Top 11 # Xem Nhiều Nhất Vì Sao Mỹ Đánh Việt Nam Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Tại Sao Mỹ Đánh Việt Nam?

Dưới thời Tổng thống Harry S. Truman, Hoa Kỳ đã thiết lập một học thuyết đối ngoại gọi là “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản.

Được khởi nguồn bởi George Kennan, Dean Acheson, cùng với các nhà ngoại giao và cố vấn chính sách khác, học thuyết Truman bắt đầu bằng bài diễn văn của Tổng thống Mỹ Truman vào ngày 12 tháng 3 năm 1946. Quốc hội Mỹ bỏ phiếu cho chính sách này vào ngày 8 tháng 5, Thượng viện Mỹ thông qua vào ngày 22 tháng 5.

Mục đích của chính sách “ngăn chặn” không phải để chống lại Liên Xô bằng một cuộc chiến tranh, mà là giới hạn chủ nghĩa cộng sản và Liên Xô trong ranh giới hiện có tại thời điểm đó.

Học thuyết Truman dựa trên một số tiền đề:

– Thế giới phân 2 cực = Đế chế Mỹ + Đế chế Liên Xô.

– Không có quốc gia nào đứng giữa = Hoặc thuộc đế chế Mỹ + Hoặc thuộc đế chế Liên Xô.

– Liên Xô là kẻ bành trướng = Áp đặt thẩm quyền tuyệt đối của mình lên phần còn lại của thế giới.

– Mỹ công nhận có chủ nghĩa cộng sản = Học thuyết “ngăn chặn” sẽ tránh cuộc chiến tranh toàn diện với Liên Xô, càng tránh cuộc chiến tranh toàn diện với chủ nghĩa cộng sản; nhưng Mỹ sẽ thực hiện các bước ngăn chặn bất kì một chính phủ cộng sản nào có dấu hiệu mở rộng.

Với lí do Hoa Kỳ sẽ ngăn chặn mọi quốc gia cộng sản nào có dấu hiệu mở rộng, học thuyết Truman đã trực tiếp dẫn đến cuộc chiến dai dẳng và mất mát khủng khiếp nhất tại Việt Nam, kéo dài hơn ba thập kỉ.

Vào năm 1956, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Krushchev, trong cuộc tranh luận với Richard Nixon ở Moscow, đã đe dọa “We will bury you – Chúng tôi sẽ chôn cất bạn!”

Sở hữu kho vũ khí hạt nhân và khả năng quân sự, cùng với những tuyên bố, Liên Xô đã trở thành kẻ thù tiềm năng của Mỹ. Hoa Kỳ mặc định, không có một quốc gia cộng sản nào mà không phải là một phần của Liên Xô. ngoại trừ Trung Quốc cũng là quốc gia cộng sản từ năm 1948, nhưng nền văn hóa giữa hai quốc gia quá khác biệt tạo nên mối thù hận làm cho Trung Quốc và Nga không thể vượt qua đường biên giới chung.

Và thế giới phân cực: phần còn lại bắt buộc phải liên minh với Mỹ!

Việt Nam là một đất nước rất xinh đẹp, với rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu, thiên nhiên ưu đãi cho khí hậu 4 mùa ở miền Bắc và mưa thuận gió hòa khắp dải đất hình chữ S. Địa lí Việt Nam đóng vai trò cực kì quan trọng giữa Trung Quốc và thế giới: là cửa ngõ cả trên đất liền và trên biển, đặc biệt với lợi thế đồi núi xen kẽ đồng bằng và hệ thống sông ngòi rất phù hợp với chiến thuật quân sự phòng thủ phản công, chiến thuật ấy còn đặc biệt hơn ngay cả trên biển với 2 quần đảo chiến lược là Hoàng Sa và Trường Sa, cùng với những cảng biển nước sâu như Cam Ranh và bờ biển kéo dài 3260 km án ngữ cả lối ra vào của toàn bộ cửa biển Thái Bình Dương.

Đó là lí do tại sao Việt Nam có lịch sử đấu tranh giành độc lập rất dài.

Trong hàng ngàn năm, Việt Nam phải đã vật lộn chiến đấu để bảo tồn ngôn ngữ và bản sắc văn hóa riêng biệt, đẩy lùi những cuộc xâm lược kéo dài của Trung Quốc, 3 lần chiến thắng quân Mông Nguyên, sau đó là Nhật Bản và Pháp, cuối cùng là cuộc chiến tranh tổng lực với Mỹ.

Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp từ nửa cuối thế kỉ 19.

Đến WW2, Hồ Chí Minh trở thành nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc, ông chủ trương lãnh đạo toàn dân làm cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền, bắt buộc thực dân Pháp phải rút quân, giành lại độc lập cho Việt Nam sau gần trăm năm đô hộ.

Xuất thân từ gia đình nho giáo, nhưng Hồ Chí Minh lại sớm tiếp cận với nền văn minh phương Tây là Pháp, sau đó là Liên Xô. Ông là người cộng sản, nhưng cũng là người đặt niềm tin vào nền dân chủ phương Tây mà đại diện là Pháp, cùng với thể chế tự do kiểu Mỹ. Hồ Chí Minh là nhà cải cách ruộng đất, ông muốn mang lại cuộc sống ấm no cho dân nghèo, giải phóng dân tộc khỏi chế độ áp bức của thực dân, xây dựng một thể chế tự do dân chủ, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc.

Hồ Chí Minh có ý thức mạnh mẽ về quốc gia và dân tộc!

Trong WW2, sau khi Pháp bị hất cẳng khỏi Việt Nam, Hồ Chí Minh chấp nhận để quân đồng minh Nhật tạm thời chiếm đóng thay vì đội quân của Tưởng Giới Thạch, bởi Hồ Chí Minh hiểu hơn ai hết một khi phiên bản của Trung Quốc bám rễ sẽ rất khó để nhân dân Việt Nam trục xuất được đội quân ấy ra khỏi đất nước.

Hồ Chí Minh là người cộng sản, nhưng xuyên suốt, ông lại là nhà chính trị theo chủ nghĩa dân tộc, rất thực tế, quan tâm đến những gì tốt nhất cho Việt Nam, ông có xu hướng theo nền tự do dân chủ kiểu Mỹ hơn là theo Liên Xô như một đồng minh.

Trong WW2, Charles De Gaulle là người đã làm sống dậy bóng ma của chủ nghĩa thực dân. Từ năm 1945 đến 1954, De Gaulle đã mang vinh quang trở lại cho nước Pháp thông qua cuộc chiến chống phát xít, khôi phục lại thuộc địa trong đó có Việt Nam.

Nhưng thật oái oăm: Đảng Cộng sản Pháp lại quá mạnh!

