Top 4 # Xem Nhiều Nhất Vì Sao Nói Thế Kỉ Xix Là Thế Kỉ Của Sắt Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Bài 4: Các Nước Đông Nam Á (Cuối Thế Kỉ Xix

Chi tiết Chuyên mục: Bài 4: Các nước Đông Nam Á (Cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX)

– Chính sách đối ngoại “mềm dẻo” ( Chính sách ngoại giao “ngọn tre”).

– Trước sự xâm nhập của các nước phương Tây, Xiêm đã chủ động “mở cửa”, quan hệ với tất cả các nước.

Xiêm liên tiếp kí các hiệp ước hữu nghị và thương mại với các nước phương Tây: năm 1826 kí với Anh, 1833 với Mỹ, 1907 với Pháp…..

– Xiêm còn biết lợi dụng mấu thuẫn giữa các cường quốc để họ tự kiềm chế chúng tôi dựa vào thế lực của Hà Lan để chống lại thế lực đang lớn mạnh của Bồ Đào Nha. Nhưng khi thế lực của Hà Lan ngày càng cho phối mạnh mẽ ở Xiêm thì họ lại dựa vào Anh để chống Hà Lan…

– Cải cách ở Xiêm cuối thế kỉ XIX của Ra-ma V

Cuối thế kỉ XIX, vua Rama V tiến hành cải cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, quân sự……Các chính sách cải cách của Xiêm đi theo hướng “mở cửa”. Chính cuộc cải cách này đã giúp Xiêm hòa nhập vào sự phát triển chung của chủ nghĩa tư bản thế giới.

– Vị trí “nước đệm” của Xiêm

Từ 1858-1893, Đông Dương là thuộc địa của Pháp. Trong khi đó Anh chiếm được Ấn Độ và Miến Điện. Xiêm đứng trước nguy cơ bị xâm lược. Tuy nhiên, Anh-Pháp là 2 nước đối đầu ở Châu Âu, Châu Mĩ, Châu chúng tôi và Pháp không muốn có sự va chạm ở Xiêm. Sự mâu thuẫn của 2 quốc gia này trong vấn đề Xiêm đã buộc Pháp đi đến một đề nghị hòa giải để đảm bảo quyền lợi. Như vậy Xiêm biến thành “vùng đệm” của Anh và Pháp.

– Trong bối cảnh chung của châu Á, Xiêm nhờ đó mà thoát khỏi thân phận thuộc địa giữ được độc lập.

Chi tiết Chuyên mục: Bài 4: Các nước Đông Nam Á (Cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX)

– Phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX diễn ra liên tục, sôi nổi với nhiều hình thức: Khởi nghĩa vũ trang, Cải cách,…

Chủ yếu là đấu tranh vũ trang với sự tham gia của các tầng lớp nhân dân.

– Có sự chuyển biến về hình thức đấu tranh vào giai đoạn sau gắn liền với sự ra đời của các tổ chức chính trị.

– Tóm lại :Cuối thế kỉ XX phong trào giải phóng dân tộc ở Đông Nam Á bùng nổ mạnh mẽ nhưng đều thất bại,vì còn mang tính tự phát, nổ ra lẻ tẻ chưa có sự đoàn kết giửa các dân tộc, song sẽ tạo điều kiện tiền đề cho những giai đoạn sau.

Chi tiết Chuyên mục: Bài 4: Các nước Đông Nam Á (Cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX)

– Đông Nam Á là một khu vực có vị trí địa lý quan trọng, giàu tài nguyên, chế độ phong kiến đang lâm vào khủng hoảng, suy yếu nên không tránh khỏi bị các nước phương Tây nhòm ngó, xâm lược.

– Từ nửa sau thế kỷ XIX, tư bản phương Tây đẩy mạnh xâm lược Đông Nam Á: Anh chiếm Mã Lai, Miến Điện; Pháp chiếm 3 nước Đông Dương; Tây Ban Nha rồi Mỹ chiếm Philippin; Hà Lan và Bồ Đào Nha chiếm Inđônêxia.

– Xiêm (Thái Lan) là nước duy nhất ở Đông Nam Á vẫn giữ được độc lập, nhưng cũng trở thành “vùng đệm” của tư bản Anh và Pháp.

Chi tiết Chuyên mục: Bài 4: Các nước Đông Nam Á (Cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX)

– Xóa bỏ được chế độ nô lệ, giải phóng sức lao động, góp phần đưa nền kinh tế phát triển theo con đường Tư bản chủ nghĩa.

– Trong nông nghiệp, hình thái kinh tế tự nhiên, tự cung tự cấp đã bị loại bỏ và thay bằng nền kinh tế hàng hóa tư bản chủ nghĩa.

– Xiêm trở thành nước xuất khẩu gạo, gỗ, đường và nhiều mặt hàng quan trọng khác có uy tín trên thế giới.

– Công nghiệp khai khoáng và xây dựng hạ tầng cơ sở, hệ thống đường sắt, đường bộ phát triển mạnh.

– Hệ thống giáo dục Xiêm được chuẩn hóa và hiện đại hóa, tầng lớp tri thức ngày càng được trọng dụng và đề cao.

– Các tôn giáo ổn định, nâng cao trình độ dân trí và nhận thức tốt trong nhân dân.

– Nhờ chính sách đối ngoại mềm dẻo nên bảo vệ được nền độc lập, chủ quyền.

– Tuy đã có những thành công nhất định nhưng Xiêm vẫn còn phải phụ thuộc nhiều đến các nước Phương Tây.

Chi tiết Chuyên mục: Bài 4: Các nước Đông Nam Á (Cuối thế kỉ XIX-đầu thế kỉ XX)

– Giữa thế kỉ XIX đứng trước sự đe dọa xâm lược của phương Tây, Ra-ma IV (Mông-kút ở ngôi từ 1851-1868) đã thực hiện mở cửa buôn bán với nước ngoài.

– Ra-ma V (Chu-la-long-con ở ngôi từ 1868 – 1910) đã thực hiện nhiều chính sách cải cách.

* Nội dung cải cách

– Kinh tế

+ Nông nghiệp: để tăng nhanh lượng gạo xuất khẩu nhà nước giảm nhẹ thuế ruộng, xóa bỏ chế độ lao dịch.

+ Công thương nghiệp: khuyến khích tư nhân bỏ vốn kinh doanh, xây dựng nhà máy, mở hiệu buôn, ngân hàng

– Chính trị

+ Cải cách theo khuôn mẫu Phương Tây.

+ Đứng đầu nhà nước vẫn là vua.

+ Giúp việc có hội đồng nhà nước (nghị viện).

+ Chính phủ có 12 bộ trưởng.

– Quân đội, tòa án, trường học được cải cách theo khuôn mẫu phương Tây.

– Về xã hội: xóa bỏ chế độ nô lệ , giải phóng người lao động.

– Đối ngoại:

+ Thực hiện chính sách ngoại giao mềm dẻo.

+ Lợi dụng vị trí nước đệm .

+ Lợi dụng mâu thuẫn giữa 2 thế lực Anh – Pháp đã lựa chiều có lợi để giữ chủ quyền đất nước.

Bài 27 : Khởi Nghĩa Yên Thế Và Phong Trào Chống Pháp Của Đồng Bào Miền Núi Cuối Thế Kỉ Xix

– Yên Thế ở Tây Bắc tỉnh Bắc Giang, là vùng đất đồi, cây cối, rậm rạp, địa hình hiểm trở,thông sang Tam Đảo, Thái Nguyên, Phúc Yên, Vĩnh Yên

– Thích hợp với lối đánh du kích, dựa vào địa thế hiểm trở và công sự dã chiến, đánh nhanh và rút nhanh lại rất thuận tiện khi bị truy đuổi.

Lược đồ căn cứ Yên Thế

Căn cứ của nghĩa quân Yên Thế

*Nguyên nhân dẫn đến cuộc khởi nghĩa Yên Thế

+ Để mở rộng phạm vi chiếm đóng, Pháp cướp đất của người nông dân ở Yên Thế làm đồn điền, khai mỏ, làm đường giao thông.

* Diễn biến, gồm ba giai đoạn

+ Khởi nghĩa do Đề Nắm chỉ huy, lúc này nghĩa quân hoạt động riêng rẽ, chưa có sự chỉ huy thống nhất.

