Top 18 # Xem Nhiều Nhất Vì Sao Liên Xô Tan Rã Lịch Sử 9 / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Vì Sao Liên Xô Tan Rã / 2023

Vì sao Liên Xô tan rã Chủ nghĩa Mac cho những nhà hoạch định kế hoạch tập trung

Trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, các nhà kinh tế thường tranh cãi về những giá trị tương đối của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, Liên Xô từ bỏ kế hoạch hóa tập trung theo chủ nghĩa Marx sau năm 1990 và bắt đầu quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường. Năm 2003 các cổ động viên của các câu lạc bộ bóng đá Chelsea chào đón ông chủ mới Rorman Abramovitch người đi lên trong kinh tế thị trường, bắt đầu là một nhà buôn bán dầu mỏ và sau đó là chủ tịch một trong những công ty dầu mỏ hàng đầu ở Nga.

Bức tường Berlin sụp đổ vì Liên Xô đã tụt hậu xa so với các nền kinh tế thị trường ở phương Tây. Những khó khăn cốt yếu nảy sinh là:

§Quá tải thông tin: Các nhà hoạch định kế hoạch không thể theo kịp chi tiết của những hoạt động kinh tế. Máy móc thiết bị bị gỉ sét vì không có người lắp đặt sau khi giao hàng, mùa màng thu hoạch bị thối rữa vì lưu kho và phân phối không phối hợp được.

§Động lực kém: Việc đảm bảo việc làm tuyệt đối làm giảm động cơ làm việc. Những người quản lý các nhà máy đặt hàng nguyên vật liệu vượt quá số lượng cần thiết để đảm bảo nguyên vật liệu cho năm kế tiếp vì các nhà hoạch định kế hoạch có thể điều hành số lượng dễ dàng hơn so với chất lượng nên các doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu mục tiêu số lượng bằng cách bỏ qua yêu cầu chất lượng. Thiếu những tiêu chuẩn về môi trường, các doanh nghiệp gây ô nhiễm nghiêm trọng. Kế hoạch hóa tập trung dẫn đến hàng hóa chất lượng thấp và làm hại cho môi trường.

§ Cạnh tranh phi hiệu quả: Các nhà hoạch định kế hoạch tin tưởng rằng to lớn là tốt đẹp. Nhưng quy mô lớn làm các nhà hoạch định kế hoạch mất thông tin từ các hãng cạnh tranh, nên rất khó đánh giá hiệu quả. Thiếu sự cạnh tranh để chọn lựa thì không thể tránh được những sai lầm kinh tế.

Theo David Begg, Stanley Fischer, Rudiger Dornbusch. Kinh tế học. Bản dịch tiếng Việt, phiên bản thứ 8. 2008. Nhà xuất bản Thống Kê. Hà Nội.

Liên Xô Tan Rã, Đảng Cộng Sản Âm Thầm Rút Khỏi Vũ Đài Lịch Sử / 2023

Một đảng khi có 20 nghìn đảng viên đã lãnh đạo Cách mạng tháng Hai lậtđổ ách thống trị chuyên chế Sa hoàng; khi có 35 vạn đảng viên đã giànhđược thắng lợi của Cách mạng XHCN tháng Mười và nắm chính quyền toànquốc; khi có hơn 5.540.000 đảng viên lãnh đạo nhân dân chiến thắngphát-xít Đức hung bạo, lập chiến công bất hủ, chấm dứt Chiến tranh Thếgiới thứ hai, vậy mà khi có gần 20 triệu Đảng viên thì lại mất địa vịcầm quyền, mất Đảng, mất nước. Rốt cuộc, vấn đề là ở chỗ nào?

Cho đến nay, nhiều học giả trên thế giới vẫn cố gắng nghiên cứu, lý giải nguyên nhân tan rã của Liên Xô.

Tháng 3/1985, Gorbachev được bầu làm Tổng Bí thư Đảng CS Liên Xô. Tháng 2/1986, Đảng CS Liên Xô triệu tập Đại hội đại biểu lần thứ 27. Đây là Đại hội đầu tiên được triệu tập sau khi Gorbachev lên cầm quyền. Sau đó không lâu, Gorbachev chính thức đưa ra khẩu hiệu “Dân chủ hóa tính công khai, dư luận đa nguyên hóa” và lấy đó làm bước đột phá mở ra cơ chế cải cách. Lúc bấy giờ, nhân dân Liên Xô mong muốn cải cách thoát khỏi trì trệ nhưng vẫn chưa rõ, thậm chí, chưa hiểu hàm nghĩa thực sự của khẩu hiệu Gorbachev đưa ra dưới danh nghĩa “perestroika” (cải tổ) là gì.

Tháng 6/1988, Đảng CS Liên Xô họp Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ 19. Trong báo cáo, Gorbachev có đoạn bộc bạch: “Phương châm chủ yếu của cải tổ thể chế chính trị Liên Xô không chỉ là đề xướng vấn đề dân chủ hóa tính công khai và dư luận đa nguyên hóa. Mà là phải loại bỏ vấn đề Đảng CS Liên Xô là hạt nhân của thế chế chính trị Liên Xô. Là vấn đề phải chuyển trung tâm quyền lực nhà nước từ trong tay Đảng CS sang Xô Viết”.

Năm 1987, Govbachev kêu gọi “dân chủ hóa”.

