Top 20 # Xem Nhiều Nhất Vì Sao Nokia Thất Bại / 2023 Mới Nhất 11/2022 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Vì Sao Nokia Thất Bại? Bài Học Rút Ra Từ Sự Thất Bại Của Nokia / 2023

Nếu chúng ta có thể quay ngược thời gian  vào đầu những năm 2000 và tiến hành một cuộc khảo sát trên thị trường điện thoại di động, bạn sẽ nhận được một số tiết lộ gây sốc. Một công ty chỉ tranh giành 1% thị phần trong ngành công nghiệp smartphone ngày nay gần như đồng nghĩa với cả thị trường điện thoại di động cách đây vài thập kỷ. Nghĩa là, vào khoảng những năm 2000, Nokia đã thống trị thị trường điện thoại di động và Nokia giống như một biểu tượng của điện thoại di động như Grab – biểu tượng của thị trường xe ôm công nghệ.

Có rất nhiều bạn sinh ra vào giai đoạn những năm 1990 – 2000, Nokia là chiếc điện thoại đầu tiên của họ. Nó trở thành thương hiệu bán chạy nhất và là một cái tên quen thuộc trong vòng một thập kỷ. Nokia phục vụ cho mọi thành phần trong xã hội bằng cách thiết kế các mẫu mã khác nhau với giá cả đa dạng. Vào thời điểm đó, Nokia là người dẫn đầu về sự đổi mới trong thời kỳ đầu của thị trường điện thoại di động.

Nhưng thời hoàn kim của thương hiệu sản xuất “điện thoại cục gạch” này đã qua đi vào thời điểm xuất hiện điện thoại thông minh – smartphone. Doanh số bán hàng của Nokia giảm đến mức không còn lựa chọn nào khác ngoài việc bán bộ phận điện thoại di động của mình.

Sự trỗi dậy của Nokia

Nokia xuất phát điểm là một nhà máy sản xuất bột giấy trước khi trở thành một gã khổng lồ trong lĩnh vực viễn thông, Nokia đã leo lên những nấc thang thành công không giống với bất kỳ một công ty di động nào khác.

Năm 1992, Nokia tung ra điện thoại GSM đầu tiên trên thế giới: Nokia 1011. Năm 1998, công ty vượt qua Motorola và trở thành công ty điện thoại di động bán chạy nhất. Tuy nhiên, chuỗi thành công vẫn chưa kết thúc. Vào thời kỳ đỉnh cao, vào năm 2007, thị phần trên toàn thế giới của Nokia là 49,4%, cao nhất trên thế giới. Nó hiểu rõ ngành công nghiệp di động và cho đến ngày nay, không có công ty nào có thể đạt được những đỉnh cao thành công như vậy.

Tuy nhiên, đằng sau tấm rèm, một thứ khác đang được ủ. Sự sụp đổ của Nokia đã bắt đầu từ trước năm 2007. Nguyên nhân của sự sụp đổ bắt đầu từ ban lãnh đạo cao nhất, kéo theo đó là sự sụp đổ hàng loạt giống như những quân cờ domino, từng cái một, mọi thứ đều đi xuống.

Lộ trình thất bại của Nokia

Sau khi thống trị ngành công nghiệp di động trong hơn một thập kỷ, doanh số của Nokia đã đi xuống từ năm 2010. Đó là kết quả của cả sự đổ vỡ bên trong nội bộ và thị trường bên ngoài tác động.

Thay đổi trong Ban lãnh đạo hàng đầu: Năm 2006, Jorma Ollila được thay thế bởi Olli-Pekka Kallasvuo làm Giám đốc điều hành. Ban lãnh đạo mới đã hợp nhất điện thoại thông minh Nokia và các hoạt động điện thoại cơ bản, họ tập trung nhiều hơn vào điện thoại truyền thống hơn là thử nghiệm công nghệ mới.

Sự xuất hiện của các công ty mới

Năm 2007, Apple bước vào cuộc chơi điện thoại thông minh và tung ra chiếc iPhone mang  biểu tượng apple. Nokia từ chối coi Apple là mối đe dọa đối với doanh số bán hàng cao của họ. Về cơ bản đội R&D Nokia cũng coi điện thoại Apple kém hơn vì chúng chạy trên công nghệ 2G trong khi điện thoại di động của Nokia chạy trên công nghệ 3G. Năm 2008, Google ra mắt Hệ điều hành (OS) Android. Vào thời điểm này, iOS của Apple đã trở nên phổ biến và doanh số bán hàng của nó đang tăng đều đặn. Để giải quyết mối đe dọa, Nokia lẽ ra nên chuyển sang Android, nhưng hãng đã không làm như vậy và tiếp tục sản xuất điện thoại với hệ điều hành Symbian lỗi thời.

Sự chậm trễ trong việc phát hành điện thoại mới

Năm 2010, Nokia công bố N97, đây sẽ là phiên bản đầu tiên chạy Symbian. Nhưng việc phát hành đã bị trì hoãn và kết quả là nó không thể cạnh tranh với Apple và Google đang trên đà tăng trưởng. Năm 2010, Olli-Pekka Kallasvuo bị sa thải khỏi vị trí Giám đốc điều hành và Stephen Elop, từ Microsoft, thay thế vị trí của ông.