+ Tháng 4 – 1892 cuộc khởi nghĩa do Đề Thám chỉ huy.

Thủ lĩnh Hoàng Hoa Thám

– Giai đoạn II (1893- 1908): nghĩa quân vừa chiến đấu vừa xây dựng cơ sở

+ Nghĩa quân đã chiến đấu quyết liệt, buộc kẻ thù hai lần phải giảng hòa và nhượng bộ một số điều kiện có lợi cho ta.

Lần giảng hòa thứ nhất: sau khi bắt được tên điền chủ người Pháp – Sét-nay. Đề Thám đã thỏa thuận với Pháp, nghĩa quân đã thả tên điền chủ, trong khi đó Đề Thám phải được cai quản 4 tổng: Nhã Nam, Mục Sơn, Yên Lễ và Hữu Thượng.

Đặc biệt trong thời kì giảng hòa lần thứ hai (12- 1897) Đề Thám cho sản xuất ở Phồn Xương, tích lũy lương thực, xây dựng quân đội, sẵn sàng chiến đấu. Nhiều nhà yêu nước đã tìm đến như Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh

+ Giai đoạn III: 1909 – 1913

– Sau vụ đầu độc binh lính Pháp ở Hà Nội, Pháp đã dần hiện thấy Đề Thám có dính líu đến vụ đầu độc lính. Vì vậy, Pháp tập trung lực lượng, mở cuộc tấn công quy mô lên Yên Thế.

– Sau nhiều trận càn quét của địch, lực lượng nghĩa quân hao mòn dần

– Ngày 10- 2- 1913 Đề Thám bị sát hại phong trào tan rã.

Nghĩa quân Yên Thế bị bắt

– Ý nghĩa: Khởi nghĩa Yên Thế là trang sử vẻ vang của dân tộc, chứng minh khả năng hùng hậu của nông dân trong lịch sử chống Pháp xâm lược.

II. Phong trào chống Pháp của đồng bào miền Núi cuối thế kỉ XIX (tham khảo)

– Ở Nam Kỳ, nhân dân các dân tộc thiểu số đã sát cánh cùng người Kinh đánh Pháp từ giữa thế kỷ XIX.

– Ở miền Trung, tiêu biểu là các cuộc đấu tranh do Hà Văn Mao, Cầm Bá Thước cầm đầu.

– Ở Tây Nguyên, tù trưởng N’Tgang Guh, Ama Kol, Ama Jhao… đã kêu gọi nhân dân rào làng chiến đấu từ 1889 đến 1905.

– Ở Tây Bắc, đồng bào các dân tộc Mường, Thái… tập hợp dưới ngọn cờ của Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Văn Giáp lập căn cứ kháng chiến ở Lai Châu, Sơn La hoạt động mạnh ở sông Đà.

– Trong các năm từ 1884 đến 1890, xuất hiện các toán quân người Thái dưới sự chỉ huy của Đèo Văn Trì, Nông Văn Quang, Cầm Văn Thanh, Cầm Văn Hoan.

– Đồng bào Thái ở Sơn La, Yên Bái do Đèo Chính Lục, Đặng Phúc Thành cầm đầu đã phục kích quân Pháp ở nhiều nơi.

– Đồng bào Mông ở Hà Giang do Hà Quốc Thượng lãnh đạo đã nổi dậy chống Pháp từ năm 1894 đến năm 1896.

– Tại vùng Đông Bắc Kỳ, bùng nổ phong trào của người Dao, người Hoa, tiêu biểu nhất là đội quân của Lưu Kỳ.

– Phong trào chống Pháp của đồng bào miền núi diễn ra muộn hơn nhưng phát triển mạnh mẽ, diễn ra bề bỉ và lâu dài.

– Diễn ra ở khắp các vùng miền núi

– Có sự tham gia của các dân tộc thiểu số như Thái, Mường, Mông, Dao, Hoa, Khơ- me và các dân tộc Tây Nguyên.

– Hỗ trợ cho các cuộc đấu tranh của đồng bào ở vùng đồng bằng

– Góp phần làm chậm quá trình xâm lược và bình định của Pháp.

* Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử của khởi nghĩa Yên Thế và phong trào chống Pháp của đồng bào miền núi

– Nguyên nhân thất bại

+ Bó hẹp trong 1 địa phương, bị cô lập, so sánh lực lượng chênh lệch.

+ Bị Pháp và phong kiến đàn áp.

+ Do chưa có sự lãnh đạo của giai cấp tiên tiến. – Ý nghĩa lịch sử

+ Chứng tỏ sức mạnh to lớn tiềm tàng của nông dân.

+ Làm chậm quá trình xâm lược và bình định của của Pháp.

+ Xứng đáng nối tiếp truyền thống yêu nước của tổ tiên.

* HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI

1. Lập bảng thống kê các giai đoạn của cuộc khởi nghĩa?

Trả lời

2. Em hãy nên các hoạt động của thực dân Pháp ở Việt Nam vào cuối thế kỉ XIX?

Trả lời

Vào cuối thế kỉ XIX, thực dân Pháp bắt đầu thực hiện chính sách bình định quân sự đối với trung du, miền núi nhằm ổn định tình hình chính trị, chuẩn bị cho cuộc khai thác đại quy mô sắp tớ (làm đường, cầu, đường dây điện thoại nối liền các vùng kinh tế, các vùng nguyên liệu và các trung tâm hành chính với nhau,…).

3. Nguyên nhân của phong trào vũ trang kháng Pháp ở các địa phương cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX ?

Trả lời

Nguyên nhân của phong trào vũ trang kháng Pháp ở các địa phương cuối thể XIX – đầu thế kỉ XX là do:

– Chính sách bình định quân sự đối với trung du, miền núi ảnh hưởng tới cuộc sống tự do của nhân dân địa phương.

– Truyền thống yêu nước vốn có của nhân dân Việt Nam.

4. Nguyên nhân bùng nổ cuộc khởi nghĩa Yên Thế?

Trả lời

– Yên Thế là vùng đồi núi trung du ở phía Tây Bắc tỉnh Bắc Giang, thông với nhiều tỉnh ở vùng núi như Lạng Sơn, Thái Nguên và vùng đông bằng như Bắc Ninh, Hà Nội.

– Địa bàn Yên Thế là vùng cây cối rậm rạp, khí hậu khắc nghiệt, rất bất lợi đối với kẻ địch nhưng lại thuận lợi cho cách đánh du kích của nghĩa quân.

5. Em hãy nhận xét về thành phần lãnh đạo của cuộc khởi nghĩa Yên Thế?

Trả lời

– Khác với các cuộc khởi nghĩa trong phong trào Cần Vương, phong trào chống Pháp ở Yên Thế không phải do một số người hoặc một cá nhân văn thân, sĩ phu phát động, tập hợp mà là một loạt các cuộc khởi nghĩa nhỏ lẻ do nhiều thủ lĩnh địa phương cầm đầu.

– Những người này đều xuất phát từ nông dân địa phương, ít chịu ảnh hưởng của tư tưởng phong kiến, không có sự gắn bó chặt chẽ với khẩu hiệu Cần vương, mong muốn xây dựng một cuộc sống bình quân, bình đẳng sơ khai về kinh tế và xã hội, một biểu hiện của tính tự phát về mặt tư tưởng của nông dân.

6. Em hãy giới thiệu đôi nét tiểu sử của Hoàng Hoa Thám?

Trả lời

– Hoàng Hoa Thám (Đề Thám), người làng Dị Chế, huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên. Ông sinh khoảng năm 1846, trong một gia đình nhà nho nghèo họ Trương. Khi phong trào kháng chiến chống Pháp của nhân dân Yên Thế bùng nổ, ông đã tham gia nghĩa quân của Lương Văn Nắm (Đề Nắm). Khi Đề Nắm chết, ông đứng ra lãnh đạo phong trào.

– Hoàng Hoa Thám có vóc người vạm vỡ, tóc thường cắt ngắn, mắt một mí, nói năng nhỏ nhẹ, sống kín đáo, giản dị. Nhưng sự can đảm, lòng kiên trì và tài năng chiến trận của ông đã khiến cho kẻ thù nhiều phen khiếp đảm. Chúng đã phải thừa nhận rằng : “Đề Thám rất can đảm, ưa hành động, bản năng chiến trận của ông thật kì diệu….Ông ta có những tài năng lớn của một chiến binh. Sẽ là hèn hạ nếu không công nhận điều đó.”