Tháng 7/1990, Đảng CS Liên Xô tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ 28. Đây là Đại hội cuối cùng trong lịch sử Đảng CS Liên Xô trước khi Liên Xô tan rã. Đại hội thông qua tuyên bố có tính cương lĩnh “tiến tới Xã hội chủ nghĩa dân chủ hóa nhân đạo” và một số nghị quyết khác. Từ đây, thể chế đa đảng và thể chế dân chủ nghị viện, ý thức hệ đa nguyên cũng chính thức trở thành phương châm chỉ đạo của Đảng. Các tổ chức chống Cộng thừa cơ được thành lập hàng loạt và phát triển lớn mạnh, triển khai cuộc đấu tranh với Đảng CS Liên Xô.

Kusov, Phó Chủ tịch Trung ương Đảng CS Nga ngày 28/2/1991 nói: “Sửa đổi Hiến pháp chỉ vẻn vẹn một năm, đã có khoảng 20 chính đảng cấp Liên bang, có hơn 500 chính đảng cấp nước cộng hòa. Hầu hết trong đó trở thành lực lượng chính trị cuối cùng thúc đẩy Đảng CS Liên Xô bị hạ bệ và giải tán”.

Dưới sự cổ vũ của phương châm dân chủ hóa tính công khai và thể chế đa đảng của Gorbachev, tinh thần dân tộc chủ nghĩa ở các nước cộng hòa thuộc Liên Xô đã không ngừng dâng cao, khuynh hướng ly khai dân tộc hẹp hòi ngày càng trở nên trầm trọng. Tổ chức Đảng của các nước cộng hòa tham gia Liên bang cũng ngày càng xa rời trung ương.

Từ năm 1989, Đảng CS của một số nước cộng hòa như Latvia, Lithuania (Lít-va), Estonia… đưa ra yêu cầu tách khỏi hoặc độc lập với Đảng CS Liên Xô. Bất chấp sự phản đối của Đảng CS Liên Xô, ngày 20/12/1989, tại Đại hội 20, Đảng CS Lithuania thông qua Tuyên ngôn, quyết định về địa vị của Đảng CS Lithuania, tuyên bố Đảng CS Lithuania tách khỏi Đảng CS Liên Xô, giữ quan hệ đối tác bình đẳng với Đảng CS Liên Xô.

Gorbachev liên tục lùi bước trước tình hình này. Cái gọi là “phái dân chủ” trong Đảng lợi dụng tình hình để hưởng ứng, phối hợp chặt chẽ với chủ nghĩa li khai dân tộc ngoài Đảng, tiến hành hoạt động chia rẽ Đảng CS Liên Xô, từ đó làm tan rã Liên Xô.

Ngày 17/3/1991, Liên Xô tiến hành trưng cầu ý kiến nhân dân toàn Liên bang. Trong đó, số phiếu bảo lưu Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô viết chiếm 76,4%. Số phiếu phản đối chiếm 21,7%. Nhưng 6 nước cộng hòa Gruzia, Lithuania, Moldovia, Latvia, Armenia, Estonia từ chối trưng cầu dân ý.

Ngày 23/4/1991, Gorbachev nhân danh Trung ương Đảng CS và Xô viết tối cao Liên Xô tiến hành gặp gỡ những người lãnh đạo của 9 nước cộng hòa Liên bang (Nga, Ukraine, Belarus, Kazakstan…), ra tuyên bố 9+1 đề xuất nhanh chóng ký kết Hiệp ước Liên bang mới với tên gọi là Cộng đồng các quốc gia độc lập SNG, xóa bỏ khái niệm “xã hội chủ nghĩa”. Sự kiện này về mặt luật pháp phá hoại thống nhất quốc gia, đặc biệt là thay đổi tính chất XHCN và phương hướng thống nhất của quốc gia. Cùng lúc, Yeltsin – Chủ tịch Xô viết Liên bang Nga, cũng cố gắng làm tan rã nước này một cách không thương tiếc nhằm chiếm đoạt quyền lực tối cao.

Ngày 20/8 là ngày ký Hiệp ước Liên bang mới. Ngày 19/8, để giữ lại Liên Xô XHCN đồng thời ngăn chặn cái gọi là “phái dân chủ” lên nắm quyền, một nhóm lãnh đạo cao cấp của Đảng, chính quyền và quân đội Liên Xô tuyên bố tình trạng khẩn cấp ở một số địa phương trong nước và thành lập Ủy ban tình trạng khẩn cấp do Phó tổng thống Yanaev đứng đầu.

Cuộc đảo chính của một nhóm lãnh đạo Đảng CS Liên Xô diễn ra ngày 19/8/1991 nhưng không thành công.

Có thể coi đây là cuộc thử nghiệm cuối cùng của một số nhà lãnh đạo trong Đảng CS Liên Xô cố nhằm cứu vãn Liên Xô XHCN, tránh cho đất nước rơi vào thảm họa. Nhưng do họ không có niềm tin XHCN rõ ràng và kiên định, lại thiếu ý chí chính trị kiên cường trong đấu tranh thực tế, nên họ thất bại. Gorbachev đang đi nghỉ mát, có thái độ trước là lừng chừng, sau là phản bội, và đây cũng là điều góp phần đẩy nhanh tiến trình thất bại của sự kiện.

