Top 10 # Xem Nhiều Nhất Vì Sao Việt Nam Thắng Mỹ Mới Nhất 1/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Vì Sao Việt Nam Chiến Thắng Còn Mỹ Thất Bại Trong Cuộc Chiến Covid

Chiến thắng trong cuộc chiến chống Mỹ và giờ là thành công trong việc ngăn chặn sự lây lan của dịch Covid-19, Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn tượng này đều nhờ khả năng điều phối người dân hành động, định hướng truyền thông và kiểm soát cả doanh nghiệp nhà nước lẫn tư nhân một cách đồng bộ.

Trong khi Việt Nam chưa có ca tử vong chính thức nào vì dịch Covid-19 thì tại Mỹ, quốc gia từng là kẻ thù chiến tranh trong lịch sử, số người thiệt mạng vì đại dịch này giờ đã vượt qua cả con số thương vong trong cuộc chiến mà họ hay gọi là “Chiến tranh Việt Nam”.

Theo số liệu mới nhất, con số người chết vì đại dịch Covid-19 tại Mỹ hiện 69.680. Trong khi đó, tổng số người Mỹ đã chết trong cuộc chiến với Việt Nam là khoảng 58.220 người, bắt đầu bằng cái chết của hai cố vấn người Mỹ năm 1959 và kết thúc vào năm 1975 khi quân Mỹ buộc phải rút khỏi nước ta.

Dù có chung đường biên giới với Trung Quố c – nơi đầu tiên bùng phát dịch bệnh, số ca nhiễm Covid-19 tại Việt Nam mới chỉ dừng ở con số 271 và không có bất kỳ một ca tử vong nào. Nhiều người tin rằng số ca lây nhiễm tại Việt Nam có thể nhiều hơn do hiện mới chỉ kiểm tra được trên 88.000 người, vậy nhưng dù sao nước ta vẫn là một trong những quốc gia có tỉ lệ tử vong vì Covid-19 thấp nhất thế giới.

“Đội ngũ của chúng tôi tại Hà Nội đang làm việc rất sát sao cùng với Bộ Y tế. Và theo những thông tin mà tôi nhận được thì tính tới thời điểm này, không có bất cứ một dẫn chứng nào cho thấy các con số đó là sai lệch”, ông MacArthur, đại diện của Trung tâm kiểm soát và ngăn ngừa dịch bệnh (CDC) tại Thái Lan khẳng định.

Trái ngược với vị thế và sự hùng hậu về tài nguyên của Mỹ so với một quốc gia đang phát triển như Việt Nam, chính phủ Mỹ đã không có những động thái nhanh nhạy trong việc ứng phó với đại dịch ngay từ những bước đầu, bỏ qua cơ hội trong những khoảng thời gian quan trọng và quý báu, đó là một trong những yếu tố dẫn đến con số tử vong tăng cao tại nước này.

Chính phủ Mỹ đã không phối hợp hiệu quả trong công cuộc truyền tải những tin tức về sức khỏe và những thông điệp bảo vệ an toàn cho cộng đồng, hay lan tỏa thông điệp về dịch bệnh và sức khỏe qua những chương trình phát sóng, những ấn phẩm in ấn truyền thông, những áp phích đường phố hay nhiều cảnh báo khác như cách mà Hà Nội đã làm trong cuộc chiến với đại dịch lần này.

Chiến thắng trong cuộc chiến chống Mỹ và giờ là thành công trong việc ngăn chặn sự lây lan của dịch Covid-19, Việt Nam đã đạt được những kết quả ấn tượng này đều nhờ khả năng điều phối người dân hành động, định hướng truyền thông và kiểm soát cả doanh nghiệp nhà nước lẫn tư nhân một cách đồng bộ.

Ngày 23/4, một số văn phòng, cửa hàng, nhà hàng, khách sạn, địa điểm du lịch, trung tâm thể dục và một vài nơi khác tại Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh cũng nhưng một vài nơi khác đã bắt đầu mở cửa trở lại sau lệnh cách ly xã hội từ ngày 1/4. Quyết định nới lỏng cách ly của chính phủ được ban hành do không còn những ca nhiễm mới trong nhiều ngày.

Một số những địa điểm mang rủi ro cao như các lễ hội, vườn thú, các tiệm làm đẹp hay những cơ sở kinh doanh vẫn tiếp tục đóng cửa. Một số tỉnh thành như Bắc Ninh, Hà Giang hay các khu vực lân cận trong Hà Nội vẫn chịu lệnh bán phong tỏa.

“Chúng ta cần học cách sống chung với đại dịch. Chúng ta không thể để nó phá hủy nền kinh tế hay đất nước. Chúng ta cần đặt tính mạng người dân lên đầu và tiếp tục áp dụng các biện pháp chặt chẽ để kiểm soát dịch bệnh”, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh.

Chiến lược “cùng sống an toàn” này cho phép người dân làm việc nhưng vẫn phải duy trì khoảng cách xã hội, thường xuyên rửa tay và khai báo thông tin sức khỏe khi di chuyển giữa các tỉnh thành.

Các chuyến bay quốc tế vẫn bị hạn chế nhưng một số chuyến cũng như giao thông công cộng tại Việt Nam đã bắt đầu hoạt động trở lại. Trường học cũng đã bắt đầu mở cửa đón học sinh trở lại.

“Mọi người được yêu cầu kiềm chế nói chuyện, ăn uống và phải đeo khẩu trang trên các phương tiện công cộng”, cổng thông tin của Chính phủ khuyến cáo.

Thế nhưng tại Mỹ, chính phủ lại phản ứng bằng những “bản vá” của lệnh phong tỏa với nhiều hạn chế khác nhau. Trong khi một số bang và các thành phố lớn áp dụng lệnh buộc ở nhà một cách nghiêm ngặt thì tại một số nơi khác lại dường như không chịu ảnh hưởng nhiều từ lệnh kiểm soát.