Truman là người chống cộng cực đoan, ông dễ bị tổn thương và cực kì nhạy cảm với 2 chữ “cộng sản”. Một mặt Truman rất lo lắng phong trào cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo sẽ lan tỏa ra khắp Đông Nam Á rồi đến châu Á, mặt khác lo sợ Đảng Cộng sản Pháp sẽ chiến thắng De Gaulle để giành được thực quyền.

Thiện chí của Hồ Chí Minh với Mỹ đã bị lờ đi vì 2 lí do này.

Nhưng người Pháp đã làm rất tệ!

Hồ Chí Minh đã biết cách lãnh đạo một đội quân nhỏ bé là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, ban đầu chỉ có 34 chiến sĩ chủ yếu làm công việc tuyên truyền, nhưng vẫn đủ sức đánh bại đội quân viễn chinh oai hùng Pháp có sự hậu thuẫn cực kì mạnh mẽ của Mỹ. Với chiến thắng chấn động địa cầu mang tên Điện Biên Phủ, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới đã được truyền cảm hứng từ chính Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, chủ nghĩa thực dân đã sụp đổ hoàn toàn bởi hiệu ứng domino không thể cưỡng lại được.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ đúng 1 ngày, Hiệp định Geneve được tổ chức ở Thụy Sĩ, bắt đầu từ ngày 8 tháng 5 năm 1954 chính thức bàn về việc khôi phục lại hòa bình ở Đông Dương. Hội nghị có sự tham gia dàn xếp của 4 cường quốc số một thế giới gồm Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp. Liên Xô muốn kéo thêm vào bàn đàm phán một quốc gia cộng sản làm đồng minh, đó là Trung Quốc, nhưng ý tưởng không thành vì Trung Quốc chưa có vai trò chính thức ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Sau khi đàm phán, Pháp đồng ý rút quân khỏi Đông Dương, Việt Nam tạm thời phân chia làm 2 nửa, ranh giới phân chia là vĩ tuyến 17 và sẽ tổng tuyển cử trong vòng 2 năm theo hình thức bỏ phiếu tự do dân chủ để thống nhất đất nước.

Nhưng chẳng bao giờ có cuộc tổng tuyển cử!

Năm 1955, được Mỹ hậu thuẫn, Quốc gia Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào đã tổ chức cuộc trưng cầu dân ý phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, chính quyền Việt Nam Cộng hòa thân Mỹ được thành lập, Ngô Đình Diệm được đề cử làm Tổng thống. Thay vì thực hiện bỏ phiếu tự do thống nhất giữa 2 miền Nam Bắc, thì Ngô Đình Diệm tuyên bố chống cộng, ông đề nghị Mỹ chi viện để chống lại Hồ Chí Minh.

Để ngăn chặn Liên Xô và Trung Quốc, chống lại Hồ Chí Minh, chống lại phong trào cộng sản trên toàn thế giới, Hoa Kỳ đã cung cấp toàn bộ quân sự, súng, đạn dược, đô la, thuốc men, cố vấn quân sự…v.v. cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Ngô Đình Diệm là người Công giáo, ông theo chủ nghĩa dân tộc, thực hiện chế độ gia đình trị. Chính phủ của ông nhanh chóng bộc lộ những bất ổn. Ngay sau khi lên làm Tổng thống, Ngô Đình Diệm cho thiết kế các biện pháp tấn công cộng sản, thông qua các hình thức tố cộng, diệt cộng, đỉnh điểm là việc ban hành Luật 10/59 với công cụ là chiếc máy chém đầu. Nhưng nguyên nhân chính dẫn tới sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm, là sự kì thị tôn giáo, đàn áp đạo Phật. Ngô Đình Diệm chỉ công nhận Kito giáo, không chấp nhận các tôn giáo khác, cố gắng bằng mọi cách loại bỏ Phật giáo ra khỏi đời sống xã hội.

Năm 1961, Tổng thống Mỹ John F. Kennedy đã tăng cường đầu tư cho chính quyền Ngô Đình Diệm, cả về tiền bạc lẫn vũ khí, điều thêm 15 ngàn quân đến tham chiến tại Việt Nam.

Một trong những lí do để Kennedy đưa quân vào Việt Nam theo lời đề nghị của Ngô Đình Diệm, đó là hội nghị Camp David 1959, Hoa Kỳ biết được qua Khrushchev rằng cộng sản Trung Quốc đang nghiên cứu sản xuất vũ khí hạt nhân. Nhưng vào thời điểm đó, Hoa Kỳ vẫn hoài nghi về khả năng sản xuất bom hạt nhân của Trung Quốc, nhưng có điều chắc chắn Hoa Kỳ biết, đó là mối quan hệ Xô – Trung là 2 quốc gia cộng sản đồng sàng dị mộng.

Hơn 15 ngàn lính Mỹ được Kennedy đưa đến Việt Nam, ban đầu họ tin rằng đang thực hiện một sứ mệnh rất cao cả, là đến một đất nước xa xôi để cứu người dân khỏi bị cộng sản dìm xuống nước, hay nướng trên ngọn lửa. Nhưng rồi họ sớm phát hiện ra người dân địa phương không coi họ là những vị cứu tinh, mà ngược lại là sự thù địch, khiến nhiều lính Mỹ khá bối rối và tức giận.

Ngày 11 tháng 6 năm 1963, hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn, Mỹ chính thức loại bỏ Ngô Đình Diệm vào ngày mùng 2 tháng 11 năm 1963. Sau cái chết của Ngô Đình Diệm, Kennedy đã nhận ra sự nguy hiểm của tình hình và dự thảo kế hoạch rút khỏi Việt Nam, nhưng quốc hội Mỹ không thông qua.

Ngày 22 tháng 11 Kennedy bị ám sát.

Lyndon Johnson, Tổng thống mới của Hoa Kỳ đã nhanh chóng củng cố vị thế chính trị bằng chiến thuật bàn tay sắt với cộng sản. Là người chống cộng lâu năm và có nhiều kinh nghiệm, một lần nữa Johnson đẩy mạnh học thuyết “ngăn chặn” với lập luận bổ sung bằng “học thuyết domino”. Theo đó, học thuyết domino chỉ ra rằng nếu một quốc gia như Việt Nam rơi vào tay cộng sản, thì các quốc gia khác trong khu vực cũng sẽ lần lượt rơi vào tay cộng sản. Cách lập luận đó không hề có cơ sở, nhưng nó là lí thuyết tạo nên xương sống cho học thuyết “ngăn chặn” và một lần nữa được Johnson đẩy lên đỉnh điểm.

Người Mỹ đã bị cuốn vào học thuyết “ngăn chặn”, họ tin rằng với sức mạnh vượt trội về công nghệ, vũ khí tối tân, kinh tế hùng cường; chiến tranh ở Việt Nam có sự can thiệp của Mỹ sẽ nhanh chóng được kết thúc theo cách dễ dàng nhất.