Hợp tác với Microsoft: Năm 2011, để đối phó với thị phần đang sụt giảm, Nokia đã hợp tác với Microsoft để sản xuất điện thoại Windows, từ bỏ các hệ điều hành cũ như Symbian và MeeGo. Vào năm 2012, điện thoại Windows đã không tạo được ảnh hưởng trên thị trường điện thoại thông minh vốn đã có tên tuổi. Lý do chính đằng sau điều này là một số ứng dụng trên cửa hàng windows so với cửa hàng Google’s Playstore và cửa hàng Apple. Mua lại bởi Microsoft: Năm 2014, Nokia suýt bị phá sản. Nhưng Microsoft đã bước vào và mang về cho Nokia 7,2 tỷ USD. Đây được nhiều người coi một phút huy hoàng trước khi bị dập tắt.

Lý do Nokia thất bại

Không thích ứng được

Mặc dù biết rằng có nhiều nhu cầu về phần mềm hơn là phần cứng, nhưng Nokia vẫn mắc kẹt với cách làm cũ của họ và không thích ứng với sự thay đổi của môi trường công nghệ. Khi Nokia cuối cùng nhận ra sai lầm của họ, thì đã quá muộn, vì mọi người đã chuyển sang điện thoại của Android và Apple.

Không đổi mới được

Nokia là công ty đầu tiên giới thiệu điện thoại 3G, điện thoại có camera và nhiều công nghệ cải tiến hơn. Vào đầu những năm 2000, họ biết rằng đổi mới là chìa khóa để duy trì sự phù hợp và vượt qua ranh giới của công nghệ. Nhưng khi nhu cầu về điện thoại của họ tăng lên, sự tập trung của họ chuyển sang sản xuất, để đáp ứng những nhu cầu đó. Nó tập trung ít hơn vào đổi mới mà nhiều hơn vào sản xuất hàng loạt và kết quả là các công ty như Samsung, Apple, HTC, v.v., bắt đầu giành được một số thị trường với hệ điều hành sáng tạo và đơn giản của họ.

Không tự định vị lại được

Nokia lẽ ra phải phân tích xu hướng thị trường và định vị cho mình một chỗ đứng phù hợp và vững chắc. Nhưng Nokia đã không làm được như vậy, họ đã quá xem nhẹ đối thủ, tự thưởng trên chính chiến thắng của mình, Nokia đã không tập trung vào thị trường điện thoại thông minh và bỏ lỡ cơ hội. Nokia có thể đã cải tiến phần mềm hiện có của họ: Symbian.

Quá tự tin

Ban lãnh đạo cao nhất của Nokia nghĩ rằng không có gì có thể xảy ra sai sót cho đến khi nó xảy ra. Các công ty mới đến với những ý tưởng và công nghệ mới, thay vì nghiên cứu về sự thay đổi và tìm ra hướng đi riêng cho mình nhưng Nokia đã làm ngơ với họ. Họ không coi ai là đối thủ của mình. Chính trong sự tự tin thái quá và thiếu hiểu biết này, Nokia đã thất bại.

Thay đổi cơ cấu tổ chức

Có vấn đề nội bộ

Alastair Curtis, nhà thiết kế chính của Nokia từ năm 2006 đến năm 2009 cho biết: “Chúng tôi đã dành nhiều thời gian để đấu tranh chính trị hơn là thiết kế. Nhiều bộ phận trong công ty chưa phối hợp nhịp nhàng với nhau, chính sự thiếu phối hợp này đã tạo ra nhiều vấn đề hơn, kèm theo đó cạnh tranh nội bộ ở những lãnh đạo cao nhất. Tuy tác động của những vấn đề này không trực tiếp nhưng nó đóng một vai trò nhất định trong sự sụp đổ của Nokia.

Không thể cạnh tranh trên thị trường điện thoại thông minh

Trong khi các công ty như Samsung, Apple, HTC đang sản xuất điện thoại sử dụng phần mềm tân tiến, thì Nokia vẫn tập trung vào điện thoại truyền thống. Nó đã cố gắng cạnh tranh bằng cách phát hành N97 với hệ điều hành Symbian mới, nhưng đã quá muộn khi điện thoại Android và điện thoại Apple đã được thành lập.

Nhầm lẫn HĐH Symbian Vs MeeGo OS

Bộ phận R&D của công ty được chia thành hai. Một người đang làm việc để cải tiến Symbian và người kia trên MeeGo. Cả hai đội đều khẳng định rằng phần mềm của họ tốt hơn. Sự cạnh tranh này dẫn đến sự chậm trễ trong việc phát hành điện thoại mới.

Thường xuyên thay đổi quản lý

Không thể chuyển sang Android

Nokia đã có cơ hội bắt tay với Google và sản xuất điện thoại Android nhưng đã từ chối. Đây là một trong những sai lầm lớn nhất của Nokia. Hệ điều hành Android đơn giản, nhanh hơn và có một bộ sưu tập ứng dụng tuyệt vời trên cửa hàng của nó, điều này đã khiến nó trở nên rất phổ biến. Nếu Nokia chuyển sang Android kịp thời, câu chuyện của họ đã khác.