Những cách ứng phó không đồng đều ấy còn bắt đầu trong những ngày khác nhau, cho phép virus nguy hiểm này có thể lan từ những nơi đã bị phong tỏa và làm lây nhiễm những địa điểm vẫn còn mở cửa.

Cũng phải nhắc đến rằng, Việt Nam đã có được những kinh nghiệm quý báu khi đối phó với các dịch bệnh đến từ quốc gia láng giếng Trung Quốc như dịch SARS, cúm gia cầm và cúm lợn.

Bí quyết chiến thắng đại dịch của Việt Nam được tiết lộ khi nhìn về quãng thời gian qua khi cả nước gồng mình chống dịch.

Ngày 16/1, Bộ Y tế cảnh báo chính phủ về cách để ngăn chặn một đại dịch sắp bùng phát. Chính phủ đã phổ biến tới hàng trăm bệnh viện và phòng khám tại Việt Nam vào ngày 21/1 tinh thần đối phó với bệnh dịch.

Ca nhiễm đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam vào ngày 23/1 khi hai bố con người Trung Quốc bay sang từ Vũ Hán vào ngày 13/1.

Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng chống dịch bệnh đã được thiết lập ngay vào ngày 30/1 khi Hiệp hội sức khỏe thế giới (WHO) công bố virus là một “Mối lo ngại quốc tế về tình trạng khẩn cấp sức khỏe cộng đồng”.

Đầu tháng Hai, Việt Nam bắt đầu cảnh báo cộng đồng và tạo một trang web thông tin. Tiếp đó, những lệnh phong tỏa của chính phủ đã gần như giải tỏa hoàn toàn những nhóm tập trung đông người trên đường phố và tại một số tỉnh thành, khu vực. Người dân dần chỉ được phép ra ngoài để mua thực phẩm và các nhu cầu thiết yếu khác.

Cảnh sát được điều động để phạt những cá nhân không đeo khẩu trang khi ra đường, cảnh báo “sẽ bỏ tù” nếu người dân không đeo khẩu trang khiến lây bệnh cho người khác và ra lệnh cấm tụ tập từ 20 người trở lên.

Thành phố cũng cho cách ly tất cả các khu vực xuất hiện ca nhiễm Covid-19. Đội ngũ Y tế đã đi kiểm tra từng nhà quanh khu vực xuất hiện các ca nhiễm mới.

“Họ thực sự đang làm công việc của mình. Tôi cho rằng đó chính là lý do Việt Nam có thể duy trì số ca lây nhiễm nhỏ như vậy”, ông Takeshi Kasai, Giám đốc WHO khu vực Tây Thái Bình Dương cho biết.

Hàng chục ngàn người, bao gồm cả người dân lẫn khách du lịch đến Việt Nam đều trở thành đối tượng bị cách ly tại các khu tập thể quân đội khắp đất nước. Tại đó, những người lính đã đặt các suất ăn theo bữa bên ngoài mỗi phòng.

Trong tuần đầu tiên của tháng Ba, Việt Nam đã nhanh chóng cho dừng tất cả các chuyến bay đến, qua hay đi từ Trung Quốc. Chính quyền cũng theo dõi sát sao những hành khách từ các chuyến bay quốc tế, và ban lệnh cấm nhập cảnh đối với các khách quốc tế sau ngày 22/3, ngoại trừ công dân Việt Nam trở về nhà hay những cá nhân khác thì đều phải trải qua hai tuần cách ly.

Khi Bệnh viện Bạch Mai tại Hà Nội và quán bar Buddha tại TP Hồ Chí Minh trở thành điểm nóng của dịch bệnh, một lệnh phong tỏa quy mô lớn đã được ban hành vào ngày 1/4.

Trái ngược với những lùm xùm trong cuộc chiến đại dịch tại Mỹ, thành công của Việt Nam đã đến đúng vào dịp kỷ niệm 45 năm Việt Nam đánh bại Mỹ, thống nhất đất nước. Một lần nữa, Việt Nam đã thể hiện được sự ấn tượng, một sức mạnh không ngờ của một quốc gia Đông Nam Á nhỏ bé dù vẫn đang gánh chịu những vết thương chiến tranh nhưng không có sự mất mát nào mà đại dịch Covid-19 này đem lại.

(Nguồn: ASIATIMES)

Vì Sao Mỹ Thua Trận Trong Chiến Tranh Việt Nam?

Lịch sử không có “giá như” nhưng lịch sử là bài học cho sự phát triển hướng đến tương lai tốt đẹp.

Chiến tranh Việt Nam khi có Mỹ trực tiếp tham gia từ 1954-1975 là một trong 11 cuộc chiến tranh lớn nhất của thế giới hiện đại mà sự kết thúc của nó để lại rất nhiều dấu ấn thời đại.

Những cái “nhất” của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam

Một, đây là một cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất trong lịch sử 200 năm nước Mỹ.

Về thời gian. Thời gian Mỹ tham gia thế chiến 1, thế chiến 2 và chiến tranh Triều Tiên cộng lại cũng chưa được một nửa thời gian Mỹ sa vào cuộc chiến tranh Việt Nam.

Về huy động lực lượng. Cuộc chiến này Mỹ huy động sức người, sức của cao nhất của nước Mỹ:

Năm đời Tổng thống với những bộ óc trí tuệ như Macnamara, Henry Kissinger, Brzezinski thực hiện đủ 3 chiến lược chiến tranh: “Chiến tranh đặc biệt” “Chiến tranh cục bộ” và “Việt Nam hóa chiến tranh”.

Có đến 77% lục quân, 66% thủy quân lục chiến và không quân, 40% hải quân, 6,5 triệu lượt binh sĩ, 22.000 xí nghiệp của nước Mỹ đã được huy động để phục vụ chiến tranh đưa tổng số lính tham chiến lên 550.000 quân cùng với 70.000 quân chư hầu (Úc, Nam Hàn và Philipin, Thailand).