Sự kiện 19/8 kết thúc. Trung ương Đảng CS Liên Xô tự giải tán trước sự thúc ép của Gorbachev. 4.228 tòa nhà làm việc, 180 trung tâm chính trị xã hội, 16 cơ sở nghiên cứu chính trị xã hội,… của Đảng CS Liên Xô đều bị nhà cầm quyền Nga niêm phong và tịch thu. Tổ chức Đảng CS khắp các khu vực Nga và ở các nước cộng hòa Liên Xô nhanh chóng bị giải tán hoặc bị cấm hoạt động. Toàn Đảng tan rã theo. Vậy là một đảng lớn, có gần 20 triệu đảng viên, đã mất địa vị cầm quyền sau 74 năm cầm quyền.

Cho đến hôm nay, trong hồ sơ của Trung ương hay của địa phương, đều không thấy ghi chép gì khi thế lực thù địch xóa bỏ Đảng CS gặp phải sự chống đối của tổ chức các cấp của Đảng. Không hề thấy ghi chép gì về việc đảng viên Đảng CS Liên Xô tập hợp lại một cách có tổ chức để tiến hành bất cứ một hoạt động phản đối quy mô lớn nào nhằm bảo vệ Khu ủy, Thành ủy hoặc Huyện ủy của mình.

Mất Đảng tất yếu đưa tới mất nước. Ngày 25/12/1991 là ngày cuối cùng Gorbachev làm Tổng thống Liên Xô, cũng là ngày tồn tại cuối cùng của Liên Xô. 10h, Gorbachev đến Phủ Tổng thống ở Điện Kremli chuẩn bị đơn từ chức mà ông ta sẽ đọc vào tối hôm đó. 19h, Gorbachev qua máy ghi hình của Đài Truyền hình Trung ương Liên Xô và Đài Truyền hình CNN (Mỹ) đọc thư gửi nhân dân Liên Xô và toàn thế giới, tuyên bố từ chức, ngừng mọi hoạt động của mình với chức vụ tổng thống Liên Xô. 19h32, quốc kỳ Liên Xô hình búa liềm đã in đậm trong lòng nhiều thế hệ người Liên Xô và nhân dân thế giới trên nóc điện Kremli ủ rũ hạ xuống trong gió lạnh. 19h45, lá cờ ba mầu của Liên bang Nga thay thế.

Buổi sáng 26/12/1991, Viện Cộng hòa Xô Viết tối cao Liên Xô họp hội nghị lần cuối cùng. Hội trường chỏng chơ, vắng ngắt. Trên đoàn Chủ tịch chỉ có một mình Alychanov, Chủ tịch Viện Cộng hòa. Các đại biểu giơ tay biểu quyết thông qua tuyên ngôn tuyên bố “Liên Xô ngừng tồn tại”. Đảng CS Liên Xô, Liên bang Cộng hòa XHCN Xô Viết – hai cái tên rực rỡ suốt hơn nửa thế kỷ, đã rút khỏi vũ đài lịch sử âm thầm như thế.

Sau khi Liên Xô tan rã, theo “liệu pháp sốc” của người Mỹ, ở nước Nga người ta tiến hành cưỡng chế thực hành cải cách tư hữu hóa trong lĩnh vực kinh tế. Kết quả rất nhanh là đưa đến một nền kinh tế tiêu điều và suy thoái nghiêm trọng. Đất nước nghèo đi nhanh chóng, xã hội rơi vào hỗn loạn. Phạm tội xảy ra tràn lan. Theo tài liệu của Bộ Nội vụ Nga, lúc đó toàn quốc xuất hiện hơn 8.000 băng nhóm tội phạm cỡ lớn có tổ chức. Trong Thông điệp tình hình đất nước năm 1996, Yeltsin cũng thừa nhận: “Nước Nga hiện nay đã vượt Italy, trở thành vương quốc băng đảng mafia lớn nhất thế giới”.

Từ năm 1991 đến cuối thế kỷ 20, tổng giá trị sản xuất trong nước của Nga giảm xuống 52% so năm 1990 (trong khi đó, vào thời kỳ chiến tranh từ năm 1941 đến năm 1945 chỉ giảm 22%). Sản xuất công nghiệp cùng thời kỳ giảm 64,5%. Sản xuất nông nghiệp giảm 60,4%. Đồng rúp mất giá. Vật giá tăng cao hơn 5.000 lần. Từ năm 1992 trở đi, dân số nước Nga luôn có xu thế giảm. Tuổi thọ bình quân của người Nga năm 1990 là 69,2 tuổi. Còn năm 2001 là 65,3 tuổi. Thậm chí, tuổi thọ bình quân của nam giới ở một số vùng giảm xuống đến 10 tuổi.

Đảng CS Liên Xô bị diệt vong, Liên Xô tan rã mang lại hậu quả tai hại cho Nhà nước và nhân dân Liên Xô. Năm 2005 khi đọc Thông điệp Liên bang, Tổng thống Nga Putin nói: “Liên Xô tan rã là tai họa chính trị nghiêm trọng nhất của thế kỷ 20. Đối với nhân dân Nga, đó là một bi kịch thực sự”. Rất nhiều học giả Nga cũng rút ra kết luận rằng, Đảng CS Liên Xô sụp đổ, Liên Xô tan rã làm cho phát triển kinh tế – xã hội thụt lùi mấy chục năm.