Một nhà báo Mỹ đi thăm hàng không mẫu hạm Ranger đã viết: “Chỉ cần đưa con tàu này cho Việt Cộng thì chắc chắn họ sẽ bỏ chạy – They just ought to show this ship to the Viet Cong, that would make them give up”. Bản thân Johnson còn gọi Việt Nam là “đất nước hạng tư rách rưới – ragged ass little fourth rate country”, cùng với chiến dịch truyền thông vô cùng dữ dội về sức mạnh hủy diệt của nước Mỹ, đã làm cho không một người Mỹ nào có thể tin một quốc gia bé nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam lại có thể đánh bại được quân đội Mỹ.

Nhưng Johnson và người Mỹ đã nhầm!

Vũ khí của Mỹ sản xuất theo mẫu hình chiến trận của WW2, cho dù nó vô cùng tối tân và hiện đại, nhưng chỉ triển khai tham chiến trên Đại Bình nguyên châu Âu. Đó là những cuộc chiến trên diện rộng, chiến đấu nhanh chóng, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ và đầy đủ, hỏa lực cực mạnh để giảm thiểu hi sinh cho binh lính. Ngược lại, chiến trường Việt Nam với núi đồi, sông ngòi, rừng sâu, nên người Việt đã xây dựng một lượng lớn hầm ngầm, địa đạo, giao thông hào để kéo kẻ thù phải chui xuống lòng đất, phải lặn trong nước, phải luồn trong rừng. Quân đội Mỹ có thể thắng trên tất cả các mặt trận, nhưng ở chiến trường Việt Nam, Johnson chắc chắn thất bại.

Năm 1964: Johnson tìm kiếm lí do để đánh Việt Nam!

Ngày 2 tháng 8 năm 1964, Hải Quân Hoa Kỳ đưa 2 tàu khu trục C Turner Joy và USS Maddox ra thăm Vịnh Bắc Bộ, nhưng lại cố tình xâm phạm lãnh hải, liền bị các tàu phóng lôi của Hải quân Bắc Việt tấn công. Chừng đó chưa đủ sức thuyết phục để tạo cớ, Mỹ đã dựng lên cuộc tấn công không có thật lần thứ 2, vào ngày 4 tháng 8.

Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ sử dụng 2 biên đội tàu sân bay Constellation và Ticonderoga, gồm 40 máy bay tiêm kích và cường kích hiện đại nhất, bất ngờ đánh thẳng vào các căn cứ Hải quân Bắc Việt ở Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An và Quảng Bình.

Kể từ đó Mỹ lên tục leo thang.

Riêng năm 1967, Mỹ đã thực hiện ném một lượng bom khổng lồ, bằng tổng số bom sử dụng trong WW2. Với 500 ngàn quân Mỹ đồn trú, mỗi tháng tiêu tốn 2 tỉ đô la, thương vong cho phía Bắc Việt ước tính 1000 người mỗi tuần.

Có một sự thật trong chiến tranh Việt nam, lính Mỹ không bao giờ coi đối phương là con người, lí do không phải sự thù hận, mà là khoảng cách văn hóa, sự giàu có, công nghệ giữa Mỹ và Bắc Việt quá xa nhau, giống như ở 2 thế giới đối lập hoàn toàn. Sự khinh bỉ và phân biệt chủng tộc là nét đặc trưng của quân đội Mỹ. Một nhà báo đặt câu hỏi, liệu các vụ ném bom có giết chết thường dân hay không, một trung sĩ đã cười và trả lời: “Có vấn đề gì đâu? Tất cả đều là người Việt Nam – “What does it matter? They’re all Vietnamese.” Theo quy luật ngón tay cái, nếu người chết nói tiếng Việt, thì đó là Việt Cộng, tất cả được thống kê thành con số ấn tượng để báo cáo về Washington!

Chất độc màu da cam làm rụng lá và bom lửa Napalm, đó là 2 thứ vũ khí nổi tiếng của quân đội Mỹ sử dụng ở Việt Nam, nó phát quang cả dãy Trường Sơn. Trên thân mỗi chiếc máy bay chở 2 loại vũ khí này luôn treo một khẩu hiểu: “Chỉ có chúng ta mới ngăn cản được rừng – Only We Can Prevent Forests”.

Không có bằng chứng nào cho thấy Bắc Việt suy yếu vì bom Mỹ!

Các vụ đánh bom, hầu hết chỉ phá hoại đồng ruộng, hoa màu và nhà cửa. Những vụ tấn công và đốt, lính Mỹ chỉ biết nhắm vào dân thường, làm cho người Việt càng trở nên căm thù. Những ngọn giáo mác, những bẫy chông, hầm mìn giăng ở mọi nơi, bỗng chốc trở thành nỗi khiếp đảm.

Những con đường lớn bị bom Mỹ phá hủy, thì người Việt sử dụng con đường mòn, đường hầm, họ cần mẫn vận tải vào ban đêm, bằng những đội dân công, thanh niên xung phong, hay sự tự nguyện của mỗi người dân nghèo với quyết tâm cao độ sẽ đánh tan giặc Mỹ xâm lược.

Tướng William Westmorland cho rằng: “Mạng sống của con người là rẻ mạt đối với người châu Á. Họ không cảm nhận thấy giống như cái chết mà chúng ta làm – Human life is cheap to the Asian. They don’t feel the same way about death that we do”. Câu nói này được sử dụng trong bộ phim phản chiến nổi tiếng “Trái tim và Khối óc – Hearts and Minds”, nó ngược lại với hỉnh ảnh trong phim một người vợ đang vật vã khóc lóc tuyệt vọng bên mộ chồng.

Chiến tranh Việt Nam thực sự là nỗi ám ảnh khủng khiếp với lính Mỹ!

Những người lính luôn đặt câu hỏi: tại sao họ phải ở đây? Trên cánh đồng, trong làn nước, trong khu rừng, hay ở những ngôi làng toàn túp lều cỏ, họ chẳng thể tìm thấy Việt Cộng, nhưng chỗ nào cũng không an toàn, hầm chông hay bắn tỉa, cảm giác Việt Cộng ở khắp mọi nơi nhưng lại không thể nhìn thấy.

Tháng 3 năm 1968, một đơn vị Mỹ đã chịu tổn thất do Việt Cộng tấn công trước đó, nên tổ chức đi càn ở ngôi làng Mỹ Lai thuộc miền Trung Việt Nam. Thất vọng vì không thể tìm thấy Việt Cộng và lo lắng bị trả thù, lính Mỹ đã vây bắt đàn bà, trẻ em và người già không vũ trang, cưỡng hiếp phụ nữ, sau đó nổ súng thảm sát hơn 300 thường dân.

Dưới sự chỉ huy của Trung úy William Calley, những người lính của Đại đội Charlie nghỉ trưa, sau đó quay lại Mỹ Lai tiếp tục giết chóc và đốt cháy ngôi làng. Calley chỉ dừng tay, khi hai lính Mỹ thuộc sư đoàn trực thăng trên không đã chặn lại, họ tuyên bố sẽ quay súng bắn lại nếu Calley tiếp tục ra lệnh giết thêm phụ nữ hoặc trẻ em khác.