Theo thống kê chưa đầy đủ, Mỹ đã chi 920 tỷ USD (thời giá lúc đó) cho chiến tranh Việt Nam so với 341 tỷ trong thế chiến 2 và 54 tỷ trong chiến tranh với Triều Tiên. Nếu tính theo thời giá hiện nay thì đây là một khoản chi phí khổng lồ.

Về bom đạn. Mỹ dội xuống Việt Nam hơn 7,8 triệu tấn bom đạn nhiều hơn mỹ đã dùng trong thế chiến 2. Tại miền Bắc Việt Nam cứ 1 km vuông chịu 6 tấn và 1 người chịu 45,5kg bom (trong thế chiến 2 Đức tương ứng là 5,4 tân và 27 kg). Đây là một con số khủng khiếp chưa từng có trên thế giới.

Từ 1961-1971, Mỹ đã trút xuống miền Nam Việt Nam 20 triệu gallon=75,6 triệu lít chất độc da cam, thuốc diệt cỏ chứa dioxin. (Hậu quả khủng khiếp còn đến tận bây giờ và các thế hệ tiếp).

Hai, đây là một thất bại lớn nhất trong lịch sử chiến tranh 200 năm của nước Mỹ. Hơn 58.000 quân Mỹ thiệt mạng, khoảng 304.000 người lính khác vĩnh viễn bị thương tật, tàn phế. Nhưng Mỹ vẫn không không ngăn nổi Việt Nam thống nhất Tổ quốc, thu giang sơn về một mối.

Tại sao Mỹ sai và thua trận?

Rất nhiều sách vở, phát biểu, đánh giá, các công trình nghiên cứu…nói về nguyên nhân thắng trận của Việt Nam…nhưng ở góc nhìn của Mỹ thì điều gì khiến Mỹ thua trận sẽ khiến chúng ta quan tâm nhiều hơn.

Trước hết Mỹ thua là do nhận thức sai về tính chất chiến tranh Việt Nam. Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân…

Mỹ cho rằng Việt Nam chống Mỹ là một cuộc chiến tranh ủy nhiệm bởi Trung Quốc và Liên Xô nhưng thật ra không phải như vậy.

Mỹ đã quên mất chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Tổng thống Mỹ vào năm 1945 như thế nào nên đã xác định sai lầm tính chất cuộc chiến. Mỹ nên hiểu, Việt Nam coi quyền lợi dân tộc, quốc gia là trên hết. Việt Nam muốn độc lập, giang sơn thu về một mối và sẽ chiến đấu với bất kỳ kẻ thù nào vì mục tiêu đó.

Sai lầm tệ hại nhất của Mỹ là Mỹ đã “bất chấp” hay “vô tình” đối đầu với một dân tộc có truyền thống chống giặc ngoại xâm quật cường, anh dũng “thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc” “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.

Mỹ nhảy vào Việt Nam là để ngăn chặn CNCS…nhưng nhân dân Việt Nam chỉ biết rằng, Mỹ là kẻ xâm lược và chiến đấu với Mỹ như bao kẻ xâm lược khác.Người Việt Nam đánh Mỹ để bảo vệ quê hương, ruộng đồng, để không phải làm kiếp nô lệ như thời thuộc Pháp, đánh Mỹ để thống nhất Bắc-Nam thu giang sơn về một mối, cho nên, bất kỳ đàn ông hay đàn bà, người già hay người trẻ, hễ là người Việt Nam thì họ đều đứng lên chống giặc ngoại xâm…Chính tư tưởng, tinh thần đó là nguồn gốc khiến một dân tộc yêu hòa bình, yêu tự do độc lập trở nên anh hùng và tất yếu sẽ tạo ra một quân đội anh hùng.

Cuối cùng là Mỹ chẳng hiểu biết gì về lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam trong 4000 năm qua. Đó chính là nghệ thuật quân sự, chiến tranh nhân dân được tôi luyện trong 4000 năm qua đã trở nên “bất khả chiến bại”. Lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh là sở trường giành chiến thắng của một dân tộc Việt có đất không rộng, người không đông.

Chiến thắng trong cuộc chiến tranh chống xâm lược Mỹ, một cường quốc quân sự kinh tế hùng mạnh bậc nhất thế giới lúc bấy giờ là bài học quý giá cho hiện tại. Việt Nam ngày nay đã lớn mạnh, đã hội nhập thế giới và để bảo vệ tổ quốc thì sẵn có truyền thống chống giặc ngoại xâm quật cường, anh dũng “thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc” “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”.

Nguồn: Báo Đất Việt

Tại Sao Mỹ Đánh Việt Nam?

Dưới thời Tổng thống Harry S. Truman, Hoa Kỳ đã thiết lập một học thuyết đối ngoại gọi là “ngăn chặn” chủ nghĩa cộng sản.

Được khởi nguồn bởi George Kennan, Dean Acheson, cùng với các nhà ngoại giao và cố vấn chính sách khác, học thuyết Truman bắt đầu bằng bài diễn văn của Tổng thống Mỹ Truman vào ngày 12 tháng 3 năm 1946. Quốc hội Mỹ bỏ phiếu cho chính sách này vào ngày 8 tháng 5, Thượng viện Mỹ thông qua vào ngày 22 tháng 5.

Mục đích của chính sách “ngăn chặn” không phải để chống lại Liên Xô bằng một cuộc chiến tranh, mà là giới hạn chủ nghĩa cộng sản và Liên Xô trong ranh giới hiện có tại thời điểm đó.

Học thuyết Truman dựa trên một số tiền đề:

– Thế giới phân 2 cực = Đế chế Mỹ + Đế chế Liên Xô.