– Dựa vào vùng rừng núi hiểm trở, vận dụng linh hoạt chiến thuật đánh du kích, Đề Thám đã lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu chống thực dân Pháp trong suốt 30 năm, gây cho chúng nhiều phen khốn đốn và tổn thất nặng nề.

7. Em hãy nêu tóm tắt diễn biến giai đoạn 1 của cuộc khởi nghĩa Yên Thế?

Trả lời

Trong giai đoạn đầu (1884-1892), nghĩa quân hoạt động riêng lẻ ở Yên Thế, chưa có sự phối hợp và chỉ huy thống nhất. Thủ lĩnh có uy tín nhất lúc đó là Đề Nắm. Sau khi Đề Nắm mất (Tháng 4 – 1892), Đề Thám (Hoàng Hoa Thám) trở thành vị chỉ huy tối cao của phong trào.

8. Em hãy nêu tóm tắt diễn biến giai đoạn 2 của cuộc khởi nghĩa Yên Thế?

Trả lời

Trong giai đoạn hai (1893-1908), đây là thời kì nghĩa quân vừa chiến đấu, vừa xây dựng cơ sở dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Hoàng Hoa Thám. Nghĩa quân có những trận đánh tiêu biểu. Nghĩa quân đã hai lần đình chiến với Pháp, tranh thủ thời gian hòa hoãn để xây dựng lại căn cứ và mở rộng phạm vi ra vùng Bắc Ninh, Bắc Giang. Nghĩa quân đã xây dựng căn cứ Phồn Xương vững mạnh, vừa sản xuất, vừa tăng cường, sắm sửa vũ khí, luyện tập võ nghệ, lập thêm một số đồn mới (Tú Nghệ).

9. Vì sao Đề Thám phải hai lần đề nghị giảng hòa và được thực dân Pháp chấp nhận?

Trả lời

– Do tương quan lực lượng quá chênh lệch. Đề Thám phải tìm cách giảng hòa với quân Pháp.

– Pháp chấp nhận thương lượng và giảng hòa để chuộc lại tên Sét-nay và để tạo những điều kiện thuận lợi cho việc khai thác và bóc lột.

– Nghĩa quân Yên Tế giảng hòa để tranh thủ thời gian xây dựng lực lượng, tích trữ lương thảo, xây dựng đội quân tinh nhuệ để chuẩn bị cho cuộc chiến đấu lâu dài.

10. Em hãy nên tóm tắt diễn biến giai đoạn 3 của cuộc khởi nghĩa Yên Thế?

Trả lời

– Trong giai đoạn 3, từ năm 1909 đến năm 1913, sau vụ đầu độc lính Pháp ở Hà Nội, phát hiện có sự dính líu của Đề Thám, quân Pháp tập trung lực lượng tấn công căn cứ Yên Thế. Nghĩa quân vừa chống đỡ, vừa di chuyển dần lực lượng sang các vùng lân cận để duy trì cuộc chiến đấu chống Pháp.

– Trải qua nhiều trận càn quét liên tiếp của địch, lực lượng nghĩa quân hao mòn dần. Đến ngày 10-2-1913, khi thủ lĩnh Đề Thám bị sát hại, phong trào tan rã.

11. Chiến thuật chủ yếu của nghĩa quân Yên Thế là gì?

Trả lời

– Phương thức tác chiến của nghĩa quân là đánh du kích, lấy ít đánh nhiều. Nghĩa quân thường đánh những trận nhỏ, dựa vào địa hình hiểm trở và công sự dã chiến để đánh gần, đánh nhanh rồi rút nhanh.

– Nghĩa quân Yên Thế xuất sắc trong cách đánh du kích và đánh trong rừng, hiểu biết một cách kì lạ mọi thuận lợi của địa hình để vận dụng trong chiến đấu.

– Nhờ chiến thuật đánh du kích mà nghĩa quân Yên Thế đã có thể duy trì được cuộc chiến đấu trong gần 30 năm ròng rã.

12. Khởi nghĩa nông dân Yên Thế có đặc điểm gì khác so với các cuộc khởi nghĩa của phong trào Cần vương?

Trả lời

– Đây là cuộc khởi nghĩa lớn nhất, quyết liệt nhất, có thời gian kéo dài nhất, tồn tại dai dẳng suốt 30 năm, gây cho địch nhiều tổn thất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta đến những năm đầu thế kỉ XX.

– Mục tiêu chiến đấu không phải là để khôi phục chế độ phong kiến, bảo vệ ngôi vua như các cuộc khởi nghĩa Cần vương mà là phong trào đấu tranh tự phát của nông dân để bảo vệ quyền lợi thiết thân, giữ đất, giữ làng.

– Lãnh tụ Hoàng Hoa Thám có những phẩm chất đặc biệt: căm thù đế quốc, phong kiến, mưu trí, dũng cảm, sáng tạo, trung thành với quyền lợi của những người cùng cảnh ngộ, hết sức thương yêu nghĩa quân.

– Nghĩa quân đều là những nông dân cần cù, chất phác, yêu cuộc sống tự do nhưng chiến đấu rất quyết liệt, buộc kẻ thù phải hai lần giảng hòa và nhượng bộ một số điều kiện có lợi cho ta.

– Nổ ra ở vùng trung du, có lối đánh linh hoạt, cơ động.

13. Trình bày đặc điểm của phong trào chống Pháp của nhân dân địa phương cuối thế kỉ XIX?

Trả lời

– Phong trào bùng nổ theo vết dầu loang (theo tiến trình bình định trung du và miền núi của thực dân Pháp).

– Phong trào không bị chi phối bởi khẩu hiệu Cần vương (giúp vua) mà xuất phát từ lòng yêu nước, yêu quê hương, chiến đấu để bảo vệ cuộc sống tự do.

– Phong trào nổ ra ở nhiều nơi : Tây Nam, Tây Nguyên, Tây Bắc, Việt Bắc, Đông Bắc, hình thức phong phú, được đông đảo bà con các dân tộc thiểu số tham gia.

– Tuy phong trào đấu tranh diễn ra rầm rộ, sôi nổi nhưng cuối cùng vẫn thất bại do nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân về tổ chức lãnh đạo, bế tắc đường lối.

15. Vì sao khởi nghĩa Yên Thế tồn tại lâu hơn bất cứ cuộc khởi nghĩa nào trong phong trào Cần vương?

Trả lời

Cuộc khởi nghĩa Yên Thế tồn tại lâu hơn bất cứ cuộc khởi nghĩa nào trong phong trào Cần vương vì:

– Cuộc khởi nghĩa đã tập hợp được lực lượng đông đảo là nông dân, trên một địa bàn rộng lớn.

– Cuộc khởi nghĩa đặt dưới sự lãnh đạo của một thủ lĩnh độc đáo, mưu trí, dũng cảm, trung thành, tận tụy với nguyện vọng của nhân dân, đồng cam cộng khổ, thương yêu đùm bọc nghĩa quân, có cuộc sống giản dị hòa mình với quần chúng.

– Cuộc khởi nghĩa dựa vào địa hình hiểm trở và biết tận dụng thế mạnh của mình tại vùng rừng núi, sử dụng chiến thuật đúng đắn, linh hoạt.

16. Nguyên nhân thất bại của cuộc khởi nghĩa Yên Thế?

Trả lời

Sự thất bại của khởi nghĩa Yên Thế cũng do những nguyên nhân chung của phong trào vũ trang chống Pháp cuối thế kỉ XIX và một số nguyên nhân riêng. Đó là:

– Bó hẹp trong một địa phương, bị cô lập.

– So sánh lực lượng chênh lệch, lại bị thực dân Pháp và phong kiến câu kết đàn áp.

– Sự thất bại của phong trào Yên Thế càng chứng tỏ rằng sức mạnh to lớn của phong trào nông dân bị hạn chế vì chưa có sự lãnh đạo của giai cấp tiên tiến.

17. Cuộc khởi nghĩa Yên Thế có ý nghĩa lịch sử như thế nào?

Trả lời

Mặc dù thất bại song phong trào nông dân Yên Thế vẫn có ý nghĩa vô cùng to lớn:

– Nó tiêu biểu cho tinh thần quật khởi của nông dân Việt Nam.