Quân đội Mỹ đã tìm mọi cách che đậy vụ việc. Hai người lính Mỹ ngăn chặn vụ thảm sát đã bị đe dọa, tờ báo Úc đăng tải câu chuyện vụ thảm sát đã bị kiện. Cuối cùng, nhờ những nỗ lực của nhà báo Seymour Hersch, câu chuyện đã công khai sáng tỏ, Calley đã bị đưa ra tòa án quốc gia và bị kết án ba năm.

Năm 1968, Bắc Việt đã phát động cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào Tết Nguyên Đán, mệnh lệnh ban ra là “đánh vào đêm 30 tết Mậu Thân”. Nhưng do lịch âm Trung Quốc và lịch âm Việt Nam năm đó chênh nhau 1 ngày, miền Bắc ăn tết sớm và miền Nam ăn tết muộn theo lịch Trung Quốc, vì thế mà rất có thể đã xuất hiện 2 cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc lệch thời gian tác chiến.

Cụ thể, chiến trường thuộc các tỉnh từ Quảng Nam đến Khánh Hoà nổ súng vào đúng đêm giao thừa miền Nam. Còn chiến trường Quảng Trị – Thừa Thiên Huế, Nam Trung Bộ, Nam Bộ lại đánh muộn hơn 1 ngày, tức là đêm 1 tết của miền Nam. Nếu nổ súng cùng lúc, có lẽ, Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng từ năm 1968.

Tuy vậy, cuộc tổng tiến công đã gây choáng váng cho người Mỹ, hầu hết Sài Gòn và cả Đại Sứ quán Hoa Kỳ đều bị chiếm giữ. Nhưng do lệch giờ, Mỹ đã kịp sốc lại đội hình, chủ động phòng thủ, tổ chức phản công đẩy lùi được Việt Cộng và giành lại những vùng lãnh thổ đã bị chiếm mất.

Sau tết Mậu Thân: dư luận Mỹ bắt đầu lên án chiến tranh!

Nhiệm kì của Tổng thống Lyndon Johnson bị phá hỏng, các cuộc biểu tình khốc liệt diễn ra khắp nước Mỹ, Johnson phải từ chối tranh cử lần 2. Những người lính trở về từ Việt Nam, thay vì được chào đón như những vị anh hùng giống lúc học ra đi, thì lại bị công chúng phản đối như kẻ thù, thậm chí người biểu tình nhổ nước bọt.

Chiến tranh Việt Nam đã chia rẽ nội bộ nước Mỹ!

Richard Nixon, người được bầu vào vị trí tổng thống mới năm 1968, ông tuyên bố đã xây dựng một kế hoạch bí mật để chấm dứt xung đột. Thực tế Nixon chẳng có kế hoạch nào cả, ông gia tăng chiến tranh, đánh sang cả Campuchia đề phòng Bắc Việt chọn đó là hướng tấn công. Hành động của Nixon đã dấy lên phong trào biểu tình, một trong số những cuộc biểu tình tại Đại học Quốc gia Kent ở Ohio, quân đội Vệ binh Quốc gia Ohio đã nổ súng, 4 sinh viên bị bắn chết tại chỗ.

Cả nước Mỹ rúng động, bắt buộc Nixon phải rút quân bằng kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”, quân đội Hoa Kỳ đã giảm từ 540 ngàn binh lính vào năm 1968 xuống còn 60 ngàn vào năm 1972. Hòa đàm Paris bắt đầu từ ngày 10 tháng 5 năm 1968, nhưng giẫm chân tại chỗ, vì Bắc Việt yêu cầu Mỹ phải ngừng oanh tạc miền Bắc đồng thời loại bỏ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nhưng Mỹ chỉ đồng ý ngừng bắn.

Cuối năm 1972, công chúng Mỹ phản đối chiến tranh Việt Nam dưới mọi hình thức. Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Kissinger đã cố gắng cứu vớt “hòa bình với danh dự – peace with honor”, tìm mọi cách ép Bắc Việt ngồi vào bàn đàm phán, nhưng Hà Nội không nhượng bộ và chỉ muốn chiến thắng. Vào tháng 12 năm 1972, Nixon đã ra lệnh “ném bom Giáng sinh”, B52 rải thảm 12 ngày đêm xuống Hà Nội và các thành phố khác, nhưng đã bị phòng không Bắc Việt đánh trả, Mỹ thất bại thảm hại trên bầu trời. Nixon bắt buộc phải dừng vụ đánh bom, Hiệp địn Paris được kí vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, Mỹ chấp nhận rút quân vô điều kiện.

Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Hoa Kỳ có 58.148 lính bị thiệt mạng, với độ tuổi trung bình 23,1 tuổi, trong đó 61% dưới 21 tuổi và 11.465 binh lính dưới 20 tuổi; rất nhiều lính Mỹ là phế binh khi trở về vẫn chưa đủ tuổi vào tiệm mua mưa rượu với tư cách hợp pháp.

Cuộc chiến cũng tiêu tốn của Mỹ 140 tỉ đô la.

Hơn 2 năm sau, những ngày cuối tháng 4 năm 1975, quân đội chính quy Bắc Việt như từ dưới đất chui lên với đầy đủ súng đạn, đại bác và xe tăng; chế độ Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng sụp đổ. Những người Mỹ còn sót lại, họ phải di tản trong cay đắng, phương tiện là những chiếc trực thăng hay máy bay chở hàng.

Những người miền Nam giàu có, họ lo sợ lịch sử sẽ lặp lại, đó là những cuộc trả thù như cải cách ruộng đất, nên họ tuyệt vọng tìm mọi cách để trốn thoát. Bất cứ ai kết hôn với một người Mỹ, hoặc đã giúp đỡ các lực lượng Mỹ trước đó, cũng đều tìm cách trốn đi.

Đất nước thống nhất, nhưng chẳng xảy ra hiệu ứng domino nào cả, việc người Mỹ với học thuyết “ngăn chặn” tạo nên cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một sai lầm phải trả giá băng xương máu vô cùng tồi tệ. Chiến tranh cũng đã dạy cho người Mỹ bài học về sự kiêu ngạo ẩn sau nỗi ám ảnh và sự sợ hãi của các nhà lãnh đạo Mỹ trước “chủ nghĩa cộng sản”.

Năm 1995, Hoa Kỳ và Việt Nam tuyên bố bình thường hóa quan hệ. Văn hóa Việt cùng với thực phẩm và đủ các loại hàng hóa trở nên phổ biến ở Mỹ, chiều ngược lại cũng vậy. Đến hôm nay, Việt Nam đã thực sự trở thành mảnh đất màu mỡ cho các nhà tư bản Hoa Kỳ đầu tư, đúng như lời hứa hẹn của Hồ Chí Minh từ những năm 1950.