Một đảng do Lenin sáng lập. Một Đảng từng lãnh đạo giai cấp công nhân Nga lật đổ ách thống trị của nước Nga Sa hoàng, xây dựng thành công Nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên. Một đảng từng lãnh đạo nhân dân chống lại sự can thiệp vũ trang của 14 nước, bảo vệ thắng lợi thành quả cách mạng. Một đảng đã lãnh đạo chiến thắng phát-xít Đức trong cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại và cống hiến to lớn cho thắng lợi của thế giới trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Một đảng giành được thành tựu rực rỡ trong xây dựng CNXH và đi đầu trong việc đưa vệ tinh nhân tạo vào vũ trụ. Vì sao lại mất địa vị cầm quyền sau 74 năm cầm quyền?

Một đảng khi có 20 nghìn đảng viên đã lãnh đạo Cách mạng tháng Hai lật đổ ách thống trị chuyên chế Sa hoàng; khi có 35 vạn đảng viên đã giành được thắng lợi của Cách mạng XHCN tháng Mười và nắm chính quyền toàn quốc; khi có hơn 5.540.000 đảng viên lãnh đạo nhân dân chiến thắng phát-xít Đức hung bạo, lập chiến công bất hủ, chấm dứt Chiến tranh Thế giới thứ hai, vậy mà khi có gần 20 triệu Đảng viên thì lại mất địa vị cầm quyền, mất Đảng, mất nước. Rốt cuộc, vấn đề là ở chỗ nào?

Nguyên Nhân Nào Đưa Liên Bang Xô Viết Đến Chỗ Tan Rã / 2023

Sự sụp đổ có vẻ bất ngờ của Liên Xô đã từng được lý giải bằng nhiều lập luận. Người ta thường đề cập đến các lý do chính trị: sự suy yếu của các Bộ sức mạnh (khối an ninh-quốc phòng), do nội phản hay vì sự tấn công của các thế lực thù địch bên ngoài… Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu ở cả phương Tây và Đông Âu lại cho rằng đây chỉ đơn thuần là cái chết về kinh tế. Bị trượt bánh ở ngã ba đường từ phát triển kinh tế kiểu “quảng canh” sang giai đoạn phải tất yếu “thâm canh”, liên bang chính trị-kinh tế-quân sự có quy mô địa lý lớn nhất hành tinh đã đột ngột tan đàn sẻ nghé ngay sau khúc dạo đầu hùng tráng của các “bản nhạc” Perestroika và Glasnost… Sự tan rã của Liên Xô còn là minh chứng cho lề lối điều hành kinh tế theo kiểu quan liêu bao cấp, tạo điều kiện cho tham nhũng tràn lan, gây nên tình trạng tê liệt trong mọi lĩnh vực sản xuất. Kỷ niệm 20 năm thực hiện công cuộc Đổi mới ở nước ta, chúng tôi xin trích dịch giới thiệu với bạn đọc để tham khảo những bài học đưa đến sự sụp đổ của một cường quốc quân sự nhưng lại không làm chủ được vận mệnh kinh tế của mình. Đây cũng là những bài học cho chúng ta suy ngẫm trước tình trạng tham nhũng hiện nay ở nước ta. Đầu đề là của chúng tôi.

Như một cầu chì cho thời kỳ chiến tranh lạnh, vũ khí hạt nhân có bốn công dụng. Thứ nhất, nó phù hợp với logic đầy nghịch lý của chiến lược, khả năng hủy diệt của vũ khí hạt nhân vượt quá đòi hỏi đề ra cho giới quân sự, nhưng lại có tác dụng răn đe cả hai phía. Thứ hai, những đề xuất áp dụng vũ khí hạt nhân trên chiến trường bằng cách đánh sụt sức công phá của nó đều bị dẹp đi, vì hiệu quả chiến thuật của phương án này sẽ bằng không nếu đối phương đánh trả cũng bằng vũ khí hạt nhân, nhưng với độ công phá cao hơn một tý. Thứ ba, việc ngăn ngừa các hoạt động tác chiến phi hạt nhân giữa các cường quốc hạt nhân vì thế mà trở nên dễ dàng hơn, vì người ta hiểu rằng chiến thắng vừa đạt được nhờ xung đột bằng vũ khí thông thường sẽ lập tức bị đảo ngược, nếu bên vừa thua chuyển sang dùng đòn hạt nhân. Cuối cùng, vũ khí hạt nhân gạt bỏ khí thế bừng bừng đã tạo đà cho một vài cuộc chiến. Vì nếu vũ khí hạt nhân được sử dụng, hiệu quả chiến tranh sẽ không thể khái toán, còn các hậu quả thảm khốc lại nhỡn tiền, tạo ra tác động cảnh tỉnh mạnh tới mức ngay cả những người cứng rắn như Stalin và Mao, từng điềm tĩnh chứng kiến cái chết của hàng triệu, hàng chục triệu đồng bào mình, cũng phải dè chừng, như bất cứ chính khách nào có dục vọng vừa phải, một khi chạm đến vấn đề hạt nhân.

Chiến tranh lạnh đã được tiến hành mà không cần giao chiến trực tiếp. Các cuộc chiến diễn ra ở Triều Tiên, Việt Nam, Afganistan… dưới các thấu kính loại khác sẽ hiển hiện với quy mô lớn hơn, vì có các bên thứ ba đan xen vào. Chiến tranh nóng, buộc nhân loại phải trả giá ghê gớm về người và của, (phần nào do cố đạt bằng được liên minh về chính trị), không thể xem là giải pháp cho chiến tranh lạnh. Các chiến dịch viễn chinh hay xung đột vũ trang trực tiếp giữa các bên can thiệp cũng thế. Còn sự can thiệp hay đánh thuê bởi các đồng minh của mỗi bên cùng lắm chỉ giải quyết được những vấn đề khu vực mà thôi.