– Có tác dụng làm chậm quá trình xâm lược, bình định vùng trung du và miền núi phía bắc của thực dân Pháp.

Nêu Những Điểm Chung Và Riêng Của Cách Mạng Tư Sản Anh Thế Kỉ Xvii, Chiến Tranh Giành Độc Lập Của Các Thuộc Địa Anh Ở Bắc Mĩ Và Cách Mạng Tư Sản Pháp Cuối Thế Kỉ Xviii (Có Thể Lập Bảng So Sánh, Hệ Thống Kiến Thức…)

Nêu những điểm chung và riêng của Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII, Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ và Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII (có thể lập bảng so sánh, hệ thống kiến thức,…). Hướng dẫn giải

dựa vào những kiến thức đã học để so sánh

Lời giải chi tiết * Bảng so sánh các cuộc CMTS thời kì cận đại Nội dung Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII Nhiệm vụ, mục tiêu

– Lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế.

– Mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Lật đổ nền thống trị của thực dân Anh.

– Mở đường cho chủ nghĩa tư bản Bắc Mĩ phát triển.

– Xóa bỏ chế độ quân chủ chuyến chế.

– Mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

Lãnh đạo

Quý tộc mới, tư sản.

Tư sản , chủ nô.

Tư sản.

Hình thức

Nội chiến.

Cách mạng giải phóng dân tộc.

Nội chiến, chiến tranh vệ quốc.

Kết quả, Ý nghĩa

– Lật đổ chế độ phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Thiết lập chế độ quân chủ lập hiến.

– Giải phóng Bắc Mĩ khỏi sự thống trị của thực dân Anh, thành lập quốc gia tư sản, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Góp phần thúc đẩy cách mạng chống phong kiến ở châu Âu, phong trào đấu tranh của nhân dân Mĩ La-tinh cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX.

– Lật đổ nền quân chủ chuyên chế, thủ tiêu tàn dư phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân.

– Chế độ phong kiến bị lung lay ở khắp châu Âu.

– Mở ra thời đại mới của chủ nghĩa tư bản trên thế giới.

Tính chất

Là một cuộc cách mạng tư sản chưa triệt để.

Là một cuộc cách mạng tư sản chưa triệt để.

Là một cuộc cách mạng tư sản triệt để.

Nội dung Cách mạng tư sản Anh thế kỉ XVII Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Anh ở Bắc Mĩ Cách mạng tư sản Pháp cuối thế kỉ XVIII Nhiệm vụ, mục tiêu

– Lật đổ chế độ phong kiến chuyên chế.

– Mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Lật đổ nền thống trị của thực dân Anh.

– Mở đường cho chủ nghĩa tư bản Bắc Mĩ phát triển.

– Xóa bỏ chế độ quân chủ chuyến chế.

– Mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

Lãnh đạo

Quý tộc mới, tư sản.

Tư sản , chủ nô.

Tư sản.

Hình thức

Nội chiến.

Cách mạng giải phóng dân tộc.

Nội chiến, chiến tranh vệ quốc.

Kết quả, Ý nghĩa

– Lật đổ chế độ phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Thiết lập chế độ quân chủ lập hiến.

– Giải phóng Bắc Mĩ khỏi sự thống trị của thực dân Anh, thành lập quốc gia tư sản, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Góp phần thúc đẩy cách mạng chống phong kiến ở châu Âu, phong trào đấu tranh của nhân dân Mĩ La-tinh cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX.

– Lật đổ nền quân chủ chuyên chế, thủ tiêu tàn dư phong kiến, mở đường cho chủ nghĩa tư bản phát triển.

– Giải quyết vấn đề ruộng đất cho nông dân.

– Chế độ phong kiến bị lung lay ở khắp châu Âu.

– Mở ra thời đại mới của chủ nghĩa tư bản trên thế giới.

Tính chất

Là một cuộc cách mạng tư sản chưa triệt để.

Là một cuộc cách mạng tư sản chưa triệt để.

Là một cuộc cách mạng tư sản triệt để.

Cơ Sở Hình Thành Quá Trình Xác Lập Chủ Quyền Biển Đảo Việt Nam Dưới Thời Chúa Nguyễn Thế Kỉ Xvii

Từ thế kỉ XVI, các chúa Nguyễn vào trấn thủ miền Thuận Quảng, đã thật sự quan tâm đến biển, chuyển dần từ nền kinh tế nông nghiệp sang thương nghiệp là chủ đạo. Chính vì vậy mà tư tưởng về biển của chúa Nguyễn so với các đời trước được xem tiến bộ và phát triển hơn. Như vậy, một câu hỏi đặt ra là tại sao đến thời chúa Nguyễn, sự “hướng biển” lại khởi phát đến như vậy và một thành công lớn đó là sự chính thức xác nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đồng thời, quá trình xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam dưới thời chúa từ thế kỉ XVII – XVIII dựa trên những cơ sở, những điều kiện nào. Việc tìm hiểu những điều kiện, những cơ sở đó còn khẳng định được tính hợp thức hóa, hợp pháp hóa quá trình đó.

Việt Nam nằm trong một khu vực Đông Nam Á – nơi biển cả phân lập, chia tách các quốc gia

Khu vực Đông Nam Á nằm trong mội trường tự nhiên và không gian văn hóa đặc thù. “Biển cả đã phân lập, chia tách các quốc gia, các trung tâm kinh tế. Nhưng dường như là một nghịch lý của lịch sử, chính môi trường biển lại trở thành nhân tố liên kết, cố kết các cộng đồng cư dân trong khu vực” [4, 20]. Và ngay cả trong bản thân Việt Nam, là một quốc gia nằm cận biển, bị chia cắt mạnh bởi điều kiện tự nhiên do những dãy núi cao từ lục địa Châu Á đổ theo hướng Tây Bắc – Đông Nam xuống Biển Đông nên ở nước ta sớm hình thành nên những không gian kinh tế – văn hóa tương đối biệt lập. Do địa hình bị chia cắt, lại chủ yếu sinh tụ ở vùng tương đối ẩm trũng, các châu thổ, vùng cận biển và ven biển, với người Việt việc đi lại, chuyển vận theo các tuyến sông, biển luôn giữ vai trò quan trọng. Chiếm 3/4 diện tích trái đất, biển khơi bao la với tiềm năng dồi dào của nó và nguồn lợi từ hải thương đã tạo nên năng lực và nhu cầu hướng biển, chinh phục biển khơi của nhiều quốc gia và đế chế lớn trên thế giới. Trên bình diện khu vực, từ những thế kỉ đầu sau công nguyên, cư dân Việt cổ, Champa, Phù Nam, Java, Mã Lai… đã nổi tiếng về kĩ thuật đóng thuyền, tàu đi biển, năng lực chinh phục biển khơi và tiến hành các hoạt động giao thương trên biển.

Cư dân biển ở Đông Nam Á theo sự nghiên cứu thì người ta cho rằng đây là “Bộ lạc hải du”. Họ đã phất triển truyền thống hàng hải trước khi mở mang nông nghiệp. Đây là quan niệm phổ biến ở những nước có chỉ số cận và hướng biển cao. Và theo Bernard Phillippe Grosslier cũng chỉ ra rằng “Ở vùng Đông Nam Á cho dù Java có thể là nơi con người có thể xuất hiện sớm nhất (điển hình là người vượn Java), nhưng chính vùng Đông Dương (Indochina) mới luôn luôn là cái kho chứa nhân lực mà từ đó tỏa đi khai phá khắp khu vực”. “Đông Nam Á thời cổ chính là nơi phát sinh những đường hàng hải giao tiếp dọc các bờ biển. Và thời Trung đại hay thời thời kỳ thương mại Biển Đông đây cũng chính là nơi hình thành các tuyến buôn bán Nội Á (Intra-Asian trade) và xuyên lục địa Trans-continental)” [4, 24,25].