Bs Trần Văn Phúc

#ngannua

Vì Sao Mỹ Muốn Đánh Chiếm Thành Phố Raqqa?

Quân đội Syria và liên minh do Mỹ cầm đầu đang ráo riết chạy đua đánh chiếm thành phố Raqqa, thủ phủ của cái gọi là Nhà nước Hồi giáo IS.

Để giành lại chủ quyền Syria, quân đội chính phủ muốn trở thành lực lượng đầu tiên đánh chiếm thành phố Raqqa, vốn được coi là “thủ phủ” của cái gọi là Nhà nước Hồi giáo.

c Hồi giáo tốt nhất ở phía đông bắc Syria và phía tây Iraq là một Nhà nước Sunni độc lập mới”. Trước đó, vào năm 2006, Trung tá quân đội Mỹ về hưu Ralph Peters đã trình bày khái niệm của ông về cách tái định hình Trung Đông.

Có nhiều dấu hiệu rõ ràng cho thấy rằng liên minh do Mỹ cầm đầu đã chuẩn bị tiến vào khu vực đông bắc Syria.

Mới đây, Lầu Năm Góc đã mở rộng căn cứ không quân Rmeilan ở tỉnh Hasakah phía bắc Syria. Máy bay trực thăng Mỹ đã được phát hiện ở căn cứ không quân này. Các thông tin trên đã được công ty tình báo địa chính trị Stratfor xác nhận và cung cấp hình ảnh vệ tinh sân bay Rmeilan. Hơn nữa, các lính đặc nhiệm Mỹ đã được triển khai ở Syria.

Kịch bản tiến đánh Raqqa của liên quân do Mỹ cầm đầu

Trong ngày 12/2, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter gặp Bộ trưởng Quốc phòng Các tiểu vương quốc A rập Thống nhất (UAE) tại Brussels. Sau cuộc gặp, ông Carter nói rằng UAE đã đồng ý triển khai lực lượng đặc nhiệm ở Syria để hỗ trợ các chiến binh người Arập Sunni đánh chiếm Raqqa, Associated Press đưa tin.

Thông tin trên là đáng chú ý, trong bối cảnh Ả-rập Xê-út gần đây tuyên bố sẵn sàng đưa lực lượng bộ binh vào Syria, với sự hậu thuẫn của Mỹ.

Đồng thời, vào giữa tháng 1/2016, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Ashton Carter thông báo Sư đoàn Không vận số 101 sẽ được triển khai tại Iraq để tư vấn và hỗ trợ Các lực lượng vũ trang Iraq tấn công thành phố Mosul.

Một kịch bản tấn công đánh chiếm Raqqa của liên minh do Mỹ cầm đầu có thể diễn ra như sau: Quân đội Ả-rập Xê-út sẽ tiến vào Syria thông qua một sân bay do Mỹ kiểm soát ở phía tây Iraq, trong khi Sư đoàn Không vận số 101 có thể sẽ xuất phát từ các khu vực của người Kurd ở phía bắc Iraq, đi qua các khu vực của người Kurd ở phía đông bắc Syria tiến về Raqqa. Raqqa sẽ bị tấn công từ phía đông bắc và đông nam.

Sân bay của Rmeilan sẽ là một trong những căn cứ chính của các lực lượng Mỹ.

Hiện nay, mục tiêu chính Damascus là “bảo vệ sự thống nhất và chủ quyền của Syria”. Việc để mất Raqqa đồng nghĩa với việc mất các mỏ dầu ở phía đông của đất nước.

Hơn nữa, việc liên minh do Mỹ cầm đầu đổ quân vào Syria có thể kích hoạt một làn sóng bạo lực mới trong khu vực và dẫn đến một cuộc chiến lâu dài rộng lớn hơn.

Vì Sao Giới Khoa Học Mỹ Phản Đối Tấn Công Hạt Nhân Ở Việt Nam?

Hai em bé Việt Nam nhìn chằm chằm vào một lính dù Mỹ cầm khẩu súng phóng lựu M79 (ảnh chụp trong ngày đầu tiên của năm 1966, tại một con mương cách Sài Gòn 20km). Ảnh: Horst Fass

H ồi giữa thập niên 60, khi chiến tranh Việt Nam đang khốc liệt, Bộ Quốc phòng Mỹ bắt đầu một nghiên cứu để xác định tính khả thi và thích đáng của việc sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật ở Việt Nam, nhằm phong tỏa đường mòn Hồ Chí Minh, phá hủy các căn cứ quân sự, cảng biển, hoặc tàn sát một lượng lớn quân đối phương…

Bản nghiên cứu năm 1967 có tựa đề “Vũ khí hạt nhân chiến thuật ở Đông Nam Á” và được giải mật nhiều năm sau đó. Điểm mấu chốt của nghiên cứu này là việc sử dụng vũ khí hạt nhân ở Việt Nam sẽ không đem lại cho Mỹ lợi thế quân sự mang tính quyết định mà lại gây hậu quả nghiêm trọng đối với binh sĩ Mỹ trên chiến trường và lợi ích của Mỹ trên khắp thế giới.

Bản nghiên cứu do bốn nhà vật lý thực hiện. Họ cộng tác với Phòng vị Jason của Viện Nghiên cứu Quốc phòng Mỹ – nơi một nhóm nhà khoa học thường xuyên gặp gỡ để cung cấp những lời khuyên bí mật cho các quan chức quốc phòng. Kết luận của bản nghiên cứu được trình lên Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ lúc ấy là ông Robert McNamara.

“Tác động chính trị của việc Mỹ lần đầu sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật ở Việt Nam sẽ rất xấu và có thể rất thảm khốc”, các nhà khoa học Mỹ viết.

Họ cảnh báo rằng, việc Mỹ sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật lần đầu tiên có thể dẫn tới tình trạng Liên Xô hoặc Trung Quốc cung cấp vũ khí tương tự cho Việt Cộng (Quân Giải phóng miền Nam) và miền bắc Việt Nam. Điều đó làm tăng nguy cơ các lực lượng của Mỹ ở Việt Nam “sẽ bị hủy diệt tận gốc” trong các đợt phản công trả đũa của quân du kích được trang bị vũ khí hạt nhân.

Các nhà khoa học Mỹ viết rằng, nếu điều đó xảy ra, “các nhóm nổi dậy khắp nơi trên thế giới sẽ ghi nhớ và tìm mọi cách để có được vũ khí hạt nhân chiến thuật”.