Ra quyết định chậm

Ban lãnh đạo cao nhất đã mất quá nhiều thời gian để đưa ra quyết định. Frank Nuovo, cựu phó chủ tịch và nhà thiết kế chính đã rời công ty vào năm 2006. Ông nói rằng ban lãnh đạo đã chậm đưa ra các quyết định đòi hỏi sự khẩn cấp. Nhiều cơ hội đã bị mất do điều này. Trước khi phát hành iPhone, bộ phận nghiên cứu của Nokia đã đưa ra ý tưởng. Nhưng vì văn hóa doanh nghiệp đang thịnh hành, nó không bao giờ nhìn thấy ánh sáng trong ngày.

Hợp tác với Microsoft

Năm 2011, Nokia tuyên bố hợp tác với Microsoft. Họ sẽ sản xuất điện thoại thông minh chạy cửa sổ, không hoạt động trên thị trường do thiếu ứng dụng trong cửa hàng Windows. Nokia đang trên bờ vực phá sản, nhưng Microsoft đã mua lại bộ phận thiết bị di động của Nokia vào năm 2014 với giá 7,2 tỷ USD.

Kết luận

Cho đến ngày nay, Nokia vẫn tồn tại, không còn huy hoàng như trước đây. Nhưng Nokia vẫn đang cố gắng lấy lại bằng cách không lặp lại những sai lầm của quá khứ.

Nokia tập trung vào thiết bị mạng thông qua Nokia Networks, sau khi bán bộ phận điện thoại di động vào năm 2014. Nokia Networks có hoạt động tại hơn 150 quốc gia, kinh doanh cơ sở hạ tầng mạng không dây và cố định, các nền tảng dịch vụ mạng và truyền thông cũng như các dịch vụ chuyên nghiệp. Xếp hạng của Nokia về cơ sở hạ tầng viễn thông toàn cầu là thứ 5 vào năm 2018 và nó đang mở đường để dẫn đầu.

Vào năm 2016, Microsoft đã bán bộ phận điện thoại di động của Nokia với giá 350 triệu đô la cho HMD Global, một công ty bao gồm các giám đốc điều hành trước đây của Nokia.

Vào năm 2017, HMD Global đã phát hành một chiếc điện thoại thông minh chạy Android với thương hiệu Nokia. Điện thoại Android mang nhãn hiệu Nokia của công ty đã được khán giả đón nhận nồng nhiệt. Tuy nhiên, xét đến thế thời hiện tại thì còn lâu mới có thể bắt kịp các đối thủ hiện tại là Apple, Samsung, Sony.

Bài viết được tổng hợp từ trang FEEDOUGH – Chấp cánh cho những Start-up

Mọi thông tin chi tiết vui lòng liên hệ

Email: jobbie@gmail.com 

Website: JOBBIZE.COM

Fanpage: facebook.com/jobbize

Nokia: Không Làm Gì Sai Nhưng Vì Sao Vẫn Thất Bại? / 2023

Trong cuộc sống sẽ có những lúc bạn vấp ngã, gặp phải những khó khăn và bạn bảo thủ cho rằng: mình không làm gì sai nhưng vì sao vẫn thất bại? Sự thất bại của Nokia do đâu? Phải chăng do tác động của yếu tố khách quan hay chính nội tại của họ?

Nokia không làm gì sai nhưng họ vẫn thất bại

Chúng ta cùng nhớ lại, trong một bài diễn thuyết hồi năm 2013, CEO của Nokia đã nói: Chúng tôi không làm gì sai cả nhưng bằng cách nào đó, chúng tôi vẫn thất bại” Bài phát biểu đặt ra trong bối cảnh thương hiệu Nokia sẽ bị Microsoft mua lại. Sau những lời phát biểu của ông, tất cả nhân viên đều nghẹn ngào nước mắt, sự tiếc nuối thể hiện rõ trên khuôn mặt của họ.

Bài học cho bạn và các nhà kinh doanh từ Nokia

Tất cả chúng ta đều có thể thấy, thế giới đang biến đổi, công nghệ thông tin bùng nổ dữ dội. Vì vậy mà bạn phải tìm cách để bắt kịp với sự thay đổi đó. Họ đã lỡ các cơ hội học hỏi, thay đổi và chính Nokia đã lỡ các cơ hội để phát triển, mở rộng công ty. Nhưng sâu sa hơn là họ đã lỡ cơ hội để sống sót và tồn tại trong thế giới biến động này.Bài học rút ra cho mỗi người:

– Nếu bạn không thay đổi, không tự phát triển bản thân thì bạn sẽ sớm bị đào thải. – Không sai nếu bạn không muốn học những điều mới và cũng không sai nếu bạn chỉ muốn đứng yên tại chỗ. Nhưng có lẽ sẽ sai nếu tư tưởng không bắt kịp với thời đại thì bạn sẽ sớm bị “lỗi thời” và bị đào thải khỏi xã hội.