Tuy nhiên, các sản phẩm quân sự đủ loại vẫn được chế tác trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh, cứ thỉnh thoảng lại rộ lên. Bên yếu hơn thường cần cù hơn trong việc cải tiến, nâng cấp và đa dạng hóa các ứng dụng hạt nhân trong quân sự, vì thế họ thường bị chú ý và chỉ trích nhiều hơn. Vì vũ khí hạt nhân và phụ tùng rất đắt, những ai chống duy trì lực lượng hạt nhân luôn kêu ca rằng nó rất tốn kém mà quên rằng lực lượng chiến đấu không hạt nhân còn tiêu tốn hơn nhiều, chiếm tới bốn phần năm tổng số chi phí cho quân sự. Một số ý kiến chỉ trích tỏ ra có lý hơn khi cho rằng tăng cường vũ khí hạt nhân sẽ hoặc là vô ích, hoặc là nguy hiểm. Họ còn chỉ ra rằng những tính năng cụ thể nào của vũ khí hạt nhân sẽ làm mất đi sự răn đe đối với cả hai bên. Chẳng hạn các tên lửa đạn đạo đạt độ chính xác cao tới mức hủy diệt được hầm chứa tên lửa, nhưng vì phòng thủ chống tên lửa đạn đạo cũng có tính năng chính xác không kém trong việc ngăn chặn đòn trả đũa, nên việc đánh trước đòn hạt nhân trở nên được chú trọng hơn…

Một khi cuộc chạy đua hạt nhân tầm chiến lược có tác dụng ru ngủ cả hai bên, nó không còn là yếu tố quyết định nữa. Và cuộc chiến tranh lạnh đã được sốt sắng tiếp tục bằng các biện pháp khác như tuyên truyền và lật đổ, đặc biệt là ở châu Âu; hoặc phổ biến hơn, gây được hậu quả lớn hơn – là chạy đua kinh tế. Trong tuyên truyền và lật đổ, cả hai bên từng tạo lực lượng hùng hậu cho đến tận hồi kết, và đều đã dựa dẫm các đồng minh tự phát nhưng vô cùng ngoan cường trong hậu địch. Khu vực yếu kém nhất trong tiền đồn của khối Varsava chính là Ba Lan, một đối tác chưa bao giờ thực sự trung thành với Nga, bất chấp màu quân phục mà họ mang và lý tưởng mà họ nhiệt liệt tán thưởng. Về phần mình, Hoa Kỳ cũng phải đấu đá với trào lưu chống Mỹ xuất phát từ chủ nghĩa phản hiện đại (anti-modernism) được cổ súy bởi một số phần tử cực hữu, cũng như phái cực tả, cả cũ lẫn mới. Ngoài các môn đồ của chủ nghĩa cộng sản, Liên Xô từng thu nạp được những cổ động viên ở phương Tây trung thành với tinh thần chống Mỹ hơn là thân Xô, vì họ vẫn kịch liệt chống Mỹ cả khi Liên Xô không còn nữa.

Bây giờ mới rõ ra rằng, cho dù thời chiến tranh lạnh từng có những hy vọng ngắn ngủi hoặc những hồi còi báo động, cả hai phe đã không hề tạo dựng nổi bất cứ phương cách tuyên truyền hay lật đổ nào khả dĩ thay đổi được vạch biên giới ngăn cách đôi bên.

Vậy thì mọi sự quy về thi đua kinh tế. Nói thế không có nghĩa là coi nhẹ uy lực quân sự. Đúng ra, uy lực này đã được bố trí khấm khá ở mỗi bên, đến mức một sự ổn định đáng quý đã được duy trì, do mỗi bên đều ngán tiềm năng của bên kia. Đây được xem là một lợi lộc nữa được vũ khí hạt nhân ban cho, bởi chưng các lực lượng phi hạt nhân của cả đôi bên đều mang tính bất ổn, không dự báo được, và mất cân đối trầm trọng.

Nhiều nhà kinh tế cảm thấy có sự ngụy biện mà vẫn cố tin rằng, ít nhất cho tới cuối những năm 1960, cơ chế kế hoạch hóa tập trung kiểu Xô viết vẫn khá hiệu quả. Niềm tin này có ngọn nguồn của nó: bất chấp những khoản chi khổng lồ để hiện đại hóa quân sự ồ ạt và gấp gáp, cơ chế này vẫn hoàn thành được công cuộc xây dựng dân dụng vĩ đại tới mức thời đó, mỗi gia đình đều được phân căn hộ khép kín thay phòng ở trong những nhà tập thể nhớp nhúa; còn những năm 1970, đã tiến gần tới năng lực sản xuất đủ để bán cho mỗi gia đình một xe ôtô con, thậm chí hai chiếc.