Họ cảnh báo: “Việc lần đầu sử dụng vũ khí hạt nhân ở Đông Nam Á có thể dẫn tới việc tăng đáng kể nguy cơ dài hạn của các chiến dịch du kích hạt nhân ở những nơi khác trên thế giới”, như tấn công vào kênh đào Panama, kho chứa và đường ống dẫn dầu ở Venezuela, thủ đô Tel Aviv của Israel… “An ninh của Mỹ sẽ bị đe dọa nghiêm trọng nếu việc sử dụng vũ khí hạt nhân chiến thuật của các lực lượng du kích trở nên phổ biến”, các nhà khoa học Mỹ kết luận.

Không quân Mỹ từng muốn dùng vũ khí hạt nhân ở Việt Nam và Lào

Không quân Mỹ từng muốn sử dụng vũ khí hạt nhân ở Việt Nam năm 1959 và 1968 và ở Lào năm 1961, để xóa sổ quân du kích, theo các tài liệu của Không quân Mỹ được giải mật gần đây.

Năm 1959, Tham mưu trưởng Không quân Mỹ, “tướng Thomas White muốn làm tê liệt quân nổi dậy và các tuyến đường tiếp tế của họ bằng cách tấn công một số mục tiêu ở miền bắc Việt Nam bằng vũ khí thông thường hoặc vũ khí hạt nhân”, một tài liệu viết.

Tuy nhiên, tham mưu trưởng của các binh chủng khác không tán thành tấn công Việt Nam bằng vũ khí hạt nhân. Bảy tháng sau đó, đề xuất của tướng White được rút lại. Tập tài liệu mật dài 400 trang có tựa đề “Không quân Mỹ ở Đông Nam Á: Cuộc chiến ở Bắc Lào giai đoạn 1954-1973”.

Theo báo cáo giải mật, tướng White “yêu cầu Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân bật đèn xanh cho việc gửi một phi đội máy bay ném bom B-47 của Bộ chỉ huy không quân chiến lược tới căn cứ không quân Clark ở Philippines” để chuẩn bị cho đợt tấn công Việt Nam.

Đề xuất sử dụng vũ khí hạt nhân của tướng White có thể bắt nguồn từ một công trình nghiên cứu của Không quân Mỹ có tựa đề “Vũ khí nguyên tử trong các cuộc chiến tranh hạn chế ở Đông Nam Á”, báo cáo giải mật viết.

Nghiên cứu đó tập trung vào việc sử dụng vũ khí nguyên tử để kiểm soát tình hình trong rừng rậm, tuyến tiếp tế vùng thung lũng, khu vực đá vôi, hẻm núi, nhằm ngăn địch di chuyển và khai quang những chỗ địch trú ẩn.

Một năm sau đó, trong giai đoạn từ tháng 12/1960 đến tháng 1/1961 diễn ra chiến dịch cầu hàng không của Liên Xô nhằm cung cấp “lương thực, nhiên liệu và thiết bị quân sự” cho các lực lượng thân Mátxcơva ở Lào, thông qua Hà Nội, tài liệu giải mật của Không quân Mỹ viết. Tháng 3/1961, Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ “bác bỏ một kế hoạch huy động tới 60.000 quân với sự hỗ trợ của không quân và vũ khí hạt nhân”.

Năm 1968, ngay trước cuộc tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, các lực lượng bắc Việt Nam và Quân Giải phóng miền Nam tấn công quân Mỹ ở khu vực chia cắt hai miền. Để đáp trả, tướng William Westmoreland, chỉ huy các lực lượng Mỹ ở miền nam Việt Nam, giơ tay với lấy nút bấm hạt nhân.

“Cuối tháng 1, tướng Westmoreland cảnh báo rằng, nếu tình hình gần khu phi quân sự và tại Khe Sanh xấu đi một cách trầm trọng, có thể sẽ phải sử dụng vũ khí hạt nhân hoặc vũ khí hóa học”, một tài liệu tuyệt mật khác (dài 106 trang) viết.

Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam

Robert McNamara là Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ từ tháng 1/1961 tới tháng 2/1968, giai đoạn mà sự hiện diện quân sự của Mỹ ở Việt Nam tăng vọt từ vài trăm quân nhân và “cố vấn” CIA lên hơn 500.000 binh sĩ với sự hỗ trợ của hàng trăm máy bay chiến đấu, đội tàu hải quân ngoài khơi và nguồn quân nhu khổng lồ xuyên Thái Bình Dương, từ Úc tới Philippines và Nhật Bản.

Lúc đỉnh điểm, gần 600.000 quân Mỹ được triển khai ở Việt Nam. Con số này gấp 4 lần toàn bộ quân thường trực của Mỹ năm 1940. Vì chiến tranh kéo dài và chính sách định kỳ luân chuyển quân, nên số người Mỹ phục vụ ở Việt Nam cao hơn trong Chiến tranh Thế giới lần thứ nhất hoặc ở bán đảo Triều Tiên. Số bom mà quân đội Mỹ thả ở Việt Nam lớn hơn số bom mà tất cả các bên sử dụng trong Chiến tranh Thế giới lần thứ hai.

Trong cuốn hồi ký In Retrospect: The Tragedy and Lessons of Vietnam (Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và bài học về Việt Nam), cựu Bộ trưởng Quốc phòng McNamara viết rằng, sự can thiệp của Mỹ ở Việt Nam có nguy cơ leo thang thành một cuộc xung đột lớn hơn và đẫm máu hơn.

Ít nhất 3 lần trong nhiệm kỳ của ông tại Lầu Năm Góc, vào mùa thu năm 1964, tháng 11/1965 và mùa xuân năm 1966, các tướng lĩnh Mỹ ép Bộ Quốc phòng và Nhà Trắng cho phép sử dụng vũ khí hạt nhân ở Việt Nam.

Trong cuốn hồi ký, ông McNamara kể câu chuyện thâm cung bí sử về quá trình ra chính sách của chính quyền Kennedy và Johnson, làm rõ sự phá sản của phương pháp thực dụng. Các quyết định được đưa ra theo từng ngày, ít quan tâm hậu quả lâu dài và không hiểu mối quan hệ nối liền giữa hành động quân sự, ngoại giao và chính trị.

Theo ông McNamara, chính quyền Kennedy khởi động vụ đảo chính lật đổ và sát hại Tổng thống đầu tiên của Việt Nam Cộng hòa là Ngô Đình Diệm vào tháng 11/1963 mà không đạt được sự đồng thuận về sự cần thiết loại bỏ ông Diệm hoặc chế độ nào, người nào sẽ thay thế ông ta.

Các quan chức cấp cao của Mỹ không hiểu biết về lịch sử, văn hóa, truyền thống chính trị của các nước Đông Nam Á và sự mù quáng này là một vết thương tự gây ra.

Thái An

Vì Sao Công Nghiệp Ôtô Việt Nam Chưa Lớn Mạnh?