Nokia mà họ vẫn không chịu đối diện và thừa nhận mình đã thất bại do đâu. Bài học đó là chậm thay đổi và tiếp thu với cái mới trong xã hội. Mỗi người luôn luôn phải thay đổi chính mình theo xu hướng của thế giới một cách có chọn lọc và thông minh để tồn tại chứ không thể dậm chân tại chỗ hoặc là tiếp nhận tạp nham mà không xác định được hướng đi cho mình.

Thay đổi để tồn tại và phát triển nhưng có phải có chọn lọc. Các công ty, các Startup cũng đừng đi vào vết xe đổ của Nokia.

Bài Học Thất Bại Của Nokia: Sụp Đổ Từ Đỉnh Cao Thành Công / 2023

Trong nhiều năm qua, Nokia là một biểu tượng trong ngành công nghiệp di động. Chỉ trong vòng hai thập kỷ, công ty Phần Lan này đã tạo ra và chi phối cả ngành công nghiệp di động toàn cầu với 40% thị phần ở thời kỳ đỉnh cao.

Nhiều nhà phân tích cho rằng, sự sụp đổ của Nokia là do sự đi lên mạnh mẽ của những hãng công nghệ khác như Apple, Samsung và Google. Tuy nhiên, sự thật lại không đơn giản như vậy. Nếu các công ty khác mạnh lên, tại sao Nokia lại không thể mạnh lên? Nokia thật sự đã tự làm yếu chính mình khi rơi vào một cuộc khủng hoảng nội bộ trước khi bị các đối thủ đe dọa trên thị trường và làm trầm trọng thêm các vấn đề tài chính của hãng. Trên thực tế, những mầm mống của sự sụp đổ đã xuất hiện khi Nokia đang ngồi trên đỉnh cao thành công, theo bài phân tích của báo South China Morning Post.

Vào đầu những năm 1990, nhóm lãnh đạo trẻ và năng động của Nokia đã điều hành bộ phận kinh doanh điện thoại giống với mô hình của một công ty khởi nghiệp, hơn là một tập đoàn lớn và lâu đời. Tuy nhiên, điều này lại đem tới tác dụng tốt. Những quyết định táo bạo, nhanh chóng và có phần may mắn, thay vì mất thời gian lập một chiến lược kinh doanh chi tiết, đã giúp Nokia nhanh chóng giành được nhiều thị phần tại châu Âu và Mỹ.

Các công ty Trung Quốc ngày nay như Huawei đang tận dụng sức mạnh của các mảng kinh doanh khác như viễn thông và chip, để tạo tiền đề phát triển mảng kinh doanh di động. Sự thành công trong buổi ban đầu của Nokia cũng như vậy khi dựa vào sự hỗ trợ của các mảng kinh doanh khác để sản xuất điện thoại. Vì vậy, khi thành công trong việc bán điện thoại vào giữa những năm của thập niên 90, Nokia đã không thể sản xuất bắt kịp nhu cầu thị trường và chuỗi cung ứng của hãng đứng trên bờ vực sụp đổ. Nói cách khác, hãng đã thiếu sự chuẩn bị để duy trì thành công.

Điều này có thể bắt nguồn từ một thực tế là Nokia ban đầu không phải là một công ty chuyên về sản xuất điện thoại. Được thành lập từ năm 1865, Nokia lúc đó chỉ là một nhà máy giấy. Phải hơn 100 năm sau, hãng mới bắt đầu mở rộng sang các mảng sản xuất khác như cao su, cáp, đồ điện tử và TV. Tới năm 1990, Phần Lan bị rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế và khiến mảng kinh doanh giấy của Nokia bị thua lỗ nặng. Do đó, Nokia đã quyết định kinh doanh điện thoại để tự cứu bản thân. Tuy nhiên, chính bản thân công ty có lẽ cũng không nghĩ rằng họ sẽ thành công đến vậy.

Để khắc phục tình trạng cung không đủ cầu, các nhà lãnh đạo Nokia đã nhanh chóng vạch ra một chiến lược cho phép họ có thể gia tăng năng suất hơn bất kỳ đối thủ nào trên thị trường. Và chỉ trong vài năm sau, Nokia đã dễ dàng lấy vị trí số 1 trong thị trường di động ra khỏi tay của Motorola. Thậm chí, trong khoảng thời gian từ 1996 đến 2000, doanh thu bán điện thoại của Nokia đã tăng tới 503%. Tuy nhiên, thành công này cũng là khởi đầu của những đợt sóng ngầm bên trong nội bộ công ty.

Trong thời kỳ phát triển đỉnh cao, các quản lý cấp cao của Nokia đã ngày càng quan tâm tới việc phát triển bền vững mảng kinh doanh điện thoại và tìm kiếm những cơ hội kinh doanh mới. Tuy nhiên, các dự án khác của Nokia đều thất bại và mảng kinh doanh điện thoại vẫn là xương sống của hãng.

Để khắc phục sai lầm, Nokia đã cố gắng bán thật nhiều điện thoại bằng cách kết hợp những công nghệ mới như camera với ý tưởng tạo ra những sản phẩm nhắm vào từng đối tượng người dùng cụ thể như người dùng cá nhân, người dùng doanh nghiệp và người dùng cao cấp.