Liên Xô không hề kém về năng lực sản xuất. Vào những năm 1980, sản lượng theo đầu người về điện của nước này cao hơn Ý, về thép cao hơn Mỹ, về phân bón cao hơn Nhật, về máy kéo cao hơn Tây Đức, về xi măng cao hơn Pháp. Đồng thời, mức sống Xô viết thấp ghê gớm so với Pháp, Ý, Nhật, Tây Đức, hay Hoa Kỳ. Các nhà thống kê từng cãi nhau về từng con số, tìm cách quy đổi chúng về dạng so sánh được. Nhưng thực ra các con số thống kê thật vô nghĩa, vì không thể đo lòng kiên trì, hay sự khéo léo, bằng một cân bơ hay một đôi giày. Sự tương phản ghê gớm giữa các con số hoành tráng về tổng sản phẩm với sự nghèo nàn trong đời sống thường ngày được đả thông là do tham vọng đắt giá về quân sự của Liên Xô. Rất nhiều sắt thép đã biến thành xe tăng, tàu chiến, còn xi măng thì biến thành các sở chỉ huy ngầm khổng lồ, thành vô số những đường băng và hầm chứa tên lửa v.v… Nhưng máy cày và phân bón mà sản lượng theo đầu người của Liên Xô đều vượt trội so với Đức, Nhật và Hoa Kỳ thì chẳng được tích sự gì sao?

Trên thực tế, bấy nhiêu máy kéo và phân bón đã không sản xuất ra đủ lúa mì đáp ứng nhu cầu của nhân dân Xô viết, trong khi đó Pháp và Mỹ lại xuất siêu đến mức ngũ cốc của họ tràn ngập thị trường thế giới. Theo những đánh giá mạnh dạn nhất, ngân sách quân sự ngốn mất khoảng 30% tổng sản phẩm quốc nội của Liên Xô; nhưng tỉ suất tiêu hao nguyên nhiên liệu đầu vào so với sản phẩm đầu ra của nền sản xuất này còn ảnh hưởng tới đời sống người dân nghiêm trọng hơn nhiều.

Một lập luận xuất hiện trước khi cơ chế lập kế hoạch tập trung của Liên Xô khởi sự, cho rằng các nhà lập kế hoạch trên trung ương khó mà chỉ đạo nên dùng nhiều thép, hay bê tông cốt thép thì sẽ lợi hơn cho một công trình cụ thể, lại càng không thể dự trù thật chính xác sản lượng của từng loại polime nên đạt là bao nhiêu trong khi có tới hàng trăm loại polime. Cũng thật khó dự kiến được loại máy vi tính nào, hay vặt vãnh hơn, mũ xanh hay giày nâu, sẽ hợp thị hiếu tiêu dùng. Tác giả bài này từng thấy một cửa hiệu ở Leningrad chất đầy giày màu xanh lục chẳng ai thèm mua. Chỉ có thực tiễn tăng hay rớt giá thị trường của từng mặt hàng mới cập nhật được tin chính xác cho nhà sản xuất, và cả người tiêu dùng. Một lý giải nữa là: nền kinh tế Xô viết không biết cách tự hủy hoại – tức là tái tạo, cung ứng nguồn bổ sung ổn định về lao động, vốn đầu tư và mặt bằng sản xuất được giải phóng trong quá trình sa sút, hay phá sản trực tiếp của các doanh nghiệp làm ăn kém hiệu quả. Thiếu vắng cạnh tranh thông qua thị trường, các doanh nghiệp trì trệ, già nua cứ việc tồn tại vui tươi, còn các doanh nghiệp mới, làm ăn năng động và hiệu quả hơn thì không được nhả cho các nguồn nhân tài vật lực bị đóng băng. Vào những ngày cuối đời, Liên Xô vẫn tiếp tục sản xuất các loại ô tô cọc cạch đời 1950, 60 và 70 ở các nhà máy với trình độ tự động hóa lạc hậu hàng vài ba chục năm. Khả năng thanh lý tự giác là điều tối mật của chủ nghĩa tư bản mà KGB đã không phát hiện được.

Bất chấp hai khuyết tật bẩm sinh nói trên, chế độ Xô viết vẫn hào hùng với tư cách một nền công nghiệp chiến tranh sản xuất được vô khối súng ống và xe tăng tàu bò theo mệnh lệnh. Nhưng trong kiến thiết dân sự, hệ thống này đã ngày một hụt hẫng, từ chỗ è cổ lo không nổi nhu cầu ăn ở tối thiểu cho dân tới chỗ trì trệ, để rồi thực sự đình đốn vào cuối thập kỷ 1970. Bông Uzbek, một nguyên liệu phẩm chất cao có thể đem đổi ngoại tệ mạnh trên trường quốc tế, bị biến thành áo xống “môve gu” (2) tới mức ngay cả người Xô viết cũng chẳng muốn xài. Toàn bộ khâu quay tơ, dệt, nhuộm, cắt, may đã biến nguyên liệu quý giá này thành đám giẻ chỉ còn cách dùng làm phế liệu cho ngành giấy. Số phận hẩm hiu cũng đến với da, len, sợi tổng hợp, gỗ, nhựa, cũng như các nguyên liệu khác của nền công nghiệp nhẹ Xô viết. Về sắt thép và xi măng cũng vậy. Nhiều công trình vĩnh hằng trong tình trạng thi công dở dang vì tiến độ xây dựng quá chậm, khiến cho số xi măng được dự trù trước hàng năm bị hóa đá, còn các cuộn thép thì rỉ sét hết dưới mưa dập tuyết vùi.

Vào thập kỷ 1980, nông nghiệp Xô viết trở nên xa xỉ còn hơn cả nền quân sự. Trong khi quân đội Xô viết ít nhất cũng bảo quản nghiêm được tăng pháo của họ để dùng cho hàng chục năm, nhà nước Liên Xô và các nông trang tập thể đã cùng đánh hỏng cơ man là máy cày, máy kéo và gặt đập liên hợp có chất lượng gần như hàng hiệu Tây Âu, chỉ sau một năm sử dụng, vì việc bảo dưỡng bị xem nhẹ, xe cộ bị bỏ mặc ngoài trời giữa ngày đông giá. Các rơ moóc chở phân bón cũng phơi ngổn ngang giữa đồng, phân bón mất hết phẩm chất trước khi sử dụng.