– Không có quốc gia nào đứng giữa = Hoặc thuộc đế chế Mỹ + Hoặc thuộc đế chế Liên Xô.

– Liên Xô là kẻ bành trướng = Áp đặt thẩm quyền tuyệt đối của mình lên phần còn lại của thế giới.

– Mỹ công nhận có chủ nghĩa cộng sản = Học thuyết “ngăn chặn” sẽ tránh cuộc chiến tranh toàn diện với Liên Xô, càng tránh cuộc chiến tranh toàn diện với chủ nghĩa cộng sản; nhưng Mỹ sẽ thực hiện các bước ngăn chặn bất kì một chính phủ cộng sản nào có dấu hiệu mở rộng.

Với lí do Hoa Kỳ sẽ ngăn chặn mọi quốc gia cộng sản nào có dấu hiệu mở rộng, học thuyết Truman đã trực tiếp dẫn đến cuộc chiến dai dẳng và mất mát khủng khiếp nhất tại Việt Nam, kéo dài hơn ba thập kỉ.

Vào năm 1956, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Nikita Krushchev, trong cuộc tranh luận với Richard Nixon ở Moscow, đã đe dọa “We will bury you – Chúng tôi sẽ chôn cất bạn!”

Sở hữu kho vũ khí hạt nhân và khả năng quân sự, cùng với những tuyên bố, Liên Xô đã trở thành kẻ thù tiềm năng của Mỹ. Hoa Kỳ mặc định, không có một quốc gia cộng sản nào mà không phải là một phần của Liên Xô. ngoại trừ Trung Quốc cũng là quốc gia cộng sản từ năm 1948, nhưng nền văn hóa giữa hai quốc gia quá khác biệt tạo nên mối thù hận làm cho Trung Quốc và Nga không thể vượt qua đường biên giới chung.

Và thế giới phân cực: phần còn lại bắt buộc phải liên minh với Mỹ!

Việt Nam là một đất nước rất xinh đẹp, với rừng vàng, biển bạc, đất phì nhiêu, thiên nhiên ưu đãi cho khí hậu 4 mùa ở miền Bắc và mưa thuận gió hòa khắp dải đất hình chữ S. Địa lí Việt Nam đóng vai trò cực kì quan trọng giữa Trung Quốc và thế giới: là cửa ngõ cả trên đất liền và trên biển, đặc biệt với lợi thế đồi núi xen kẽ đồng bằng và hệ thống sông ngòi rất phù hợp với chiến thuật quân sự phòng thủ phản công, chiến thuật ấy còn đặc biệt hơn ngay cả trên biển với 2 quần đảo chiến lược là Hoàng Sa và Trường Sa, cùng với những cảng biển nước sâu như Cam Ranh và bờ biển kéo dài 3260 km án ngữ cả lối ra vào của toàn bộ cửa biển Thái Bình Dương.

Đó là lí do tại sao Việt Nam có lịch sử đấu tranh giành độc lập rất dài.

Trong hàng ngàn năm, Việt Nam phải đã vật lộn chiến đấu để bảo tồn ngôn ngữ và bản sắc văn hóa riêng biệt, đẩy lùi những cuộc xâm lược kéo dài của Trung Quốc, 3 lần chiến thắng quân Mông Nguyên, sau đó là Nhật Bản và Pháp, cuối cùng là cuộc chiến tranh tổng lực với Mỹ.

Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp từ nửa cuối thế kỉ 19.

Đến WW2, Hồ Chí Minh trở thành nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa dân tộc, ông chủ trương lãnh đạo toàn dân làm cuộc khởi nghĩa cướp chính quyền, bắt buộc thực dân Pháp phải rút quân, giành lại độc lập cho Việt Nam sau gần trăm năm đô hộ.

Xuất thân từ gia đình nho giáo, nhưng Hồ Chí Minh lại sớm tiếp cận với nền văn minh phương Tây là Pháp, sau đó là Liên Xô. Ông là người cộng sản, nhưng cũng là người đặt niềm tin vào nền dân chủ phương Tây mà đại diện là Pháp, cùng với thể chế tự do kiểu Mỹ. Hồ Chí Minh là nhà cải cách ruộng đất, ông muốn mang lại cuộc sống ấm no cho dân nghèo, giải phóng dân tộc khỏi chế độ áp bức của thực dân, xây dựng một thể chế tự do dân chủ, bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc.

Hồ Chí Minh có ý thức mạnh mẽ về quốc gia và dân tộc!

Trong WW2, sau khi Pháp bị hất cẳng khỏi Việt Nam, Hồ Chí Minh chấp nhận để quân đồng minh Nhật tạm thời chiếm đóng thay vì đội quân của Tưởng Giới Thạch, bởi Hồ Chí Minh hiểu hơn ai hết một khi phiên bản của Trung Quốc bám rễ sẽ rất khó để nhân dân Việt Nam trục xuất được đội quân ấy ra khỏi đất nước.

Hồ Chí Minh là người cộng sản, nhưng xuyên suốt, ông lại là nhà chính trị theo chủ nghĩa dân tộc, rất thực tế, quan tâm đến những gì tốt nhất cho Việt Nam, ông có xu hướng theo nền tự do dân chủ kiểu Mỹ hơn là theo Liên Xô như một đồng minh.

Trong WW2, Charles De Gaulle là người đã làm sống dậy bóng ma của chủ nghĩa thực dân. Từ năm 1945 đến 1954, De Gaulle đã mang vinh quang trở lại cho nước Pháp thông qua cuộc chiến chống phát xít, khôi phục lại thuộc địa trong đó có Việt Nam.

Nhưng thật oái oăm: Đảng Cộng sản Pháp lại quá mạnh!

