Top 7 # Xem Nhiều Nhất Vì Sao Lại Gọi Là Chiến Tranh Thế Giới Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Vì Sao Người Pháp Lại Gọi Người Đức Là “Bosch” Trong Thế Chiến Thứ Nhất?

Đánh vần tiếng Pháp của Bosch là Boche. Boche ở đây có nghĩa là caboche, bắp cải, một từ địa phương thường được dùng ở miền Bắc nước Pháp. Thực tế thì từ để chỉ bắp cải, cabbage (tiếng Anh), và cabáiste (tiếng Ireland) cũng bắt nguồn từ từ này (tuy nhiên bây giờ thì người Pháp đã chuyển sang gọi bắp cải là chou). Từ cũ caboche chỉ còn được sử dụng ở những vùng nói tiếng Pháp Norman, ví dụ như ở Quần đảo Eo biển.

Bản thân caboche cũng là một từ có khía cạnh lịch sử lâu đời, có nguồn gốc từ tiếng Latinh “caput”, có nghĩa là cái đầu, sau này chuyển nghĩa thành người dẫn đầu, hoặc thủ lĩnh (trong tiếng Ý – capo, tiếng Catalan – cap, tiếng Pháp – chef) hoặc sự kết thúc (trong tiếng Tây Ban Nha cũng như tiếng Catalan). Về cơ bản, từ caboche gợi cho chúng ta đến một vật hình tròn và to lớn như cây bắp cải, hay như một cái đầu vậy.

Cụm từ “Les Boches”, số nhiều, được dùng trong tiếng Pháp (đồng thời cũng được sử dụng trong tiếng Anh nhưng ít thông dụng hơn) như một cụm từ mang ý nghĩa tiêu cực để chỉ người Đức. Sự so sánh người Đức với cây bắp cải này được bắt nguồn từ:

* việc quân lính Đức thường đội mũ bảo hiểm tròn (thỉnh thoảng có kèm theo một chóp nhọn trên đỉnh, do đó ta có từ Pickelhaube – “mũ bảo hiểm có gai”), ngụ ý rằng người Đức có cái đầu to, tròn, và do đó khá ngu ngốc (cũng giống như từ blockhead trong tiếng Anh hoặc dunderheid trong tiếng Scotland vậy), hoặc

* việc người Đức thường ăn rất nhiều bắp cải, ám chỉ rằng họ nhàm chán và thiếu tinh tế (từ Kraut trong tiếng Anh mang ý nghĩa tiêu cực để chỉ người Đức cũng đến từ việc người Đức thường ăn Sauerkraut, bắp cải chua)

Việc sử dụng “les Boches” như một từ mang ý nghĩa tiêu cực để chỉ người Đức được thông dụng hoá vào Thế chiến thứ nhất năm 1914-18 ở Pháp, rồi được sử dụng bởi người Anh do có hàng trăm ngàn binh lính Anh chiến đấu ở miền bắc nước Pháp giáp Bỉ vào thời điểm ấy. Tình cảnh của thời đại bấy giờ khiến những từ miệt thị người Đức trở nên phổ biến hơn bao giờ hết (ví dụ như Jerry, Kraut, Hun), và Boche chỉ là một trong số đó. Báo chí ở Pháp và ở Anh thời ấy đều sử dụng những ngôn từ hết sức châm biếm đối với những nước ở thế thù địch, ví dụ như những từ mang tính phân biệt chủng tộc, điều sẽ hoàn toàn không được chấp nhận trong xã hội hiện nay. Tuy nhiên, từ Boche trong tiếng Anh theo ý nghĩa này được sử dụng ít dần đi sau khi Thế chiến thứ nhất kết thúc, và đến nay chỉ còn tồn tại trong lịch sử gắn liền với giai đoạn ấy.

Vậy đấy, đó là cách một từ mang nghĩa tiêu cực trong xuất hiện từ cuộc chiến Pháp-Phổ năm 1870-1871 đã được sử dụng trong Thế chiến thứ nhất năm 1914-1918, và đã dần được phổ biến từ tiếng Pháp sang tiếng Anh.

https://qr.ae/pNKAYR

Vì Sao Lại Gọi Là “Trạng Lường”

Lương Thế vinh vẫn được người đời quen gọi là Trạng Lường. Lí do là vì ngay từ nhỏ, ông đã tỏ ra rất giỏi trong việc đo lường. Khi đỗ đạt ra làm việc quan, ông đã viết cuốn sách nhan đề “Đại thành toán pháp” nhằm tổng kết kiến thức tính toán của thời đó và cả những phát minh của chính bản thân ông. Lương Thế Vinh đã viết đề tựa, nêu mục đích của cuốn sách như sau:

” Trước thời cho biết cách đo lường

Tính toán bình phân ở cửu chương

Thông hay mọi nhẽ điều vinh hiển

Học lấy cho tinh giúp thánh vương!”