Như chúng ta biết rằng, Đông Nam Á là một trong những trung tâm nông nghiệp sớm của châu Á. Sinh hoạt nông nghiệp Đông Nam Á thường được phân lập thành hai loại: Cư dân vùng cao và cư dân miền xuôi. Cư dân miền cao trồng các loại hoa màu hợp với vùng đất khô; nhưng họ cũng đã khai phá các sườn đồi, vùng chân núi để làm ruộng bậc thang và phát triển kinh tế rương rẫy. Trong khi đó, nguồn sống chính của cư dân miền xuôi là canh tác lúa nước; do ở vùng ẩm trũng, họ phải sớm đắp đê ngăn nước và dẫn nước vào ruộng theo phương thức “dẫn thủy nhập điền”; do tác động của điều kiện tự nhiên và nhu cầu mà kĩ thuật canh tác phát triển, năng lực tổ chức điều hành trên quy mô lớn; ý thức cộng đồng và cũng cố mối liên kết cộng đồng. Và chính sự phát triển nông nghiệp như vậy đã tạo cơ sở vững chắc cho sự ra đời của nhà nước.

Các mô hình nhà nước Đông Nam Á được xem là một nhà nước chức năng. Nó là một nhà nước có vai trò chủ yếu là quản lí, điều hành sản xuất. “Loại hình nhà nước này có những đặc tính của một thiết chế xã hội dân chủ và thân dân nhưng đồng thời cũng có tính di biến động cao và dễ bị tổn thương” [4, 34]. Đây là một loại hình nhà nước khác biệt so với mô hình nhà nước thống trị của phương Tây, hay là mô hình nhà nước tập quyền, chuyên chế của nhiều xã hội Châu Á. Bởi vì, các mô hình nhà nước như vậy được hình thành dựa trên sự phát triển của nền kinh tế cao và xã hội phân hóa sâu sắc và đấu tranh giai cấp diễn ra gay gắt.

Văn hóa của Đông Nam Á cũng ảnh hưởng sâu sắc đến văn hóa của Việt Nam. Về mặt này, thì nước Việt Nam khi ấy là Đại Việt đã bị chịu tác động mạnh mẽ, đã thừa hưởng và tiếp nhận những giá trị văn hóa của cả hai khu vực Đông Nam Á và Đông Bắc Á. Văn hóa Đông Nam Á chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn minh Ấn Độ với vai trò nổi trội của Bà La Môn giáo, Phật giáo và Hidu giáo… Giá trị tinh thần và đức tín của các tôn giáo đó, trên thực tế đã trở thành “những kênh truyền tải linh nghiệm” nhiều thành tựu rực rỡ của văn minh sông Ấn – sông Hằng đến các quốc gia khu vực. Tuy nhiên, do tác động của môi trường chính trị, mà Đại Việt dưới nhiều góc độ vừa giữ vai trò cầu nối giữa hai thế giới Đông Bắc Á – Đông Nam Á, vừa trở thành một hiện tượng phát triển hết sức đặc thù, một “thực thể lưỡng nguyên” của khu vực và mau chóng trở thành một quốc gia cường thịnh Đông Nam Á. Và cũng từ đây, “Đại Việt đã thực thi một chính sách đối ngoại mềm dẻo, có nguyên tắc với phương Bắc, đồng thời có ý thức mạnh mẽ hơn trong viêc hoàn thiện thể chế quân chủ quan liêu và mở rộng chủ quyền lãnh thổ về phương Nam. Chủ trương này không chỉ nhằm đạt đến một tiềm năng khai thác rộng lớn (bao gồm nguồn nhân lực, thương cảng và tài nguyên…) mà còn để cũng cố an ninh phía nam và lập nên một thế chiến lược phòng thủ có chiều sâu trước những mưu toan chính trị của các đế quốc phong kiến phương Bắc” [4, 35-36].

Như vậy, chính là nằm trong vị trí của vùng Đông Nam Á mà Việt Nam (khi ấy là Đại Việt) đã có những nét tương đồng trên các lĩnh vực chính trị, xã hội, kinh tế và văn hóa so với khu vực. Do đó, văn hóa biển ở Việt Nam nói chung, ý thức biển nói riêng đã được hình thành và tác động mạnh mẽ đến quá trình xác lập chủ quyền biển đảo dưới thời chúa Nguyễn. Vì địa hình của Đại Việt dường như giống với khu vực nên ý thức biển đã tồn tại từ lâu đời đã tác động mạnh mẽ đến quá trình đó.

Văn hóa biển của người Việt xưa và sự kế thừa của chúa Nguyễn

Cùng vị trí lịch sử đã được nêu lên và cho đến hiện nay, Việt Nam là một quốc gia với ba mặt giáp biển thì người Việt ít nhiều gì cũng đã sinh hoạt trong điều kiện biển. Theo giáo sự Ngô Đức Thịnh, “Người Việt không có nguồn gốc biển mà cơ bản là cư dân sống ở vùng trước núi (gôm cả trung du) tràn xuống khai thác đồng bằng lẫy trũng, rồi lấn biển và khai thác biển. Có cái gì gọi là truyền thống biển là do, hoặc giao tiếp, tiếp thu từ các tộc người láng giềng (cư dân Nam Đào) hay hình thành nên trong quá trình khai thác và lấn biển sau này” [6, 91]. Và cũng trong khi “lấn biển” và “nam tiến” thì “chất biển” trong người Việt được tăng lên. Như là người Việt Cổ từ trung du xuống khai thác đồng bằng lẫy trũng sông Hồng rồi tiến ra lấn biển làm nông nghiệp rồi khai thác biển và vì thế mà “quai đê lấn biển” trở thành truyền thống của ngườI Việt Cổ. Cũng có khi người Việt trong quá trình nam tiến đã tiếp nhận truyền thống biển của người Chăm.

Từ thời xa xưa, với những truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơ, truyền thuyết Sơn Tinh Thủy Tinh,… cùng với những hình thuyền và cá khắc trên mặt trống đồng Đông Sơn đã cho thấy từ thuở sơ khai, người Việt Cổ đã quan tâm đến biển. Thời kì này, nghề đánh cá, đánh bắt thủy hải sản đã từng bước hình thành và phát triển trong những giai đoạn sau. Về nguồn gốc người Việt, chính Đại Việt sử kí toàn thư cho rằng: Vương (Lộc Tục, con Đế Minh) lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sanh ra Lạc Long Quân”. Lạc Long Quân – ông tổ của dân tộc Việt, được mô tả thuộc giống Rồng dưới biển, theo truyền thuyết lấy Âu Cơ sinh được 100 người con. Và sau đó 50 người con theo mẹ lên rừng, 50 người con theo cha xuống biển. Điều đó, đã khẳng định rằng, tổ tiên người Việt không những gắn liền với núi non mà còn gắn liền với biển cả. Và những truyền thuyết về sau lại xuất hiện những truyền thuyết khác nhau của người Việt cũng ít nhiều gắn hình ảnh biển. Chử Đồng Tử, một trong só “tứ bất tử” của Việt Nam, “là biểu tượng cho ước muốn xây dựng xã hội ổn định, cân bằng, khoan hòa trong những mối quan hệ xã hội mà trong đó con người trở về với những trạng thái tự nhiên ban đầu của nó trong tình yêu, hôn nhân, đối nhân xử thế, cứu độ chúng sanh, đảm bảo sự trưởng tồn của cộng đồng trong quá trình chinh phục đồng bằng lẫy trũng, phát triển nghành nghề giao lưu buôn bán, mang lại phồn vinh cho cộng đồng” [6, 92].

Một minh chứng rõ ràng và thực tế hơn là hình họa khắc trên trống đồng Đông Sơn. “Trong văn hóa vật thể, nhiều hình tượng thuyền bè được khắc trên trống đồng Đông Sơn cũng cho thấy tổ tiên người Việt từ xa xưa không chỉ gắn bó với sông nước, lấy thuyền làm phương tiện làm ăn sinh sống, mà còn giúp chúng ta đánh giá chính xác trình độ thông thạo nghề biển của người Việt Cổ” [5, 30]. Ngoài ra, các nền văn hóa như văn hóa Sa Huỳnh, văn hóa Ốc Eo thuộc những dân tộc khác nhau trên lãnh thổ Việt Nam cũng đã minh chứng rõ ràng rằng con ngườI Việt Nam đã gắn bó với biển từ rất lâu, một phần là do vị trí địa lí đã tác động đến.