Truman là người chống cộng cực đoan, ông dễ bị tổn thương và cực kì nhạy cảm với 2 chữ “cộng sản”. Một mặt Truman rất lo lắng phong trào cộng sản do Hồ Chí Minh lãnh đạo sẽ lan tỏa ra khắp Đông Nam Á rồi đến châu Á, mặt khác lo sợ Đảng Cộng sản Pháp sẽ chiến thắng De Gaulle để giành được thực quyền.

Thiện chí của Hồ Chí Minh với Mỹ đã bị lờ đi vì 2 lí do này.

Nhưng người Pháp đã làm rất tệ!

Hồ Chí Minh đã biết cách lãnh đạo một đội quân nhỏ bé là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, ban đầu chỉ có 34 chiến sĩ chủ yếu làm công việc tuyên truyền, nhưng vẫn đủ sức đánh bại đội quân viễn chinh oai hùng Pháp có sự hậu thuẫn cực kì mạnh mẽ của Mỹ. Với chiến thắng chấn động địa cầu mang tên Điện Biên Phủ, phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên toàn thế giới đã được truyền cảm hứng từ chính Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp, chủ nghĩa thực dân đã sụp đổ hoàn toàn bởi hiệu ứng domino không thể cưỡng lại được.

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ đúng 1 ngày, Hiệp định Geneve được tổ chức ở Thụy Sĩ, bắt đầu từ ngày 8 tháng 5 năm 1954 chính thức bàn về việc khôi phục lại hòa bình ở Đông Dương. Hội nghị có sự tham gia dàn xếp của 4 cường quốc số một thế giới gồm Liên Xô, Mỹ, Anh và Pháp. Liên Xô muốn kéo thêm vào bàn đàm phán một quốc gia cộng sản làm đồng minh, đó là Trung Quốc, nhưng ý tưởng không thành vì Trung Quốc chưa có vai trò chính thức ở Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc. Sau khi đàm phán, Pháp đồng ý rút quân khỏi Đông Dương, Việt Nam tạm thời phân chia làm 2 nửa, ranh giới phân chia là vĩ tuyến 17 và sẽ tổng tuyển cử trong vòng 2 năm theo hình thức bỏ phiếu tự do dân chủ để thống nhất đất nước.

Nhưng chẳng bao giờ có cuộc tổng tuyển cử!

Năm 1955, được Mỹ hậu thuẫn, Quốc gia Việt Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào đã tổ chức cuộc trưng cầu dân ý phế truất Quốc trưởng Bảo Đại, chính quyền Việt Nam Cộng hòa thân Mỹ được thành lập, Ngô Đình Diệm được đề cử làm Tổng thống. Thay vì thực hiện bỏ phiếu tự do thống nhất giữa 2 miền Nam Bắc, thì Ngô Đình Diệm tuyên bố chống cộng, ông đề nghị Mỹ chi viện để chống lại Hồ Chí Minh.

Để ngăn chặn Liên Xô và Trung Quốc, chống lại Hồ Chí Minh, chống lại phong trào cộng sản trên toàn thế giới, Hoa Kỳ đã cung cấp toàn bộ quân sự, súng, đạn dược, đô la, thuốc men, cố vấn quân sự…v.v. cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Ngô Đình Diệm là người Công giáo, ông theo chủ nghĩa dân tộc, thực hiện chế độ gia đình trị. Chính phủ của ông nhanh chóng bộc lộ những bất ổn. Ngay sau khi lên làm Tổng thống, Ngô Đình Diệm cho thiết kế các biện pháp tấn công cộng sản, thông qua các hình thức tố cộng, diệt cộng, đỉnh điểm là việc ban hành Luật 10/59 với công cụ là chiếc máy chém đầu. Nhưng nguyên nhân chính dẫn tới sự sụp đổ của chế độ Ngô Đình Diệm, là sự kì thị tôn giáo, đàn áp đạo Phật. Ngô Đình Diệm chỉ công nhận Kito giáo, không chấp nhận các tôn giáo khác, cố gắng bằng mọi cách loại bỏ Phật giáo ra khỏi đời sống xã hội.

Năm 1961, Tổng thống Mỹ John F. Kennedy đã tăng cường đầu tư cho chính quyền Ngô Đình Diệm, cả về tiền bạc lẫn vũ khí, điều thêm 15 ngàn quân đến tham chiến tại Việt Nam.

Một trong những lí do để Kennedy đưa quân vào Việt Nam theo lời đề nghị của Ngô Đình Diệm, đó là hội nghị Camp David 1959, Hoa Kỳ biết được qua Khrushchev rằng cộng sản Trung Quốc đang nghiên cứu sản xuất vũ khí hạt nhân. Nhưng vào thời điểm đó, Hoa Kỳ vẫn hoài nghi về khả năng sản xuất bom hạt nhân của Trung Quốc, nhưng có điều chắc chắn Hoa Kỳ biết, đó là mối quan hệ Xô – Trung là 2 quốc gia cộng sản đồng sàng dị mộng.

Hơn 15 ngàn lính Mỹ được Kennedy đưa đến Việt Nam, ban đầu họ tin rằng đang thực hiện một sứ mệnh rất cao cả, là đến một đất nước xa xôi để cứu người dân khỏi bị cộng sản dìm xuống nước, hay nướng trên ngọn lửa. Nhưng rồi họ sớm phát hiện ra người dân địa phương không coi họ là những vị cứu tinh, mà ngược lại là sự thù địch, khiến nhiều lính Mỹ khá bối rối và tức giận.

Ngày 11 tháng 6 năm 1963, hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu tại Sài Gòn, Mỹ chính thức loại bỏ Ngô Đình Diệm vào ngày mùng 2 tháng 11 năm 1963. Sau cái chết của Ngô Đình Diệm, Kennedy đã nhận ra sự nguy hiểm của tình hình và dự thảo kế hoạch rút khỏi Việt Nam, nhưng quốc hội Mỹ không thông qua.

Ngày 22 tháng 11 Kennedy bị ám sát.