Tương truyền rằng thuở còn nhỏ, một lần Lương Thế Vinh cùng chúng bạn ngồi hóng mát dưới một gốc cây cổ thụ. Cả bọn thách đố nhau làm thế nào để biết được cây cao – thấp. Một số cho rằng chỉ có cách là trèo lên ngọn cây, rồi dùng dây thòng xuống đất mà đo. Riêng Lương Thế Vinh cho rằng không cần trèo, đứng dưới đất vẫn có thể đo được. Cậu lấy chiếc gậy cầm ở tay đo xem dài ngắn bao nhiêu, đoạn dựng gậy lên mặt đất và đo chiều dài bóng gậy. Tiếp đến cậu đo bóng cây và sau một lát nhẩm tính, cậu đã tìm được chiều cao của cây. Bọn trẻ không tin bèn dùng thừng nối lại, buộc hòn đá phía dưới, rồi trèo lên tít ngọn cây dong thừng xuống đất để đo. Kết quả, đúng như Vinh đã tính.

Ngày nay, cách tính chiều cao của cây mà Lương Thế Vinh đã áp dụng, chắc chắn các bạn học sinh chúng ta không lấy gì làm lạ. Nhưng cách đây gần 5 thế kỉ, khi ở châu Âu số người hiểu được định lí Pitago về cạnh tam giác vuông chỉ mới đếm trên đầu ngón tay, thì việc Lương Thế Vinh tìm ra được tỉ lệ chiều cao của cây và chiều cao của chiếc gậy bằng tỉ lệ bóng của chúng trên mặt đất, là một sáng tạo, thể hiện nước ta ở thế kỉ XV đã có nhà toán học đầy tài năng.

Khi đến tuổi trưởng thành, có lần Lương Thế Vinh đến một khúc sông, thấy mấy người đang bàn tính nhau tìm cách đo chiều rộng của con sông để bắc cầu. Hôm đó nước sông rất to và chảy xiết, nên không thể bơi qua. Lương Thế Vinh bèn góp ý:

– Không cần sang sông làm gì. Các ông tìm cho tôi mấy cái cọc, tôi sẽ đo giúp.

Lúc đầu mấy người tưởng ông nói đùa, không tin. Nhưng chỉ sau một lúc đóng cọc, ngắm nghía và tính toán, ông đã cho họ biết khúc sông rộng bao nhiêu thước. Thì ra từ thời đó, Lương Thế Vinh đã biết đến kiến thức về tam giác đồng dạng…

Lại một lần khác, đoàn sứ bộ nhà Minh sang nước ta. Vua Lê Thánh Tông cử trạng nguyên Lương Thế Vinh đón tiếp. Trưởng đoàn sứ Minh vốn nghe tiếng trạng nguyên Việt chẳng những nổi tiếng văn chương, mà còn có trí thức uyên bác về khoa học, bèn hỏi:

– Có phải ông là người làm sách “Đại thành toán pháp”?

Lương Thế Vinh tỏ vẻ khiêm tốn, đáp:

– Vâng, đúng vậy!

Nhân lúc đó có con voi đang kéo gỗ dưới sông lên, sứ Tàu bèn thách:

– Vậy quan trạng có thể cân xem con voi kia nặng bao nhiêu được không?

– Được ạ!

Dứt lời, Lương Thế Vinh lấy chiếc cân, xăm xăm đi ra phía sông để cân voi.

Sứ Tàu phì cười, nói:

– Xem chiếc cân quan trạng chỉ đủ cân được cái đuôi voi thôi!”

– Thì chia nhỏ voi ra nhiều phần để cân.

Lương Thế Vinh trả lời, tỉnh khô.

Vị chánh sứ Tàu lại châm chọc:

Lương Thế Vinh không trả lời. Ông sai lính dắt voi xuống chiếc thuyền bỏ không buộc lên bờ. Voi nặng, thuyền đắm sâu xuống nước. Ông lại sai đánh dấu mép nước bên mạn thuyền, rồi dắt voi lên. Đoạn ông ra lệnh cho quân lính khuân đá bỏ vào thuyền, cho đến khi thuyền đắm ngang mực nước đã đánh dấu thì thôi. Thế rồi trạng cho bắc cân cân hết số đá trong thuyền và bảo với sứ Minh:

– Đây, con voi ông chỉ, nặng chừng này cân!