Về cuối đời, cơ chế quản lý kiểu Xô viết trở nên phản tác dụng đến mức bọn ăn cắp của công và bọn phe phẩy gặt hái ghê gớm. Bông tơ từ mạng phân phối nhà nước bị bẻ ghi tuồn ra ngoài cho các tay thợ vườn, hay các xưởng may lậu chuyên nhái hàng ngoại biến thành các sản phẩm dễ tiêu thụ. Các hạng mục công trình xây dựng trường kỳ bị moi ruột trước khi vật liệu xây dựng kịp thoái hóa, rồi biến thành dạng nhà lầu hoặc datcha (nhà nghỉ nông thôn) nhờ thuê nhân công bất hợp pháp hoặc tự xây cất. Tình trạng tùy tiện sử dụng xe công là nguồn chính cấp xăng dầu cho các phi vụ “chuyển đổi mục đích sử dụng tài sản XHCN” bất hợp pháp, hoặc thuần túy dùng để chạy việc riêng.

Nhờ vào phân bón và công cụ xoáy được của nông trang mà các mảnh ruộng vườn phần trăm cho sản lượng bằng tổng sản lượng nông nghiệp của toàn Liên bang. Sự bất lương ngày càng đẻ số ra, dẫn đến xu thế chia nhỏ tài nguyên làm hệ thống kinh tế Xô viết hoạt động thêm khật khừ. Tuy nhiên, thủ phạm chính lật đổ chế độ Xô viết đâu phải là sự suy đồi về đạo đức: vào thời điểm khâm liệm Liên bang, hãy còn khối thứ khả dĩ để chụp giựt, chia chác. Chính nỗ lực điều trị chế độ đã vô tình đem lại những năm tháng cuối đời cho nó. Những gì xảy ra thời cải tổ đã minh chứng hùng hồn cho luận điểm của Marx, rằng tính tình, nhân cách, hoặc ý chí của lãnh tụ không thể tác động đến các biến đổi của hệ thống, và dù cho các lãnh tụ cải cách có đủ phẩm chất và quyền lực, họ vẫn phá sản hoàn toàn trong thực hiện chủ trương của mình. Trong khi tìm cách làm trong sạch hệ thống bằng cách kỳ cọ những cáu bẩn đã ken lại, các nhà cải tổ vô tình khám phá ra chúng chính là chất mỡ bôi trơn cho sự hoạt động. Chất này còn biến đổi muôn hình vạn trạng, thành chất keo kết dính tham ô tập thể, hay thành thuốc an thần: hàng hóa dồi dào, giá cả phải chăng. Rượu vodka chẳng hạn, giá rất bình dân. Nhân tiện, đối với rượu, các nhà cải tổ từng có một cách tiếp cận rất Stalinist: thay vì tăng dần giá rượu để đánh sụt cầu tiêu dùng, hoặc triển khai các chiến dịch tuyên truyền chống nạn say xỉn, người ta đã dùng mệnh lệnh hành chính đột ngột khoá van các nhà máy rượu trên toàn Liên bang. Hệ quả của giải pháp cộc lốc này là sự tăng trưởng tệ nạn phe phẩy và nấu rượu lậu, làm cuốc lủi xuất hiện thay cho vodka. Tỉ lệ say xỉn được bảo đảm như cũ, nhưng tai ách do ngộ độc cồn và kỹ thuật chưng cất không đảm bảo vệ sinh thì tăng lên. Nếu “các cụ” ngẩn ngẩn ngơ ngơ kia còn tiếp tục lãnh đạo Liên Xô thì cho tới nay siêu quốc gia này hẳn vẫn cùng ta chung sống, có điều nó sẽ cứ tiếp tục lụ khụ, hom hem, chẳng khác gì trò hề trơ trẽn hiện vẫn trêu ngươi thiên hạ năm này qua năm khác ở Saudi Arabia. Còn ở Liên Xô, ngay sau cú mở màn ngoạn mục vở cải lương của gánh hát thiên tài đầu voi đuôi chuột, toàn sân khấu chính trị đổ cái rụp.

Ngược lại, nếu những hứa hẹn của chế độ kế hoạch hóa tập trung biến thành hiện thực (một giả thuyết hão huyền ngay cả trên lý thuyết), mang lại một sự phồn vinh mọi mặt mà nhân loại chưa từng biết, Liên Xô sẽ biến ngay thành miền đất hứa, bất chấp cả bàn tay sắt KGB, lẫn mọi nỗi khổ nhục phải chịu đựng nền độc tài tương tự như cỗ máy áp bức hiện hành ở Saudi Arabia.

Vậy là cuộc thi thố giữa hệ thống kinh tế do thị trường điều tiết và hệ thống kinh tế kế hoạch hóa tập trung chính là hồi kết của chiến tranh lạnh. Trong cuộc chơi này đã không hề có bàn thắng của các nhà ngoại giao hay các chiến binh, lại càng không có công tích của các gián điệp. Chính các thể chế dân chủ tư sản, vận hành trên những người dân cụ thể của xã hội tư bản để phục vụ cho chính họ, đã tạo ra kết cục cho cuộc chiến tranh lạnh.