Con người gắn liền với biển, có cuộc sống sinh hoạt với biển, nghành nghề đánh bắt cá và hải sản phát triển. Trong quá trình đi biển, người ta luôn tôn kính, tục cá Voi (cá Ông) hình thành. Người ta xem cá voi là biểu tượng của một vị thần, một “con người” biết sống bao dung, nhân ái, giúp đỡ cộng đồng khi gặp hoạn nạn. Kiểu quan điểm đó dường như đã làm cho mối quan hệ giữa người và thần gần gũi hơn và quan điểm huyền bí của họ cũng được lý giải một cách hiện thực hơn. Sự tôn sùng và chôn cất xác cá Ông được tấp vào bờ dường như là một sự trả ơn mang màu sắc huyền bí nhưng đồng thời cũng phù hợp với đạo lý “nhớ ơn” của người Việt. Tục thờ cá Ông quả thật là một trong những biểu hiện của tín ngưỡng dân gian độc đáo không thể thiếu được của cư dân ven biển Việt Nam.

Chính những yếu tố về văn hóa biển của cha ông đã góp phần vào nhận thức của chúa Nguyễn về biển và xa hơn nữa là về đảo. Trong những năm thống lĩnh vùng Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng vừa lo chống lại những cuộc chinh phạt của Lê-Trịnh từ Đàng ngoài, nhưng chủ yếu là lo củng cố quyền lực và mở nước về phương Nam. Vì thế tầm nhìn hướng biển của Nguyễn Hoàng, do những điều kiện khách quan quy định, còn rất hạn hẹp. Nhưng người kế vị ông, chúa Nguyễn Phúc Nguyên, không chỉ kế tục xuất sắc hai hướng hành động của Chúa cha, mà còn vượt lên bằng tầm nhìn hướng biển mang tính chiến lược. Sự kế thừa của truyền thống biển, văn hóa biển của người Việt được thể hiện rõ nét qua từng hoạt động của các chúa Nguyễn. Đó là những hành động như xây thành, chống giặc biển, lập đội Hoàng Sa. Chính những hoạt động này đã thể hiện sự kế thừa và phát huy văn hóa biển của người Việt. Đồng thời, việc phát triển kinh tế biển, ngoại thương dưới thời này cũng là một sự kế thừa, đưa yếu tố biển tiếp tục vào đời sống.

Đây là cơ sở văn hóa hình thành nên quá trình xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam dưới thời chúa Nguyễn từ thế kỉ XVII – XVIII. Vì chúa Nguyễn đã dần dần hình thành được tư duy hướng biển thông qua chính những tính chất chính trị trong nước, kế thừa và phát huy truyền thống biển của tổ tiên và đều đó đã thúc dục họ càng hướng biển và khai thác, xác lập vùng biển. “Biết đến biển, người Việt Nam dần dần biết đến đảo. Cũng từ đó, ngườI Việt Nam biết khai thác các nguồn lợi từ đảo, từng bước xác lập và thực hiện chủ quyền đối với đảo để bảo vệ và khai thác tiềm năng phục vụ cho nhu cầu ổn định và phát triển đất nước” [5, 31].

Như vậy, những ảnh hưởng của văn hóa biển của người Việt xưa đã tác động mạnh mẽ và góp phần đưa đến sự hình thành tư duy hướng biển của chúa Nguyễn. Đồng thời, cùng với những yếu tố chính trị cũng là những cơ sở hình thành trực tiếp dẫn đến quá trình xác lập biển đảo. Những yếu tố chính trị đó là cuộc nội chiến trong nước, cuộc nam tiến được kế thừa từ tổ tiên, ông cha để lại.

Các cuộc chống quân xâm lược bằng thủy binh, cuộc nam tiến của người Việt và những kế thừa của chúa Nguyễn.

Như đã nói ở trên, Đại Việt (trước là Văn Lang, Âu Lạc) là một “thực thể lưỡng nguyên” của khu vực và mau chóng trở thành một quốc gia cường thịnh Đông Nam Á. Và cũng từ đây, “Đại Việt đã thực thi một chính sách đối ngoại mềm dẻo, có nguyên tắc với phương Bắc, đồng thời có ý thức mạnh mẽ hơn trong viêc hoàn thiện thể chế quân chủ quan liêu và mở rộng chủ quyền lãnh thổ về phương Nam. Chủ trương này không chỉ nhằm đạt đến một tiềm năng khai thác rộng lớn (bao gồm nguồn nhân lực, thương cảng và tài nguyên…) mà còn để cũng cố an ninh phía nam và lập nên một thế chiến lược phòng thủ có chiều sâu trước những mưu toan chính trị của các đế quốc phong kiến phương Bắc” [4, 35-36]. Theo dó, chúng ta thấy rằng với vị trí như vậy, cộng thêm vị trí chiến lược của Biển Đông thì đất nước ta luôn bị các thế lực hùng mạnh dòm ngó và lâm le xâm lược. Đồng thời, công cuộc nam tiến của người Việt cũng dựa trên tình hình chính trị từng thời mà tiến hành. Cùng với đó, những quan tâm về biển thuở sơ khai cũng được hình thành. Đây là nền tảng, là cơ sở cho quá trình xác lập biển đảo dưới thời chúa Nguyễn từ thế kỉ XVII – XVIII.

Theo nhiều tài liệu lịch sử để lại, từ thời Hùng Vương trải về sau, lực lượng thủy quân đóng vai trò song song với lực lượng trên đất liền chống lại các thể lực xâm lược bờ cõi. “Thủy quân Lạc Việt xưa cũng đã từng xếp vào bậc nhất nhì ở Đông Nam Châu Á khi có những trận thủy chiến oanh liệt chống lại các thể lực xâm lược như: chống giặc Quỳnh Châu ở phía Bắc, diệt Hồ Tôn từ phía Nam thời Hùng Vương; chặn đánh Trần Bá Tiên ở sông Tô Lịch, hồ Điển Triệt, đằm Dã Trạch thời Lý Nam Đế; đánh quân Đường, vây thành Đại La thời Mai Thúc Loan…” [5, 30]. Và cứ như thế, đến đời chúa Nguyễn cũng đã nổ ra những cuộc kháng chiến trên biển như cuộc thủy chiến lịch sử vào năm 1644. Đó là ngày 7/7/1644, đoàn thủy binh ta do thế tử Nguyễn Phúc Tần cầm đầu, tiến thẳng ra biển Đông, vây đánh đoàn thuyền Hà Lan do Baek chỉ huy. Khi đối đầu với đoàn thủy binh của ta, quân Hà Lan quá hoảng sợ, chống cự không nổi, phải bỏ chạy ra khơi. Trong tình thế hoảng loạn, quân địch tự phóng lửa đốt cháy tàu Wijdenes, tướng Baek chết theo tàu. Binh lính trên tàu sống sót chìm xuống biển, bị quân Nguyễn vớt lên và tiêu diệt. Từ xa, các chiến thuyền khác của Hà Lan thấy chiến thuyền của Phúc Tần nổ súng vang trời, không dám tiến đến sông Gianh nữa, chúng chạy ra trốn ra đảo xa.

Bên cạnh những cuộc kháng chiến chống ngoại xâm từ đường biển, bước độc lập, tự chủ, các triều đại phong kiến vừa tập trung phát triển kinh tế có khi dựa vào biển, vừa xây dựng đội thủy binh, xác định hải phận… “Canh Dần, /Hưng Thống/ năm thứ 2 [năm 990] (Tống Thuần Hoá năm thứ 1). Nhà Tống sai Tả chính ngôn là Tống Cảo, Hữu chính ngôn là Vương Thế Tắc mang chế sách sang phong thêm cho vua hai chữ là “Đặc tiến”. Vua sai Nha nội chỉ huy sứ là Đinh Thừa, Chính đem 9 chiếc thuyền dẫn 300 người đến quân Thái Bình đón, theo cửa biển mà vào, nửa tháng đến sông Bạch Đằng, theo nước triều mà đi. Mùa thu, tháng 9, đến trạm Nại Chinh ở Trường Châu. Vua ra ngoài giao để đón, bày thủy quân và chiến cụ để khoe. Vua cầm cương ngựa cùng đi với sứ thần” [3, 144]. Từ đó, chúng ta thấy rằng, triều Tiền Lê đã quan tâm và kiểm soát vùng biên giới trên đất liền và vùng biển, xác định hải phận ban đầu của biển đảo Việt Nam. Đến thời Lý, vua Lý Anh Tông được xem là vị vua tuần biển đầu tiên. “Nhâm Thìn, [Chính Long Bảo Ứng] năm thứ 10 [năm 1172], (Tống Càn Đạo năm thứ 8). mùa xuân, tháng 2, vua lại đi tuần các hải đảo ở địa giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật rồi về” [3, 246]. Ngoài ra, các vua nhà Lý còn cho xây dựng thủy binh. Thủy binh Đại Việt rất hùng mạnh, thủy binh có rất nhiều các loại chiến thuyền khác nhau như thuyền mông đồng, lâu thuyền, thuyền hai lòng (lưỡng phúc thuyền – cũng có thể hiểu là có hai đáy). Khi giao chiến, thuyền “Mẫu tử” được chèo nhanh lao mạnh vào thuyền đối phương khiến cho đinh nhọn cắm ở thuyền giả đâm vào thuyền đối phương, sau đó đốt chất cháy trên thuyền giả, rồi rút thuyền thật ra khỏi thuyền giả. Thuyền giả bị cháy sẽ đốt luôn thuyền đối phương.