Viên sứ Tàu tuy trong bụng đã phục lăn, nhưng bề ngoài vẫn làm vẻ chưa tin, muốn thử tài trạng thêm, bèn xé một tờ giấy bản trong cuốn sách dày và đưa cho trạng một chiếc thước, nhờ đo xem tờ giấy dày bao nhiêu.

Tình huống đặt ra thật khó xử. Tờ giấy quá mỏng, mà các nấc chia trên thước vừa lớn, lại không rõ. Nhưng với trí tuệ linh hoạt, Lương Thế Vinh đã nghĩ ngay được cách đo. Ông mượn viên sứ Tàu quyển sách, lấy thước đo chiều dày cả quyển, rồi chia cho số tờ và tìm ra đáp số, trước con mắt thán phục của sứ bộ nhà Minh.

Thế Nào Là Chiến Tranh Phi Nghĩa

Chiến tranh là một hiện tượng xã hội , chính trị được thể hiện ở cuộc đấu tranh vũ trang giữa các nước hoặc giữa liên minh các nước. Mọi cuộc chiến tranh xét về bản chất xã hội đều là sự tiếp tục chính trị bằng bạo lực. Về mục đích chiến tranh có thể phân ra thành chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa.

Định nghĩa thế nào là chiến tranh phi nghĩa

Ví dụ : Cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô chống phát xít Đức giải phóng loài người khỏi thảm họa diệt vong của chủ nghĩa phát xít, bảo vệ vững chắc nền độc lập của nhân dân Xô viết, làm thành trì, chỗ dựa vững chắc cho phong trào cách mạng thế giới, thúc đẩy sự phát triển của xã hội loài người.

” Chiến tranh phi nghĩa là chiến tranh do giai cấp bóc lột gây ra nhằm đàn áp cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các dân tộc bị áp bức, hòng xâm chiếm đất đai, nô dịch các dân tộc khác”.Chiến tranh phi nghĩa còn là cuộc chiến tranh giữa các nước đế quốc với các nước đế quốc tiến hành nhằm phân chia quyền thống trị thế giới.

Ví dụ: cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất ( 1914 – 1918). Đây là cuộc chiến tranh phi nghĩa, là cuộc chiến tranh giữa đế quốc với đế quốc nhằm phân chia thị trường thế giới.

Mọi cuộc chiến tranh dù chính nghĩa hay phi nghĩa cũng đều gây ra đau thương tổn thất cho nhân loại. Chiến tranh nó hủy diệt tất cả: Nhà cửa, các công trình văn hóa, các nhà máy xí nghiệp, nó cướp đi sinh mạng của nhiều người dân vô tội. Chiến tranh đã trở thành hiện tượng diễn ra thường xuyên trong quá trình phát triển của xã hội loài người còn tồn tại những áp bức bất công, những mâu thuẫn cố hữu giữa các dân tộc như nạn phân biệt chủng tộc, chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa li khai, chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, nhất là chủ nghĩa bá quyền của các đế quốc lớn, âm mưu áp đặt quyền thống trị nô dịch các dân tộc trên thế giới, bắt các dân tộc nhỏ hơn, yếu hơn phục tùng mình.

Như vậy để chấm dứt chiến tranh, để cho thế giới này không còn nghe thấy tiếng bom rơi, đạn nổ, mỗi người chúng ta hãy góp sức mình cùng với nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới đấu tranh chống lại mọi âm mưu gây ra chiến tranh của các thế lực phản động nhằm bảo vệ hòa bình và an ninh thế giới. Chúng ta cần phải đấu tranh không khoan nhượng bằng bất kì hình thức nào với các thế lực muốn gây ra chiến tranh, để dập tắt chiến tranh ngay khi nó chưa bùng phát.

Để thực hiện được mục đích trên, điều qua trọng là chúng ta cần phải giáo dục cho thế hệ trẻ lòng yêu hòa bình, chống chiến tranh, để các em có một nhận thức đúng về chiến tranh, qua đó các em có ý thức đấu tranh bảo vệ hòa bình thế giới. Lòng yêu hòa bình, chống chiến tranh là một giá trị đạo đức cao cả, nó được thể hiện bằng tình yêu quê hương đất nước, tình yêu thương đồng loại, từ đó ra sức đấu tranh chống lại mọi hành động gây chiến tranh, hủy diệt sự sống loài người của các thế lực phản động, để loài người được sống trong hòa bình. Hòa bình đó là sự thân ái, bao dung, rộng lượng, cùng sống hữu nghị với nhau, cùng giúp đỡ nhau phát triển trên cơ sở tôn trọng quyền tự do của mỗi cá nhân hay quyền tự quyết của mỗi dân tộc.

Vì Sao Lại Gọi Phật, Pháp, Tăng Là Bảo?