Chính phủ chủ trương phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam trở thành ngành công nghiệp quan trọng của đất nước, đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường nội địa về các loại xe tải, xe khách thông dụng và các xe chuyên dụng; phấn đấu trở thành nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng và một số cụm chi tiết có giá trị cao trong chuỗi sản xuất công nghiệp ôtô thế giới, góp phần tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp khác. Đây là mục tiêu của quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

Thực tế, để thực hiện chủ trương đó, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế, tín dụng cho ngành sản xuất, lắp ráp ôtô nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp sản xuất ôtô trong nước phát triển.

Theo báo cáo của Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), đến nay, tỷ lệ nội địa hóa một số dòng xe sản xuất, lắp ráp trong nước khá cao, do khả năng cung ứng các sản phẩm CNHT nội địa được cải thiện. Các chủng loại xe tải, xe khách từ 10 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng sản xuất trong nước đã đạt tỷ lệ nội địa hóa cao.

Sự phát triển của CNHT sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam hội nhập kinh tế, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, tăng cường khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng các cụm liên kết ngành, tạo lập mạng lưới các nhà cung ứng sản phẩm đầu vào cho các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế.

Hiện số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp ôtô và CNHT đã gia tăng liên tục với sự tham gia các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó, đóng góp đáng chú ý vào sự gia tăng này là doanh nghiệp tư nhân trong nước. Hiện trên thị trường Việt Nam đã có mặt hầu hết các hãng sản xuất ôtô lớn trên thế giới như Toyota, Honda, Ford… kéo theo một số nhà sản xuất vệ tinh và hệ thống các nhà cung ứng linh kiện phụ tùng nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.

Ông Đỗ Thắng Hải, Thứ trưởng Bộ Công Thương: Sự cạnh tranh khốc liệt của đối thủ

Thực tế cho thấy, kinh tế – xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ, chất lượng đời sống, nhu cầu của người dân ngày càng được cải thiện, nâng cao, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam còn rất nhiều dư địa để phát triển.

Tuy nhiên, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức đến từ sự cạnh tranh khốc liệt của các đối thủ. Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam phát triển muộn hơn so với các nước trong khu vực khoảng 30 năm. Thái Lan, Indonesia, Malaysia phát triển công nghiệp ôtô từ năm 1960, trong khi đến năm 1991, công nghiệp ôtô Việt Nam mới ra đời. Bởi vậy, khi Việt Nam mới đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng ngành công nghiệp ôtô thì công nghiệp ôtô tại các nước đã rất phát triển, tạo ra áp lực cạnh tranh lớn.

Với những chính sách khuyến khích phát triển của Chính phủ, thời gian qua, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng kể. Tỷ lệ nội địa hóa một số dòng xe sản xuất, lắp ráp trong nước khá cao. Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp ôtô và CNHT cho ngành công nghiệp ôtô đã gia tăng liên tục với sự tham gia các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. CNHT đã có sự chuyển dịch theo hướng gia tăng dần tỷ trọng doanh nghiệp sản xuất trang thiết bị, linh kiện, phụ tùng và giảm dần tỷ trọng doanh nghiệp lắp ráp, sản xuất thân và thùng ôtô. Các doanh nghiệp CNHT bên cạnh việc cung cấp sản phẩm cho thị trường nội địa đã có xuất khẩu. Năng lực về công nghệ của nhiều doanh nghiệp CNHT đã được tăng cường.

Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam phát triển muộn hơn so với các nước trong khu vực khoảng 30 năm. Thái Lan, Indonesia, Malaysia phát triển công nghiệp ôtô từ năm 1960, trong khi đến năm 1991, công nghiệp ôtô Việt Nam mới ra đời, chịu áp lực cạnh tranh lớn.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, doanh nghiệp CNHT Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế như phát triển chậm cả về số lượng và chất lượng so với nhiều quốc gia trong khu vực. Tỷ lệ nội địa hóa đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi còn thấp. Máy móc, công nghệ còn tương đối lạc hậu. Chất lượng sản phẩm CNHT còn khá thấp và giá thành cao. Nhiều doanh nghiệp CNHT vẫn chưa đủ năng lực và công nghệ sản xuất để tham gia vào chuỗi giá trị ngành công nghiệp ôtô trong nước.

Từ thực trạng đó, điều kiện tiên quyết là ngành sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước phát triển, mở ra cơ hội thị trường cho các doanh nghiệp CNHT trở thành nhà cung cấp, tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp sản phẩm cuối cùng. Theo đó, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam cần phải gắn mình vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Ông Phạm Văn Tài, Tổng giám đốc Thaco Trường Hải: Cần có chính sách đúng đắn, kịp thời

Để phát triển CNHT, Chính phủ cần có chính sách đúng đắn, kịp thời. Cụ thể, nên xem xét bỏ tiêu chuẩn để được áp dụng chính sách miễn thuế nhập khẩu linh kiện ôtô để sản xuất trong nước. Vì khi thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc bằng 0% từ năm 2018, nếu vẫn áp dụng chính sách thuế nhập khẩu đối với linh kiện thì sẽ khó giảm giá thành xe sản xuất trong nước.

Mặt khác, đề nghị Chính phủ sớm xem xét giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất linh kiện, vật tư ôtô về 0%. Khi giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu, vật tư để sản xuất ra linh kiện thì chắc chắn giá thành sẽ giảm và kéo giá xe sản xuất trong nước giảm, cuối cùng, người tiêu dùng sẽ được lợi.

Trên thực tế, so với Thái Lan và Indonesia, sản lượng ôtô của Việt Nam còn thua xa. Thái Lan đạt khoảng 2 triệu xe/năm, Indonesia 1,3 triệu xe/năm, trong khi Việt Nam chỉ hơn 300.000 xe/năm. Mục tiêu của Việt Nam đến năm 2020, dung lượng thị trường ôtô có thể lên mức 500.000 xe.

Về nhân lực, Chính phủ nên có chính sách khuyến khích, hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật cao cho ngành công nghiệp ôtô và CNHT, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, liên kết trong đào tạo để phát triển chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu thực tế.

Bên cạnh đó Chính phủ cần có những cơ chế quản lý chặt chẽ với những hành vi gian lận thương mại, gian lận tiêu chuẩn khí thải, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh công bằng giữa các doanh nghiệp; có những chính sách bảo hộ hợp lý trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng, trong khi doanh nghiệp trong nước chưa lớn mạnh, nền kinh tế chưa đủ sức cạnh tranh với các quốc gia có nền kinh tế phát triển.

Ông Phạm Tuấn Anh, Phó cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương): Xu hướng tự cung tự cấp, khép kín

Tỷ lệ nội địa hóa với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi ở Việt Nam còn thấp, đến nay mới chỉ đạt bình quân khoảng 7-10%. Nguyên nhân là do dung lượng thị trường trong nước còn nhỏ, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam chưa đủ các điều kiện về thị trường cũng như các yếu tố khác để phát triển như các quốc gia trong khu vực. Trong khi đó, thị trường xuất khẩu ôtô phải chịu sự cạnh tranh gay gắt, đặc biệt từ các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc, Ấn Độ, các nước ASEAN.