Điều này cũng khiến hãng đề ra chiến lược phân khúc thị trường theo sở thích của người dùng với hi vọng thúc đẩy tăng trưởng hơn nữa trong mảng kinh doanh điện thoại. Vào thời điểm ban đầu, chiến lược này thành công vì giúp người dùng luôn có thể tìm ra chiếc điện thoại vừa ý với họ. Tuy nhiên, theo thời gian, sự phân khúc thị trường không rõ ràng đã khiến Nokia tạo ra nhiều sản phẩm không có sự khác biệt đáng kể so với nhau.

Sức sáng tạo của Nokia càng bị bóp chết khi các nhà quản lý tại trung tâm phát triển của Nokia phải chịu đựng áp lực để đảm bảo tăng trưởng ngắn hạn theo kế hoạch. Vì vậy, họ đã không còn đủ năng lượng và nguồn lực để đưa ra những sáng kiến mới. Do đó, một nhóm nhỏ nhân viên của Nokia đã được giao việc thúc đẩy đổi mới. May mắn là họ rất được việc.

Nokia N9000 Communicator, chiếc smartphone đầu tiên của Nokia.

Năm 1996, những nhân viên này đã đi trước cả thế giới khi giới thiệu chiếc điện thoại thông minh Nokia N9000 Communicator. Ngoài ra, họ cũng chịu trách nhiệm cho chiếc điện thoại trang bị camera đầu tiên của Nokia là chiếc 7650 được ra mắt vào năm 2001. Tuy nhiên, những nỗ lực phát triển phần mềm điện thoại của họ lại không được ban lãnh đạo Nokia khuyến khích vì muốn tập trung vào mảng kinh doanh phần cứng điện thoại cốt lõi.

N2760, một mẫu điện thoại nắp gập đáng chú ý của Nokia.

Mặc dù vậy, kể cả trong mảng phần cứng điện thoại, Nokia cũng thể hiện sự bảo thủ và trì trệ trong tư duy. Vào đầu những năm 2000, Motorola đã mở đầu xu hướng điện thoại nắp gập với chiếc Motorola Razr. Khi đó, điện thoại nắp gập đã trở thành biểu tượng thời trang của giới trẻ Mỹ. Tuy nhiên, Nokia lại thờ ơ trước xu thế này và vẫn sản xuất điện thoại dạng “thanh” truyền thống. Cho tới khi Nokia nhận ra sai lầm và quay sang sản xuất điện thoại nắp gập, mọi chuyện đã quá muộn và hãng bị mất điểm trong mắt người dùng Mỹ. Đây cũng là lý do người dùng Mỹ ít cảm thấy luyến tiếc về sự thất bại của Nokia trước Apple và Samsung.

Jorrma Ollila, CEO của Nokia trong năm 2004.

Đến năm 2004, CEO của Nokia là Jorma Ollila đã nhận thấy tương lai của ngành điện thoại là điện thoại thông minh và yếu tố chủ chốt tạo nên sức cạnh tranh của điện thoại là hệ điều hành. Nokia đã từng đi trước thế giới với chiếc điện thoại N9000 Communicator ra mắt từ năm 1996 nhưng lại bỏ qua một cách đầy đáng tiếc.

Vì vậy, ông Jorma đã quyết định khắc phục sai lầm bằng cách tái cấu trúc công ty thành một hệ thống ma trận với các “sản phẩm” nằm ở cột dọc và các tài nguyên của công ty như nhân lực, phần mềm, sản xuất, marketing và bán hàng nằm ở hàng ngang. Hiểu đơn giản, đây là một sơ đồ ưu tiên phân phối nguồn lực cho từng sản phẩm của Nokia và tập trung vào phần mềm hơn.

Bất đồng khiến Jorma Ollila từ chức CEO Nokia vào năm 2006.

Mặc dù, cấu trúc công ty kiểu ma trận dễ dàng trong việc quản lý, nó lại khiến nội bộ Nokia chia rẽ và đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong sự sụp đổ của Nokia. Các thành viên chủ chốt trong nhóm “The Five” của Nokia đã lần lượt rời khỏi hãng. “The Five” là cách để gọi 5 nhà lãnh đạo trong thời điểm thành công của Nokia là Jorma Ollila, Olli-Pekka Kallasvuo, Pekka Ala-Pietela, Matti Alahuhta và Sari Baldauf. Họ đều là người Phần Lan, gia nhập cũng như chèo lái Nokia từ khi còn trẻ và có quyền đưa ra quyết định như nhau.

Nokia đã quá vội vàng khi đưa vào áp dụng một cấu trúc công ty mới trong khi thiếu kinh nghiệm và kỹ năng quản lý. Điều này đã tạo ra xung đột giữa các bộ phận và khiến toàn bộ công ty bị giảm hiệu quả hoạt động.

Hơn nữa, với việc tiền thưởng và đánh giá thành tích xoay quanh số lượng sản phẩm mới, các nhân viên Nokia trong thời kỳ này quan tâm hơn hết tới việc tạo ra ngày càng nhiều mẫu điện thoại mới. Điều này kết với áp lực giảm chi phí đã khiến chất lượng điện thoại Nokia bị suy giảm.