“Cứu cánh thừa bảo tính luận” đã đặc biệt thuyết minh cho câu hỏi này: Tam Bảo sở dĩ là “Bảo” đó vì sáu tầng ý nghĩa.

Tại sao Tam Bảo là ba ngôi báu quý hiếm?

Chúng ta quy y Tam Bảo, tất phải hiểu chỗ thù thắng rốt cuộc ở đâu, như vậy, mới có thể tín tâm Tam Bảo. Mà tín tâm này, chính là chìa khóa thành công. Nếu không có được tín giải, tâm của chúng ta sẽ trở về chỗ phàm phu, vùng vẫy giữa vô vàn suy nghĩ và dục vọng. Học pháp tất sẽ khó lòng tiến triển.

Một vì hiếm mà có được. Trên thế gian này, thực sự có thể khai mở kho báu này chỉ được mấy người. Dù người người đều có phẩm chất Tam Bảo nhưng thâm tạng bất lộ, dù có dù không, đều không thể thay đổi bất cứ điều gì cho số mệnh của mình.

Hai vì thanh tịnh. Phẩm chất Tam Bảo luôn cách xa tất thảy vô cấu pháp. Tam Bảo có sự khác nhau về hình thức và thực chất, “Tam Bảo luận” có nói với người sau rằng những phẩm chất giác ngộ, giải thoát… trong Tam Bảo là vô cấu, vô lộ.

Ba vì thế lực. Tam Bảo có sức mạnh lớn lao, có thể hóa giải mọi phiền não, muộn sầu. Khi phẩm chất Tam Bảo phát tác tác dụng trong sinh mệnh, phiền nhiễu liền được hóa giải, cũng tựa như hoa tuyết rơi xuống hỏa lò, tức khắc tiêu trừ vô ảnh, mất dấu.

Bốn vì trang nghiêm. Thứ nhất, Tam Bảo có thể tịnh hóa phiền muộn tâm linh. Sạch nhơ của nhân gian là tùy nhân tâm nhơ sạch mà hiển hiện, vì nội tâm chất đầy phiền não, nên thế gian biến thành năm giới loạn ác. Bởi thế, tịnh hóa thế gian không chỉ cần dọn dẹp môi trường, mà còn cần hơn dựa vào sức mạnh Tam Bảo để làm trong dọn sạch nội tâm. Thứ nữa, phẩm chất Tam Bảo ẩn chứa vô lượng công đức, sự nghiêm trang thanh tịnh của quốc sĩ chư Phật thập phương, chính là dựa vào tâm thanh tịnh của Đức Phật, Bồ Tát mà hiển hiện.

Vì có sáu nội hàm này nên mới gọi là “Bảo”. Tam Bảo về hình thức, như Phật tướng, kinh sách, tăng đoàn, thậm chí bao gồm cả sắc thân của Như Lai, dù đều là “Bảo” thì cuối cũng vẫn không viên mãn, không phải “Bảo” về ý nghĩa rốt cùng.

Tại sao con phải kính Phật trọng Tăng?

Năm vì thắng lợi tối cùng. Bao gồm hai phương diện: Một là, phẩm chất Tam Bảo thực vi thù thắng, thanh tịnh vô lộ; Hai là, chứa đựng sức mạnh hóa giải mọi muộn sầu.

Sáu vì bất biến. Nhân gian hữu vi, hữu lộ, vô số biến hóa và bất ổn định. Quay lại nhìn vào nội tâm, những gì hiển hiện cũng không ngoài những suy nghĩ và dục vọng tán loạn. Vậy nên, sinh mệnh chỉ là thể tổng hợp của hỗn loạn bất an, phiêu bạt bất định. Tuy vậy, trong những tầng diện đa biến, tâm vẫn có tầng diện bất biến, đó chính là phẩm chất Tam Bảo của tâm, biết được tất thảy, bi nguyện vô bờ.

Vì có sáu nội hàm này nên mới gọi là “Bảo”. Tam Bảo về hình thức, như Phật tướng, kinh sách, tăng đoàn, thậm chí bao gồm cả sắc thân của Như Lai, dù đều là “Bảo” thì cuối cũng vẫn không viên mãn, không phải “Bảo” về ý nghĩa rốt cùng.

Chúng ta quy y Tam Bảo, tất phải hiểu chỗ thù thắng rốt cuộc ở đâu, như vậy, mới có thể tín tâm Tam Bảo. Mà tín tâm này, chính là chìa khóa thành công. Nếu không có được tín giải, tâm của chúng ta sẽ trở về chỗ phàm phu, vùng vẫy giữa vô vàn suy nghĩ và dục vọng. Học pháp tất sẽ khó lòng tiến triển.

Dân Nguyễn (Dịch từ ZQFJ)