẫn tới sinh sớm.

Vì vậy, để biết được lượng ối của mình đã đầy đủ và phù hợp hay chưa, mẹ bầu cần có chế độ dinh dưỡng phù hợp, thường xuyên thăm khám thai để được bác sĩ tư vấn kịp thời.

Bất thường tại cổ tử cung

Nhiều trường hợp giai đoạn đầu mang thai hoàn toàn bình thường nhưng mẹ bầu gặp tai biến sản khoa do sự bất thường tại cổ tử cung đột ngột. Một số trường hợp thai phụ giãn nở tử cung trước ngày dự sinh mà không có sự chuẩn bị trước dẫn tới vỡ ối và sinh non.

Trong thời gian mang thai, mẹ bầu cần theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khỏe và cần lưu ý giữ gìn, tránh làm việc nặng, hạn chế tần suất quan hệ tình dục trong những tháng cuối của thai kỳ.

Mẹ bầu mắc bệnh mãn tính

Trước khi có ý định mang thai, nếu người phụ nữ có những căn bệnh mãn tính như tim mạch, huyết áp cao, tiểu đường, cơ thể thiếu máu cần phải có thời gian bồi bổ và nâng cao thể trạng. Bạn cũng cần tư vấn bác sỹ chuyên khoa về bệnh mãn tính và bác sỹ sản khoa để có những chuẩn bị “cần kíp” nhằm đảm bảo an toàn cho mẹ và bé trong thai kỳ.

Với bà mẹ có tiền sử bệnh tật cần được theo dõi chặt chẽ về y tế và sự hỗ trợ của người thân trong suốt thời gian mang thai và cho con bú. Không ít trường hợp, cơ thể người mẹ trong những tháng cuối bầu bí trở nên mệt mỏi và giảm sức đề kháng dẫn hiện trường hợp sinh non.

Thai nhi bị dị tật

Thai nhi không được chăm sóc cẩn thận, suy dinh dưỡng hoặc mắc dị tật bẩm sinh có xu hướng sinh non hơn thai nhi khỏe mạnh bình thường. Bà mẹ mang thai cần có kế hoạch chuẩn bị sinh nở chu đáo để hạn chế những biến cố xảy ra cho mẹ và con trong thai kỳ.

Thói quen sinh hoạt không lành mạnh của bà bầu

Vì sức khỏe của con yêu, bà mẹ mang thai cần có ý thức giữ gìn sức khỏe, sinh hoạt điều độ trong suốt 9 tháng mang bầu. Những thói quen như thức khuya, ăn đồ ăn vặt kém dinh dưỡng, tinh thần luôn căng thẳng, mệt mỏi là những lý do khiến mẹ bầu dễ có nguy cơ sinh non, sinh con nhẹ cân.

Biết được những nguyên nhân gây sinh non, mẹ bầu cần chủ động chăm sóc sức khỏe thai kỳ để đảm bảo an toàn cho con yêu và chính mình. JO mong rằng, mọi em bé trong bụng mẹ hiện giờ sẽ chào đời thật khỏe mạnh và luôn là niềm hạnh phúc của mỗi bậc cha mẹ.