Lyndon Johnson, Tổng thống mới của Hoa Kỳ đã nhanh chóng củng cố vị thế chính trị bằng chiến thuật bàn tay sắt với cộng sản. Là người chống cộng lâu năm và có nhiều kinh nghiệm, một lần nữa Johnson đẩy mạnh học thuyết “ngăn chặn” với lập luận bổ sung bằng “học thuyết domino”. Theo đó, học thuyết domino chỉ ra rằng nếu một quốc gia như Việt Nam rơi vào tay cộng sản, thì các quốc gia khác trong khu vực cũng sẽ lần lượt rơi vào tay cộng sản. Cách lập luận đó không hề có cơ sở, nhưng nó là lí thuyết tạo nên xương sống cho học thuyết “ngăn chặn” và một lần nữa được Johnson đẩy lên đỉnh điểm.

Người Mỹ đã bị cuốn vào học thuyết “ngăn chặn”, họ tin rằng với sức mạnh vượt trội về công nghệ, vũ khí tối tân, kinh tế hùng cường; chiến tranh ở Việt Nam có sự can thiệp của Mỹ sẽ nhanh chóng được kết thúc theo cách dễ dàng nhất.

Một nhà báo Mỹ đi thăm hàng không mẫu hạm Ranger đã viết: “Chỉ cần đưa con tàu này cho Việt Cộng thì chắc chắn họ sẽ bỏ chạy – They just ought to show this ship to the Viet Cong, that would make them give up”. Bản thân Johnson còn gọi Việt Nam là “đất nước hạng tư rách rưới – ragged ass little fourth rate country”, cùng với chiến dịch truyền thông vô cùng dữ dội về sức mạnh hủy diệt của nước Mỹ, đã làm cho không một người Mỹ nào có thể tin một quốc gia bé nhỏ, nghèo nàn, lạc hậu như Việt Nam lại có thể đánh bại được quân đội Mỹ.

Nhưng Johnson và người Mỹ đã nhầm!

Vũ khí của Mỹ sản xuất theo mẫu hình chiến trận của WW2, cho dù nó vô cùng tối tân và hiện đại, nhưng chỉ triển khai tham chiến trên Đại Bình nguyên châu Âu. Đó là những cuộc chiến trên diện rộng, chiến đấu nhanh chóng, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ và đầy đủ, hỏa lực cực mạnh để giảm thiểu hi sinh cho binh lính. Ngược lại, chiến trường Việt Nam với núi đồi, sông ngòi, rừng sâu, nên người Việt đã xây dựng một lượng lớn hầm ngầm, địa đạo, giao thông hào để kéo kẻ thù phải chui xuống lòng đất, phải lặn trong nước, phải luồn trong rừng. Quân đội Mỹ có thể thắng trên tất cả các mặt trận, nhưng ở chiến trường Việt Nam, Johnson chắc chắn thất bại.

Năm 1964: Johnson tìm kiếm lí do để đánh Việt Nam!

Ngày 2 tháng 8 năm 1964, Hải Quân Hoa Kỳ đưa 2 tàu khu trục C Turner Joy và USS Maddox ra thăm Vịnh Bắc Bộ, nhưng lại cố tình xâm phạm lãnh hải, liền bị các tàu phóng lôi của Hải quân Bắc Việt tấn công. Chừng đó chưa đủ sức thuyết phục để tạo cớ, Mỹ đã dựng lên cuộc tấn công không có thật lần thứ 2, vào ngày 4 tháng 8.

Ngày 5 tháng 8 năm 1964, Mỹ sử dụng 2 biên đội tàu sân bay Constellation và Ticonderoga, gồm 40 máy bay tiêm kích và cường kích hiện đại nhất, bất ngờ đánh thẳng vào các căn cứ Hải quân Bắc Việt ở Quảng Ninh, Thanh Hóa, Nghệ An và Quảng Bình.

Kể từ đó Mỹ lên tục leo thang.

Riêng năm 1967, Mỹ đã thực hiện ném một lượng bom khổng lồ, bằng tổng số bom sử dụng trong WW2. Với 500 ngàn quân Mỹ đồn trú, mỗi tháng tiêu tốn 2 tỉ đô la, thương vong cho phía Bắc Việt ước tính 1000 người mỗi tuần.

Có một sự thật trong chiến tranh Việt nam, lính Mỹ không bao giờ coi đối phương là con người, lí do không phải sự thù hận, mà là khoảng cách văn hóa, sự giàu có, công nghệ giữa Mỹ và Bắc Việt quá xa nhau, giống như ở 2 thế giới đối lập hoàn toàn. Sự khinh bỉ và phân biệt chủng tộc là nét đặc trưng của quân đội Mỹ. Một nhà báo đặt câu hỏi, liệu các vụ ném bom có giết chết thường dân hay không, một trung sĩ đã cười và trả lời: “Có vấn đề gì đâu? Tất cả đều là người Việt Nam – “What does it matter? They’re all Vietnamese.” Theo quy luật ngón tay cái, nếu người chết nói tiếng Việt, thì đó là Việt Cộng, tất cả được thống kê thành con số ấn tượng để báo cáo về Washington!

Chất độc màu da cam làm rụng lá và bom lửa Napalm, đó là 2 thứ vũ khí nổi tiếng của quân đội Mỹ sử dụng ở Việt Nam, nó phát quang cả dãy Trường Sơn. Trên thân mỗi chiếc máy bay chở 2 loại vũ khí này luôn treo một khẩu hiểu: “Chỉ có chúng ta mới ngăn cản được rừng – Only We Can Prevent Forests”.

Không có bằng chứng nào cho thấy Bắc Việt suy yếu vì bom Mỹ!