Đến nay Việt Nam vẫn chưa có các doanh nghiệp đứng đầu chuỗi sản xuất tầm cỡ khu vực trong ngành sản xuất, lắp ráp ôtô. Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam hiện mới chỉ tham gia vào phân khúc thấp của chuỗi giá trị công nghiệp ôtô, phụ thuộc lớn vào sự phân công sản xuất của các tập đoàn ôtô toàn cầu, chưa làm chủ được các công nghệ cốt lõi để sản xuất động cơ, hệ thống điều khiển, hệ thống truyền động…

Điều đáng nói, nhiều doanh nghiệp lắp ráp ôtô Việt Nam đang đi vào con đường mà các quốc gia đi trước đã từ bỏ, đó là xu hướng tự cung tự cấp hoặc độc quyền, khép kín trong sản xuất ôtô. Thêm vào đó, do sản lượng còn quá nhỏ, nên các nhà sản xuất phần lớn phải nhập khẩu các linh kiện để lắp ráp ôtô dẫn đến chi phí rất cao cho việc đóng gói, vận chuyển, thuế nhập khẩu.

Hiện nay, hệ thống chính sách phát triển CNHT cho ngành công nghiệp ôtô còn có những mâu thuẫn, thiếu nhất quán, thiếu tính ổn định; chiến lược và quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ôtô vẫn chưa mang lại hiệu quả…

Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính): Không thể giảm ngay thuế nhập khẩu linh kiện về 0%

Không thể giảm ngay thuế nhập khẩu tất cả linh kiện về 0%, bởi làm vậy thì chúng ta mất đi hàng rào bảo hộ với các linh kiện mà trong nước đã sản xuất được. Do vậy, sắp tới, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ dự thảo nghị định sửa đổi Nghị định số 125/2017/NĐ-CP, dự kiến sẽ đề xuất giảm thuế nhập khẩu về 0% với những linh kiện mà trong nước chưa sản xuất được, thời gian thực hiện ưu đãi trong 5 năm.

Mới đây, Bộ Tài chính đã có văn bản xin ý kiến các bộ, ngành về báo cáo toàn diện chính sách cho ngành công nghiệp ôtô hiện nay. Qua đó có thể khẳng định rằng, hệ thống chính sách thuế với ngành công nghiệp ôtô đã có sự ưu đãi, thể hiện sự quan tâm theo đúng định hướng Chính phủ.

Bà Đỗ Thu Hoàng, Phó tổng giám đốc Toyota Việt Nam: Dung lượng thị trường nhỏ, chi phí cao

Trước bối cảnh hội nhập hoàn toàn khu vực ASEAN vào năm 2018, thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc về 0%, ngành sản xuất xe trong nước gặp nhiều khó khăn. Khó khăn lớn nhất của ngành công nghiệp ôtô Việt Nam là dung lượng thị trường nhỏ bé, sản lượng thấp. Chẳng hạn, sản lượng xe Vios sản xuất tại Việt Nam chỉ bằng 1/8 của Thái Lan. Điều này làm cho chi phí sản xuất ôtô tại Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực, đặc biệt là chi phí khấu hao. Do sản lượng còn quá nhỏ, nên các nhà sản xuất phần lớn phải nhập khẩu linh kiện để sản xuất ôtô, dẫn đến chi phí rất cao cho việc đóng gói, vận chuyển, thuế nhập khẩu. Mặt khác, CNHT cho ngành công nghiệp ôtô cũng không phát triển được do sản lượng ôtô sản xuất tại Việt Nam thấp. Các yếu tố bất lợi đó đã làm cho chi phí sản xuất ôtô tại Việt Nam cao hơn so với Thái Lan, Indonesia. Hiện nay, chi phí sản xuất ôtô tại Việt Nam cao hơn khoảng 10-20% so với Thái Lan và Indonesia.

Trước năm 2018, khi thuế xuất nhập khẩu từ các nước ASEAN còn ở mức cao, xe sản xuất trong nước còn có khả năng cạnh tranh được với xe nhập khẩu. Nhưng từ 2018, khi không còn bảo hộ, thuế suất nhập khẩu ôtô nguyên chiếc về 0% thì xe sản xuất trong nước không thể cạnh tranh được, rất khó khăn cho các nhà sản xuất ôtô tại Việt Nam. Trên thực tế, so với Thái Lan và Indonesia, sản lượng ôtô của Việt Nam còn thua xa. Thái Lan đạt khoảng 2 triệu xe/năm, Indonesia 1,3 triệu xe/năm, trong khi Việt Nam chỉ hơn 300.000 xe/năm.

Mục tiêu của Việt Nam đến năm 2020, dung lượng thị trường ôtô có thể lên mức 500.000 xe. Đây là thông tin rất tốt cho các nhà sản xuất ôtô tại Việt Nam, bởi dung lượng thị trường lớn sẽ kéo theo CNHT phát triển. Để phát triển CNHT, điều tiên quyết là ngành công nghiệp ôtô trong nước phát triển, mở ra cơ hội thị trường cho các doanh nghiệp CNHT trở thành nhà cung cấp, tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp sản phẩm cuối cùng.

Sắp tới, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ dự thảo nghị định sửa đổi Nghị định số 125/2017/NĐ-CP, dự kiến sẽ đề xuất giảm thuế nhập khẩu về 0% với những linh kiện mà trong nước chưa sản xuất được, thời gian thực hiện ưu đãi trong 5 năm.

Để có thể duy trì hoạt động và phát triển, chúng tôi mong đợi sớm có các chính sách thúc đẩy thị trường ôtô tăng trưởng ổn định và dài hạn. Các chính sách về thị trường cần công bằng, minh bạch và có thời gian hợp lý để các doanh nghiệp chuẩn bị kế hoạch kinh doanh. Ngoài ra, Chính phủ có thể hỗ trợ sản xuất ôtô trong nước trong bối cảnh thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc từ các nước ASEAN đã về 0% từ năm 2018.

Chúng tôi cho rằng, các chính sách thuế nên được triển khai để tạo ra sức cạnh tranh cho ôtô sản xuất trong nước về dài hạn. Thuế tiêu thụ đặc biệt có thể là giải pháp hợp lý. Tuy nhiên, có thể cân nhắc việc bảo hộ vừa đủ cho ôtô sản xuất trong nước để tăng cạnh tranh; bình đẳng về cơ hội hưởng ưu đãi cho các nhà sản xuất ôtô… Cùng với đó, Chính phủ nên có ưu đãi với các nhà sản xuất và nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng để họ có thể đầu tư vào máy móc, khuôn và đồ gá, nhằm tăng nội địa hóa linh kiện, qua đó giảm bớt tác động bất lợi của quy mô sản lượng thấp.

Đức Minh