Tái cấu trúc không thể cứu được “con tàu đắm” Nokia.

Tình hình ngày càng tồi tệ hơn khi nội bộ Nokia thường xuyên lục đục, kể cả sau khi “The Five” tan rã. Đội ngũ quản lý cấp cao của Nokia đã cố gắng thu vén quyền lực cho bản thân và thực hiện những đợt tái cấu trúc không cần thiết. Họ đã thuyết phục các nhân viên rằng chỉ có cấu trúc công ty mới, chứ không phải là chiến lược kinh doanh mới và cải tiến quy trình công nghệ, là có thể giải quyết các vấn đề của công ty. Từ giữa năm 2004 cho tới thời điểm gần như phá sản vào năm 2013, Nokia đã trải qua tới 4 lần tái cấu trúc lớn.

Stephen Elop, CEO của Nokia trong giai đoạn 2010-2013.

Tới khi Stephen Elop ngồi được vào chiếc ghế CEO của Nokia vào năm 2010, mọi chuyện đã trở nên không thể cứu vãn. Trong 3 năm điều hành công ty, Stephen Elop đã khiến lợi nhuận của Nokia giảm 95% và thị phần giảm chỉ còn 3,4%. Mặc dù được coi là một trong những CEO tệ nhất thế giới nhưng mức lương của ông Elop lại rất cao và điều này khiến nhiều nhân viên Nokia bất bình. Mọi chuyện lên tới đỉnh điểm khi Stephen Elop từ chối giảm mức thưởng vào năm 2013 vì lý do sắp là sắp…ly di vợ. Thậm chí nhiều người đã gọi Stephen Elop là “gián điệp” được Microsoft cài vào Nokia.

Khi Apple và Google ra mắt hai hệ điều hành iOS và Android, ngành công nghiệp di động đã một lần nữa được tái định nghĩa khi xoay quanh nền tảng, ứng dụng và hệ sinh thái. Tuy nhiên, với tư cách là hãng đứng đầu toàn ngành di động vào thời điểm đó, Nokia đã không đủ khả năng để cạnh tranh trước những mối đe dọa từ các đối thủ và vẫn chỉ tập trung vào những mẫu điện thoại đơn giản.

Sự thụt lùi của Nokia thể hiện rõ nhất ở mảng phần mềm khi hãng vẫn trung thành với một hệ điều hành lỗi thời là Symbian. Hệ điều hành này yêu cầu phải viết lại toàn bộ mã cho mỗi mẫu điện thoại mới nên đã bị nhiều nhà phát triển ứng dụng chán ghét từ lâu.

Nokia N9, điện thoại hiếm hoi chạy hệ điều hành MeeGo.

Để khắc phục vấn đề, nhân viên của Nokia đã phát triển một hệ điều hành thay thế là Maemo và được đổi tên thành MeeGo vào năm 2010. Tuy nhiên, ban lãnh đạo Nokia lại không quá mặn mà để phát triển hệ điều hành này vì CEO lúc đó là Stephen Elop đang có những dự định riêng với Microsoft và Windows Phone. Dần dần, MeeGo bị bỏ rơi và quên lãng.

Một câu hỏi được đặt ra là tại sao Nokia không thử sản xuất điện thoại Android sau khi từ bỏ MeeGo. Câu trả lời đơn giản là tiền. Microsoft đã trả hàng tỷ USD để Nokia chỉ sử dụng duy nhất một hệ điều hành là Windows Phone. Tuy nhiên, Windows Phone lại không thể cạnh tranh được với Android và iOS trên rất nhiều phương diện. Hơn nữa, tiền của Microsft tuy nhiều những không thể nào cứu vãn được “con bệnh” Nokia đang dần hấp hối.

Được Microsoft kỳ vọng nhiều nhưng điện thoại Lumia và Windows Phone chỉ là một thất bại đáng quên.

Cứ như vậy, Nokia ngày càng bị thụt lùi trong thế giới smartphone không ngừng tiến bộ. Mọi chuyện kết thúc vào tháng 9/2013, Nokia đã quyết định bán mảng kinh doanh điện thoại cho Microsoft với giá 6,77 tỷ USD.

HMD Global đang đưa thương hiệu Nokia trở lại bằng hàng loạt mẫu smartphone Android.

Hiểu được lý do thật sự tại sao đế chế điện thoại Nokia lại bị sụp đổ có ý nghĩa rất quan trọng. Sự thất bại của Nokia không thể chỉ giải thích bằng một câu trả lời đơn giản. Thay vào đó, thất bại này đến từ nhiều yếu tố như quản lý yếu kém, tái cấu trúc ồ ạt, đấu đá nội bộ và tập trung quá nhiều vào mảng phần cứng điện thoại. Đây là những điều đã khiến Nokia bị kìm chân và không thể theo kịp các đối thủ khác trên thị trường.