Các vụ đánh bom, hầu hết chỉ phá hoại đồng ruộng, hoa màu và nhà cửa. Những vụ tấn công và đốt, lính Mỹ chỉ biết nhắm vào dân thường, làm cho người Việt càng trở nên căm thù. Những ngọn giáo mác, những bẫy chông, hầm mìn giăng ở mọi nơi, bỗng chốc trở thành nỗi khiếp đảm.

Những con đường lớn bị bom Mỹ phá hủy, thì người Việt sử dụng con đường mòn, đường hầm, họ cần mẫn vận tải vào ban đêm, bằng những đội dân công, thanh niên xung phong, hay sự tự nguyện của mỗi người dân nghèo với quyết tâm cao độ sẽ đánh tan giặc Mỹ xâm lược.

Tướng William Westmorland cho rằng: “Mạng sống của con người là rẻ mạt đối với người châu Á. Họ không cảm nhận thấy giống như cái chết mà chúng ta làm – Human life is cheap to the Asian. They don’t feel the same way about death that we do”. Câu nói này được sử dụng trong bộ phim phản chiến nổi tiếng “Trái tim và Khối óc – Hearts and Minds”, nó ngược lại với hỉnh ảnh trong phim một người vợ đang vật vã khóc lóc tuyệt vọng bên mộ chồng.

Chiến tranh Việt Nam thực sự là nỗi ám ảnh khủng khiếp với lính Mỹ!

Những người lính luôn đặt câu hỏi: tại sao họ phải ở đây? Trên cánh đồng, trong làn nước, trong khu rừng, hay ở những ngôi làng toàn túp lều cỏ, họ chẳng thể tìm thấy Việt Cộng, nhưng chỗ nào cũng không an toàn, hầm chông hay bắn tỉa, cảm giác Việt Cộng ở khắp mọi nơi nhưng lại không thể nhìn thấy.

Tháng 3 năm 1968, một đơn vị Mỹ đã chịu tổn thất do Việt Cộng tấn công trước đó, nên tổ chức đi càn ở ngôi làng Mỹ Lai thuộc miền Trung Việt Nam. Thất vọng vì không thể tìm thấy Việt Cộng và lo lắng bị trả thù, lính Mỹ đã vây bắt đàn bà, trẻ em và người già không vũ trang, cưỡng hiếp phụ nữ, sau đó nổ súng thảm sát hơn 300 thường dân.

Dưới sự chỉ huy của Trung úy William Calley, những người lính của Đại đội Charlie nghỉ trưa, sau đó quay lại Mỹ Lai tiếp tục giết chóc và đốt cháy ngôi làng. Calley chỉ dừng tay, khi hai lính Mỹ thuộc sư đoàn trực thăng trên không đã chặn lại, họ tuyên bố sẽ quay súng bắn lại nếu Calley tiếp tục ra lệnh giết thêm phụ nữ hoặc trẻ em khác.

Quân đội Mỹ đã tìm mọi cách che đậy vụ việc. Hai người lính Mỹ ngăn chặn vụ thảm sát đã bị đe dọa, tờ báo Úc đăng tải câu chuyện vụ thảm sát đã bị kiện. Cuối cùng, nhờ những nỗ lực của nhà báo Seymour Hersch, câu chuyện đã công khai sáng tỏ, Calley đã bị đưa ra tòa án quốc gia và bị kết án ba năm.

Năm 1968, Bắc Việt đã phát động cuộc tổng tiến công và nổi dậy vào Tết Nguyên Đán, mệnh lệnh ban ra là “đánh vào đêm 30 tết Mậu Thân”. Nhưng do lịch âm Trung Quốc và lịch âm Việt Nam năm đó chênh nhau 1 ngày, miền Bắc ăn tết sớm và miền Nam ăn tết muộn theo lịch Trung Quốc, vì thế mà rất có thể đã xuất hiện 2 cách hiểu khác nhau, dẫn đến việc lệch thời gian tác chiến.

Cụ thể, chiến trường thuộc các tỉnh từ Quảng Nam đến Khánh Hoà nổ súng vào đúng đêm giao thừa miền Nam. Còn chiến trường Quảng Trị – Thừa Thiên Huế, Nam Trung Bộ, Nam Bộ lại đánh muộn hơn 1 ngày, tức là đêm 1 tết của miền Nam. Nếu nổ súng cùng lúc, có lẽ, Việt Nam đã hoàn toàn giải phóng từ năm 1968.

Tuy vậy, cuộc tổng tiến công đã gây choáng váng cho người Mỹ, hầu hết Sài Gòn và cả Đại Sứ quán Hoa Kỳ đều bị chiếm giữ. Nhưng do lệch giờ, Mỹ đã kịp sốc lại đội hình, chủ động phòng thủ, tổ chức phản công đẩy lùi được Việt Cộng và giành lại những vùng lãnh thổ đã bị chiếm mất.

Sau tết Mậu Thân: dư luận Mỹ bắt đầu lên án chiến tranh!

Nhiệm kì của Tổng thống Lyndon Johnson bị phá hỏng, các cuộc biểu tình khốc liệt diễn ra khắp nước Mỹ, Johnson phải từ chối tranh cử lần 2. Những người lính trở về từ Việt Nam, thay vì được chào đón như những vị anh hùng giống lúc học ra đi, thì lại bị công chúng phản đối như kẻ thù, thậm chí người biểu tình nhổ nước bọt.

Chiến tranh Việt Nam đã chia rẽ nội bộ nước Mỹ!

Richard Nixon, người được bầu vào vị trí tổng thống mới năm 1968, ông tuyên bố đã xây dựng một kế hoạch bí mật để chấm dứt xung đột. Thực tế Nixon chẳng có kế hoạch nào cả, ông gia tăng chiến tranh, đánh sang cả Campuchia đề phòng Bắc Việt chọn đó là hướng tấn công. Hành động của Nixon đã dấy lên phong trào biểu tình, một trong số những cuộc biểu tình tại Đại học Quốc gia Kent ở Ohio, quân đội Vệ binh Quốc gia Ohio đã nổ súng, 4 sinh viên bị bắn chết tại chỗ.