Đó là những cơ sở ban đầu cho việc xác định quyền chủ quyền trên biển của Đại Việt. Hầu hết các triều đại phong kiến chỉ dựa vào biển để khai thác kinh tế. Đến thời Lê Sơ với Lê Thánh Tông, Hoàng Sa và Trường Sa là hai quần đảo đã được vị vua này đưa vào bản đồ Đại Việt, “Hồng Đức bản đồ” vào năm 1490. Sự hiện diện của Hoàng Sa và Trường Sa trong Hồng Đức Bản Đồ cho thấy trước đó hai quần đảo này đã thuộc chủ quyền của Đại Việt và nhà Hậu Lê sau khi chiến thắng quân Minh đã hết sức quan tâm tới việc xác lập biên giới quốc gia, khẳng định chủ quyền lãnh thổ trong đó có vùng biển, đảo.

Sự xác lập biển đảo Việt Nam cũng dựa trên cuộc nam tiến của các triều đại phong kiến về phía Nam, mà đối tương ở đây chính là nước Champa (Chiêm Thành). Champa là một quốc gia phía nam Đại Việt, có nguồn gốc từ Văn hóa Sa Huỳnh, được thành lập vào những thế kỉ đầu công nguyên. “Cư dân Champa là tộc người có truyền thống thương mại, cho nên thương mại là nền tảng kinh tế của Vương quốc Chămpa. Sản vật, hàng hóa, thị trường có sức hấp dẫn đối với những người có quyền lực ở những tiểu quốc Chămpa. Cho nên, họ sẵn sàng ra đi với gia sản gọn nhẹ trên chiếc thuyền buôn, để tìm thị trường ổn định hơn khi tình hình chiến tranh, quân sự không còn thuận lợi cho thế nghiệp kinh doanh của họ” [5, 33]. Theo đó, một điều là chúng ta thấy, chính do cuộc nam tiến đã giúp chúa Nguyễn một phần nào trong việc phát triển ngoại thương Đàng Trong – một cơ sở dẫn đến quá trình xác lập chủ quyền biển đảo dưới thời chúa Nguyễn. Và theo nhiều tài liệu khác nhau thì người Chămpa nói riêng, các tộc người Mã Lai – Đa Đảo “những nhóm người đầu tiên biết đến và đặt chân lên khai phá hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa giữa Biển Đông trong quá trình di cư của mình”[5, 31]. Bằng nhiều biện pháp khác nhau, hoặc là hòa bình (trong đó có hôn nhân lịch sử), hoặc là chiến tranh (đem quân phản kháng hay đem quân chiếm giữ) của các triều đại Phong kiến Đại Việt, lãnh thổ tiếp tục được mở rộng về phía Nam. Đến cuối thời chúa Nguyễn, công cuộc nam tiến đã chấm dứt với lãnh thổ Đại Việt khi đó bao gồm các tỉnh Nam Bộ ngày nay. Các cuộc di dân vào những vùng đất mới, kết hợp với những dân tộc địa phương để phát triển mọi mặt, tăng cường xây dựng toàn bộ Đàng Trong ngang tầm với Đàng Ngoài.

Riêng đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Truờng Sa, từ thời Trần đã thuộc quyền quản lí của Đại Việt. Sau cuộc hôn nhân lịch sử giữa Chế Mân và công chúa Huyền Trân (đời Trần, thế kỉ XIV), hai châu Châu Ô, Châu Lý đã được vua Chămpa trao “sánh lễ” cho Đại Việt. Tương ứng với vùng lãnh thổ trên đất liền, vùng Biển Đông nói chung, vùng quần đảo Cát Vàng (Hoàng Sa) nói riêng cũng đã thuộc sự quản lí của Đại Việt. Tới đầu thế kỉ XV, dưới triều Hồ, khi Hồ Quý Ly mang quân tiến đánh Chămpa, vua nước này dâng đất Chiêm Động (phủ Thăng Hoa, nay thuộc Quảng Nam) và Cổ Lũy (nay thuộc Quảng Ngãi) cho Đại Ngu (quốc hiệu mới đổi từ thời Hồ Quý Ly). Nhà Hồ đổi thành các châu: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đặt lộ Thăng Hoa thống hạt 4 châu. Do đó, quần đảo Trường Sa ngày nay đã thuộc sự quản lý của Đại Việt từ đó tới nay. Chính sự xác lập trên đất liền như vậy, dẫn đến sự quản lí vùng biển theo chiều ngang hướng ra biển như vậy đã tạo nên cơ sở cho các chúa Nguyễn sau này khi xác lập vùng biển, hai quần đảo ngoài biển khơi.

Như vậy, công cuộc kháng chiến bằng con đường biển, công cuộc nam tiến của người Việt xưa đã được chúa Nguyễn kế thừa và phát triển mạnh mẽ, làm cơ sở cho quá trình xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam thế kỉ XVII – XVIII. Do đó, càng tiếp xúc với biển, tư duy hướng biển của chúa Nguyễn càng phát triển. Từ đó, đưa ra những chính sách phát triển mạnh mẽ đối với đất nước trên mọi lĩnh vực.

Sự phát triển của ngoại thương Đàng Trong – một cơ sở quan trọng

Trong các lĩnh vực kinh tế mà chúa Nguyễn xây dựng ở Đàng Trong thì ngoài nông nghiệp và thủ công nghiệp ra, nền thương nghiệp đang dần được xem trọng và đạt mức phát triển cao. Về nông nghiệp, “đất đai màu mỡ và sinh lợi… mỗi năm họ gặt ba lần, thu được lượng thóc lúa dồi dào đến mức không phải làm gì thêm để kiếm sống. Mỗi vùng đều có đặc sản riêng: hồ tiêu ở Hà Tiên, mía ở Bình Thuận và Quảng Nam, bông ở Quảng Ngãi, quế ở Quy Nhơn, Thăng Hoa, Điện Bàn… Những đặc sản này cũng trở thành thương phẩm của Đàng Trong trao đổi với lái buôn nước ngoài” [1, 144]. Bên cạnh những nghành nghề thủ công truyền thống như: gốm, dệt vải, mía đường,… các nghề khác làm giấy, rèn sắt, đúc đồng, dệt chiếu, làm nón… cũng có những bước phát triển.

Chính những phát triển nông nghiệp và thủ công nghiệp, thương nghiệp đang phát triển một bước so với trước đây, nhất là ngoại thương. “Các chúa Đàng Trong không đóng cửa với một quốc gia nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người ngoại quốc, người Hà Lan cũng tới như những người khác, cùng với tàu chở rất nhiều hàng hóa của họ. Phương chăm của người Đàng Trong là không bao giờ tỏ ra sợ một quốc gia nào trên thế giới” [1, 145]. So với các triều đại phong kiến trước đây, thì ngoại thương Đàng Trong “phát triển rực rỡ” vì “do tác động của luồng thương nghiệp thế giới và các nước trong khu vực, do yêu cầu xây dựng tiềm lực kinh tế – quân sự – chính trị lớn mạnh để mưu định nghiệp lớn, chúa Nguyễn trước tiên là Nguyễn Hoàng, sau đó được kế tục bởi chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã thực thi một chính sách ngoại thương “mở cửa”. Sẵn sàng mời gọi thương nhân nước ngoài đến đầu tư buôn bán” [1, 145].