Trong thời điểm hiện nay, khi thị trường điện thoại thay đổi không ngừng và ngày càng phức tạp hơn, hành trình vươn tới đỉnh cao và sụp đổ của Nokia sẽ mang lại bài học bổ ích cho bất cứ công ty nào muốn duy trì vị trí dẫn đầu trong ngành công nghiệp di động. Tất nhiên, đây cũng là bài học đáng nhớ dành cho Nokia, thương hiệu hiện đã thuộc về tập đoàn HMD và đang trên con đường tìm lại ngôi vương bằng những mẫu điện thoại Android.

Vì Sao Việt Nam Chiến Thắng Còn Mỹ Thất Bại Trong Cuộc Chiến Covid / 2023

Chiến thắng trong cuộc chiến chống Mỹ và giờ là thành công trong việc ngăn chặn sự lây lan của dịch Covid-19, Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn tượng này đều nhờ khả năng điều phối người dân hành động, định hướng truyền thông và kiểm soát cả doanh nghiệp nhà nước lẫn tư nhân một cách đồng bộ.

Trong khi Việt Nam chưa có ca tử vong chính thức nào vì dịch Covid-19 thì tại Mỹ, quốc gia từng là kẻ thù chiến tranh trong lịch sử, số người thiệt mạng vì đại dịch này giờ đã vượt qua cả con số thương vong trong cuộc chiến mà họ hay gọi là “Chiến tranh Việt Nam”.

Theo số liệu mới nhất, con số người chết vì đại dịch Covid-19 tại Mỹ hiện 69.680. Trong khi đó, tổng số người Mỹ đã chết trong cuộc chiến với Việt Nam là khoảng 58.220 người, bắt đầu bằng cái chết của hai cố vấn người Mỹ năm 1959 và kết thúc vào năm 1975 khi quân Mỹ buộc phải rút khỏi nước ta.

Dù có chung đường biên giới với Trung Quố c – nơi đầu tiên bùng phát dịch bệnh, số ca nhiễm Covid-19 tại Việt Nam mới chỉ dừng ở con số 271 và không có bất kỳ một ca tử vong nào. Nhiều người tin rằng số ca lây nhiễm tại Việt Nam có thể nhiều hơn do hiện mới chỉ kiểm tra được trên 88.000 người, vậy nhưng dù sao nước ta vẫn là một trong những quốc gia có tỉ lệ tử vong vì Covid-19 thấp nhất thế giới.

“Đội ngũ của chúng tôi tại Hà Nội đang làm việc rất sát sao cùng với Bộ Y tế. Và theo những thông tin mà tôi nhận được thì tính tới thời điểm này, không có bất cứ một dẫn chứng nào cho thấy các con số đó là sai lệch”, ông MacArthur, đại diện của Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh (CDC) tại Thái Lan khẳng định.

Trái ngược với vị thế và sự hùng hậu về tài nguyên của Mỹ so với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, chính phủ Mỹ đã không có những động thái nhanh nhạy trong việc ứng phó với đại dịch ngay từ những bước đầu, bỏ qua cơ hội trong những khoảng thời gian quan trọng và quý báu, đó là một trong những yếu tố dẫn đến con số tử vong tăng cao tại nước này.

Chính phủ Mỹ đã không phối hợp hiệu quả trong công cuộc truyền tải những tin tức về sức khỏe và những thông điệp bảo vệ an toàn cho cộng đồng, hay lan tỏa thông điệp về dịch bệnh và sức khỏe qua những chương trình phát sóng, những ấn phẩm in ấn truyền thông, những áp phích đường phố hay nhiều cảnh báo khác như cách mà Hà Nội đã làm trong cuộc chiến với đại dịch lần này.

Chiến thắng trong cuộc chiến chống Mỹ và giờ là thành công trong việc ngăn chặn sự lây lan của dịch Covid-19, Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn tượng này đều nhờ khả năng điều phối người dân hành động, định hướng truyền thông và kiểm soát cả doanh nghiệp nhà nước lẫn tư nhân một cách đồng bộ.

Ngày 23/4, một số văn phòng, cửa hàng, nhà hàng, khách sạn, địa điểm du lịch, trung tâm thể dục và một vài nơi khác tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh cũng nhưng một vài nơi khác đã bắt đầu mở cửa trở lại sau lệnh cách ly xã hội từ ngày 1/4. Quyết định nới lỏng cách ly của chính phủ được ban hành do không còn những ca nhiễm mới trong nhiều ngày.

Một số những địa điểm mang rủi ro cao như các lễ hội, vườn thú, các tiệm làm đẹp hay những cơ sở kinh doanh vẫn tiếp tục đóng cửa. Một số tỉnh thành như Bắc Ninh, Hà Giang hay các khu vực lân cận trong Hà Nội vẫn chịu lệnh bán phong tỏa.

“Chúng ta cần học cách sống chung với đại dịch. Chúng ta không thể để nó phá hủy nền kinh tế hay đất nước. Chúng ta cần đặt tính mạng người dân lên đầu và tiếp tục áp dụng các biện pháp chặt chẽ để kiểm soát dịch bệnh”, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh.

Chiến lược “cùng sống an toàn” này cho phép người dân làm việc nhưng vẫn phải duy trì khoảng cách xã hội, thường xuyên rửa tay và khai báo thông tin sức khỏe khi di chuyển giữa các tỉnh thành.