LÊ ĐỖ HUY (lược dịch) Chú thích:

Edward Luttwak, “We Managed” (Chúng ta đã xoay xở) đăng trong Times Literary Supplement, tháng 3-2006. Tác giả là cán sự đầu ngành của Viện Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế của chính phủ Mỹ, đã có nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về quan hệ quốc tế.

Mauvais gout: phản thị hiếu.

Vì Sao Giá Vàng Liên Tục Lập Đỉnh Lịch Sử? / 2023

Mổ xẻ đà tăng giá này, ông Trần Thanh Hải – Chủ tịch HĐQT Công ty cổ phần Đầu tư và Kinh doanh vàng Việt Nam cho rằng có thể khái quát bằng ba nguyên nhân chính.

Đầu tiên, việc giá vàng thế giới và trong nước lần lượt kiểm định các ngưỡng cản tâm lý 1.788 USD và 49,9 triệu đồng tạo bàn đạp cho xu hướng đi lên. Tiếp đến, vàng cũng trở thành tài sản trú ẩn khả dĩ và an toàn bậc nhất lúc thị trường chứng khoán trong nước có dấu hiệu điều chỉnh, trong khi rủi ro bất động sản rõ nét. Cuối cùng, thông điệp sắp chiến thắng Covid-19 được Tổng thống Donald Trump đưa ra cuối tuần trước trong bối cảnh ca nhiễm mới cao kỷ lục cũng là tác nhân khiến thị trường hoang mang, đẩy giá vọt lên.

Đồng quan điểm, ông Phan Dũng Khánh – Giám đốc tư vấn đầu tư Công ty Chứng khoán Maybank KimEng Việt Nam cho rằng tiền gửi ngân hàng giảm mạnh và thanh khoản chứng khoán thấp nhất trong hai năm qua đang thúc giục nhà đầu tư cá nhân tìm đến những kênh đầu tư hấp dẫn khác.

Bản chất của việc lập đỉnh lịch sử lần này, theo các chuyên gia, tương đối khác với tháng 10/2011 – khi giá vàng chạm mốc 49,5 triệu đồng một lượng. Giá vàng thế giới thời điểm ấy ở mức 1.900 USD một ounce, nếu quy đổi ra lượng và tỷ giá ngoại tệ chỉ khoảng 45,8 triệu đồng. Điều này đồng nghĩa chênh lệch trong và ngoài nước lên đến 3 triệu đồng mỗi lượng. Trong khi đó, quy đổi hai mức giá hiện tại thì chênh lệch không đáng kể.

“Đà tăng gần đây có cơ sở hơn, không tự nhiên vọt lên sau đó tụt xuống và chờ đợi gần một thập niên mới trở lại vùng giá cũ. Giá vàng đã ổn định vài ngày ở mức 49,4, sau đó từng nhịp leo lên 49,6 rồi mới chạm mốc 50 triệu”, ông Hải phân tích.

Bổ sung về khác biệt giữa hai lần lập đỉnh, ông Phạm Thiên Quang – Giám đốc Khối Dịch vụ đầu tư, Công ty Chứng khoán VNDIRECT cho rằng năm 2011 là giai đoạn khủng hoảng tài chính kéo theo sự đổ vỡ của thị trường bất động sản và ngân hàng, cộng thêm gói cứu trợ cực lớn của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed). Hiện nay, giá vàng được xúc tác bởi các yếu tố như chiến tranh thương mại, suy giảm kinh tế, các động thái bơm thanh khoản và chưa có dấu hiệu đổ vỡ mang tính hệ thống.

Các chuyên gia đều đồng thuận động lực tăng giá của vàng đã bộc lộ gần hết. Tuy nhiên, xu hướng đi lên có thể kéo dài trong ba tháng tới nhờ các đặc tính của một tài sản trú ẩn trong bối cảnh tình hình địa chính trị và dịch bệnh tương đối bất ổn.

Theo ông Hải, đà tăng sẽ không dồn dập như hai tháng gần đây mà xuất hiện nhiều nhịp lên xuống đan xen, sau đó chững lại vào tháng 10. Thời điểm giá vàng hạ nhiệt có thể rơi vào trước đợt bầu cử Tổng thống Mỹ. Các buổi tranh luận của Trump và ứng cử viên đảng Dân chủ – Joe Biden về các quyết sách nếu đắc cử có thể khiến thị trường chứng khoán biến động mạnh, từ đó kéo giá vàng rơi xuống.

“Giá vàng trong nước trụ vững hay không là tuỳ thuộc vào diễn biến giá thế giới. Giá vàng thế giới đang giằng co dưới vùng 1.800 USD một ounce, thấp hơn mức đỉnh lịch sử năm 2011 nhưng nếu tính theo tương quan với đồng đôla Mỹ thì đây cũng là mức cao nhất”, ông Khánh nói.

Các chuyên gia cho rằng vàng cũng có nhiều khuyết điểm như không sinh ra dòng tiền đều đặn, chi phí bảo quản lớn và chênh lệch giữa giá mua với bán khoảng 1% – cao hơn cổ phiếu và trái phiếu.

Nhà đầu tư cá nhân am hiểu, theo dõi sát thị trường có thể mua và bán xoay vòng ngắn hạn. Tuy nhiên, nếu dòng tiền nhàn rỗi lớn và có nhu cầu tích luỹ cho trung và dài hạn thì không nên bởi giá vàng còn biến động rất mạnh và chưa phân hoá xu hướng rõ ràng.

Phương Đông – Quỳnh Trang