Trong giai đoạn này, trên bình diện quốc tế đang diễn ra “kỷ nguyên đại thương”. “Kỷ nguyên đại thương” được xác định trong khoảng giữa thế kỉ XV đến khoảng cuối thế kỉ XVII. Đó là một thời kì mà nền thương mại thế giới phát triển mạnh mẽ. Đến thế kỉ XVII, các cường quốc hải thương mới trỗi dậy, đặc biệt là sự thành lập của Công ty Đông Ấn Anh (EIC) năm 1600, Công ty Đông Ấn Hà Lan (VOC), rồi Công ty Đông Ấn Pháp (CIO) năm 1602. Mối giao thương truyền thống Đông Á từ giữa thé kỉ XVI đã bị phá vỡ với sự thâm nhập của người Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha. “Trước thế kỉ XV, nhiều quốc gia trong khu vực Đông Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Xiêm La… đã có nền thương mại phát đạt. Các quốc gia Đông Á đã tự thiết lập nên mạng lưới giao thương Nội Á. Bước sang thế kỉ XVI, tình hình kinh tế bắt đầu có những chuyển biến căn bản bởi sự thâm nhập của các nước phương Tây. Sự xuất hiện của người Châu Âu và quá trình thâm nhập của công ty Đông Ấn phương Tây đã gây nên nhiều biến động xã hội cũng như quan hệ truyền thống chung của khu vực” [4, 107]. Cùng với thời gia, người Bồ Đào Nha phải dần nhường chân cho các nền hải thương hùng mạnh, và với sức mạnh của mình, VOC và EIC đã thay đổi diện mạo gấp nhiều lần so với các nước Châu Âu “già nua”. Đây là một thời gian được xem xu thế toàn cầu hóa lần thứ nhất. [4, 255] Sự chủ động tham gia vào “kỷ nguyên đại thương” thế giới đã giúp cho Đàng Trong nhanh chóng tạo thế cân bằng với Đàng Ngoài. Đồng thời, so với các quốc gia trong khu vực, “vào thời kì này, số thuyền tới buôn bán với Đàng Trong đầu thế kỉ XVII vượt xa số thương thuyền với Xiêm và Cao Miên, là một trong các đối tác thương mại hàng đầu trong các nước Đông Nam Á với Nhật Bản” [2, 85].

“Một số nghiên cứu đã chỉ ra khá rõ “thế tương tác quyền lực khu vực” của chính quyền Đàng Trong. Theo đó, chính quyền Đàng Trong được nhìn nhận là một chính quyền mở, nắm chủ động trong thế ứng đối với bên ngoài, trở thành một “thể chế biển”. Chính điều kiện đó đã cũng cố vững chắc cho chính quyền họ Nguyễn, mặt khác tạo điều kiện cho kinh tế ngoại thương phát triển rực rỡ hơn bao giờ hết – một yếu tố mà theo Lita là vấn đề sống còn đối với Đàng Trong” [4, 253]. Và chúng ta thấy rằng, Đàng Trong thật sự đã thay đổi, biến mình thành một thế lực nổi lên trong khu vực về tiềm lực hải thương, quân sự.

Sự thay đổi như vậy là do sự tác động mạnh mẽ về mặt chính trị. Vốn xuất phát từ tư tưởng quan phương chính thống Nho giáo nên vấn đề đối ngoại với Thiên triều Trung Hoa không được đặt ra với các “tổng trấn tướng quân” họ Nguyễn. Đồng thời việc Nguyễn Hoàng vào nam trấn thủ vùng Thuận Hóa diễn ra trên quy mô không gian và thời gian hết sức đặc biệt. “Do vậy, những gì gọi là hạn chế, lực cản mang tính truyền thống đã bị thay thế bởi xu thuế mới của thời đại. Chính điều này chi phối đến khuynh hướng đối ngoại của chính quyền Đàng Trong” [4, 252-253]. Cho nên khi Nguyễn Hoàng trở vào Nam năm 1600, trên cơ sở tham khảo, suy tính đến nhiều mặt khác, nhất là về tài lực và vật lực (các nguồn tài nguyên tài nguyên) để có thể nâng cao sức mạnh của Đàng Trong, Nguyễn Hoàng đã “tìm thấy giải pháp cho suy tính của ông trong việc đẩy mạnh nền thương mại với các thương gia nước ngoài” [2, 87].

Với những điều như trên, ngoại thương Đàng Trong của chúa Nguyễn phát triển mạnh mẽ so với các đời trước. Ngoài thương nhân Trung Quốc, “Ở Hội An có đến 6000 Hoa Kiều mà phần lớn là các lái buôn giàu có, vừa mua bán hàng hóa, vừa làm môi giới cho khách phương Tây, giữ các chức vụ trong tàu ti…”, còn có những chính sách khuyến khích thương nhân Nhật Bản và “chưa có nơi nào trên đất Châu Á mà thương điểm của người Nhật có quy mô và năng lực hoạt động có hiệu quả như thương điểm đặt tại Hội An”. Bên cạnh các đối tác thương nhân ở trong khu vực phương Đông, chúa Nguyễn còn tạo điều kiện thuận lợi cho các thương nhân phương Tây. Đối với Đại Việt, phương Tây là một khu vực mới, họ đem hàng hóa đến trao đổi mua bán. Và cũng chính vì vậy, kitô giáo đang tiềm ẩn hình thành. Chính sự phát triển của kinh tế ngoại thương đã đưa Đàng Trong đạt mức phát triển tương đối. Về việc bố trí hải cảng, theo Borri thì: “các hải cảng thì thật lạ lùng, chỉ trong khoảng hơn 1000 dặm một chút mà người ta đếm được hơn sáu mươi hảng cảng, tất cả đều rất thuận tiện để cập bến và lên đất liền. Là vì ở ven bờ có rất nhiều nhánh biển lớn” [4, 254]. Bến cảng Hội An được xem là nơi hội tụ lớn của thuyền buôn nước ngoài.

Như vậy, chính sự phát triển mạnh mẽ của ngoại thương Đàng Trong trong thời kì này đã là một trong những cơ sở hình thành quá trình xác lập chủ quyền biển đảo. Bởi vì, khi ngoại thương được xem trọng thì việc quan tâm đến biển sẽ được đẩy mạnh rất nhiều. Các nước trong khu vực cũng như trên thế giới đều lui tới đây để buôn bán, trao đổi. Chính những phát triển như vậy, mà việc hỗ trợ các thuyền buồn gặp nạn khi lui tới “Bãi Cát vàng”, chúa Nguyễn và những bề tôi dễ dàng cứu sống, trục vớt tài sản, bởi vì dường như sự thông thạo đường biển đã được hình thành qua ngoại thương.

Tóm lại, việc họ Nguyễn dựng nghiệp Đàng Trong cùng với những điều kiện, cơ sở (điều kiện tự nhiên, văn hóa, chính trị-xã hội, kinh tế) từ lâu đời nay và sự kế thừa, phát huy của chúa Nguyễn trong thời kì lúc bấy giờ đã góp phần hình thành nên quá trình xác lập chủ quyền biển đảo Việt Nam từ thế kỉ XVII – XVIII.

[1] Dương Thị Huyền (2010), Chính sách giao thương cởi mở của chúa Nguyễn ở Đàng Trong (thế kỉ XVI – XVIII), Tạp chí Khoa học và công nghệ, số 112 (12)/1.

[2] Li Tana (1999), Xứ Đàng Trong: Lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỉ XVII và XVIII, NXB Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Ngô Sĩ Liên và các ửu thần triều Lê (2013), Đại Việt Sử kí toàn thư, (Cao Huy Giu dịch), NXB Thời đại, Hà Nội.

[4] Nguyễn Mạnh Dũng (2013), Việt Nam trong quá khứ – Tư liệu và nghiên cứu, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.

[5] chúng tôi Trương Minh Dục (2014), Chủ quyền quốc gia Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – qua tư liệu Việt Nam và nước ngoài, NXB Thông tin và truyền thông.

[6] Trần Thị Mai An (2010), Phác thảo yếu tố biển trong văn hóa Việt Nam, Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Đà Nẵng, số 6(41).