Các chuyến bay quốc tế vẫn bị hạn chế nhưng một số chuyến cũng như giao thông công cộng tại Việt Nam đã bắt đầu hoạt động trở lại. Trường học cũng đã bắt đầu mở cửa đón học sinh trở lại.

“Mọi người được yêu cầu kiềm chế nói chuyện, ăn uống và phải đeo khẩu trang trên các phương tiện công cộng”, cổng thông tin của Chính phủ khuyến cáo.

Thế nhưng tại Mỹ, chính phủ lại phản ứng bằng những “bản vá” của lệnh phong tỏa với nhiều hạn chế khác nhau. Trong khi một số bang và các thành phố lớn áp dụng lệnh buộc ở nhà một cách nghiêm ngặt thì tại một số nơi khác lại dường như không chịu ảnh hưởng nhiều từ lệnh kiểm soát.

Những cách ứng phó không đồng đều ấy còn bắt đầu trong những ngày khác nhau, cho phép virus nguy hiểm này có thể lan từ những nơi đã bị phong tỏa và làm lây nhiễm những địa điểm vẫn còn mở cửa.

Cũng phải nhắc đến rằng, Việt Nam đã có được những kinh nghiệm quý báu khi đối phó với các dịch bệnh đến từ quốc gia láng giếng Trung Quốc như dịch SARS, cúm gia cầm và cúm lợn.

Bí quyết chiến thắng đại dịch của Việt Nam được tiết lộ khi nhìn về quãng thời gian qua khi cả nước gồng mình chống dịch.

Ngày 16/1, Bộ Y tế cảnh báo chính phủ về cách để ngăn chặn một đại dịch sắp bùng phát. Chính phủ đã phổ biến tới hàng trăm bệnh viện và phòng khám tại Việt Nam vào ngày 21/1 tinh thần đối phó với bệnh dịch.

Ca nhiễm đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào ngày 23/1 khi hai bố con người Trung Quốc bay sang từ Vũ Hán vào ngày 13/1.

Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng chống dịch bệnh đã được thiết lập ngay vào ngày 30/1 khi Hiệp hội sức khỏe thế giới (WHO) công bố virus là một “Mối lo ngại quốc tế về tình trạng khẩn cấp sức khỏe cộng đồng”.

Đầu tháng Hai, Việt Nam bắt đầu cảnh báo cộng đồng và tạo một trang web thông tin. Tiếp đó, những lệnh phong tỏa của chính phủ đã gần như giải tỏa hoàn toàn những nhóm tập trung đông người trên đường phố và tại một số tỉnh thành, khu vực. Người dân dần chỉ được phép ra ngoài để mua thực phẩm và các nhu cầu thiết yếu khác.

Cảnh sát được điều động để phạt những cá nhân không đeo khẩu trang khi ra đường, cảnh báo “sẽ bỏ tù” nếu người dân không đeo khẩu trang khiến lây bệnh cho người khác và ra lệnh cấm tụ tập từ 20 người trở lên.

Thành phố cũng cho cách ly tất cả các khu vực xuất hiện ca nhiễm Covid-19. Đội ngũ Y tế đã đi kiểm tra từng nhà quanh khu vực xuất hiện các ca nhiễm mới.

“Họ thực sự đang làm công việc của mình. Tôi cho rằng đó chính là lý do Việt Nam có thể duy trì số ca lây nhiễm nhỏ như vậy”, ông Takeshi Kasai, Giám đốc WHO khu vực Tây Thái Bình Dương cho biết.

Hàng chục ngàn người, bao gồm cả người dân lẫn khách du lịch đến Việt Nam đều trở thành đối tượng bị cách ly tại các khu tập thể quân đội khắp đất nước. Tại đó, những người lính đã đặt các suất ăn theo bữa bên ngoài mỗi phòng.

Trong tuần đầu tiên của tháng Ba, Việt Nam đã nhanh chóng cho dừng tất cả các chuyến bay đến, qua hay đi từ Trung Quốc. Chính quyền cũng theo dõi sát sao những hành khách từ các chuyến bay quốc tế, và ban lệnh cấm nhập cảnh đối với các khách quốc tế sau ngày 22/3, ngoại trừ công dân Việt Nam trở về nhà hay những cá nhân khác thì đều phải trải qua hai tuần cách ly.

Khi Bệnh viện Bạch Mai tại Hà Nội và quán bar Buddha tại TP Hồ Chí Minh trở thành điểm nóng của dịch bệnh, một lệnh phong tỏa quy mô lớn đã được ban hành vào ngày 1/4.

Trái ngược với những lùm xùm trong cuộc chiến đại dịch tại Mỹ, thành công của Việt Nam đã đến đúng vào dịp kỷ niệm 45 năm Việt Nam đánh bại Mỹ, thống nhất đất nước. Một lần nữa, Việt Nam đã thể hiện được sự ấn tượng, một sức mạnh không ngờ của một quốc gia Đông Nam Á nhỏ bé dù vẫn đang gánh chịu những vết thương chiến tranh nhưng không có sự mất mát nào mà đại dịch Covid-19 này đem lại.

(Nguồn: ASIATIMES)