Cả nước Mỹ rúng động, bắt buộc Nixon phải rút quân bằng kế hoạch “Việt Nam hóa chiến tranh”, quân đội Hoa Kỳ đã giảm từ 540 ngàn binh lính vào năm 1968 xuống còn 60 ngàn vào năm 1972. Hòa đàm Paris bắt đầu từ ngày 10 tháng 5 năm 1968, nhưng giẫm chân tại chỗ, vì Bắc Việt yêu cầu Mỹ phải ngừng oanh tạc miền Bắc đồng thời loại bỏ Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nhưng Mỹ chỉ đồng ý ngừng bắn.

Cuối năm 1972, công chúng Mỹ phản đối chiến tranh Việt Nam dưới mọi hình thức. Nixon và cố vấn an ninh quốc gia Kissinger đã cố gắng cứu vớt “hòa bình với danh dự – peace with honor”, tìm mọi cách ép Bắc Việt ngồi vào bàn đàm phán, nhưng Hà Nội không nhượng bộ và chỉ muốn chiến thắng. Vào tháng 12 năm 1972, Nixon đã ra lệnh “ném bom Giáng sinh”, B52 rải thảm 12 ngày đêm xuống Hà Nội và các thành phố khác, nhưng đã bị phòng không Bắc Việt đánh trả, Mỹ thất bại thảm hại trên bầu trời. Nixon bắt buộc phải dừng vụ đánh bom, Hiệp địn Paris được kí vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, Mỹ chấp nhận rút quân vô điều kiện.

Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Hoa Kỳ có 58.148 lính bị thiệt mạng, với độ tuổi trung bình 23,1 tuổi, trong đó 61% dưới 21 tuổi và 11.465 binh lính dưới 20 tuổi; rất nhiều lính Mỹ là phế binh khi trở về vẫn chưa đủ tuổi vào tiệm mua mưa rượu với tư cách hợp pháp.

Cuộc chiến cũng tiêu tốn của Mỹ 140 tỉ đô la.

Hơn 2 năm sau, những ngày cuối tháng 4 năm 1975, quân đội chính quy Bắc Việt như từ dưới đất chui lên với đầy đủ súng đạn, đại bác và xe tăng; chế độ Việt Nam Cộng hòa nhanh chóng sụp đổ. Những người Mỹ còn sót lại, họ phải di tản trong cay đắng, phương tiện là những chiếc trực thăng hay máy bay chở hàng.

Những người miền Nam giàu có, họ lo sợ lịch sử sẽ lặp lại, đó là những cuộc trả thù như cải cách ruộng đất, nên họ tuyệt vọng tìm mọi cách để trốn thoát. Bất cứ ai kết hôn với một người Mỹ, hoặc đã giúp đỡ các lực lượng Mỹ trước đó, cũng đều tìm cách trốn đi.

Đất nước thống nhất, nhưng chẳng xảy ra hiệu ứng domino nào cả, việc người Mỹ với học thuyết “ngăn chặn” tạo nên cuộc chiến tranh ở Việt Nam là một sai lầm phải trả giá băng xương máu vô cùng tồi tệ. Chiến tranh cũng đã dạy cho người Mỹ bài học về sự kiêu ngạo ẩn sau nỗi ám ảnh và sự sợ hãi của các nhà lãnh đạo Mỹ trước “chủ nghĩa cộng sản”.

Năm 1995, Hoa Kỳ và Việt Nam tuyên bố bình thường hóa quan hệ. Văn hóa Việt cùng với thực phẩm và đủ các loại hàng hóa trở nên phổ biến ở Mỹ, chiều ngược lại cũng vậy. Đến hôm nay, Việt Nam đã thực sự trở thành mảnh đất màu mỡ cho các nhà tư bản Hoa Kỳ đầu tư, đúng như lời hứa hẹn của Hồ Chí Minh từ những năm 1950.

Bs Trần Văn Phúc

#ngannua

Vì Sao Công Nghiệp Ôtô Việt Nam Chưa Lớn Mạnh?

Chính phủ chủ trương phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam trở thành ngành công nghiệp quan trọng của đất nước, đáp ứng tối đa nhu cầu thị trường nội địa về các loại xe tải, xe khách thông dụng và các xe chuyên dụng; phấn đấu trở thành nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng và một số cụm chi tiết có giá trị cao trong chuỗi sản xuất công nghiệp ôtô thế giới, góp phần tăng trưởng kinh tế và thúc đẩy sự phát triển các ngành công nghiệp khác. Đây là mục tiêu của quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030.

Thực tế, để thực hiện chủ trương đó, Chính phủ đã ban hành nhiều chính sách ưu đãi về đầu tư, thuế, tín dụng cho ngành sản xuất, lắp ráp ôtô nhằm hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho doanh nghiệp sản xuất ôtô trong nước phát triển.

Theo báo cáo của Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), đến nay, tỷ lệ nội địa hóa một số dòng xe sản xuất, lắp ráp trong nước khá cao, do khả năng cung ứng các sản phẩm CNHT nội địa được cải thiện. Các chủng loại xe tải, xe khách từ 10 chỗ ngồi trở lên, xe chuyên dụng sản xuất trong nước đã đạt tỷ lệ nội địa hóa cao.

Sự phát triển của CNHT sẽ tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Việt Nam hội nhập kinh tế, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, tăng cường khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng các cụm liên kết ngành, tạo lập mạng lưới các nhà cung ứng sản phẩm đầu vào cho các doanh nghiệp khác trong nền kinh tế.

Hiện số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp ôtô và CNHT đã gia tăng liên tục với sự tham gia các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó, đóng góp đáng chú ý vào sự gia tăng này là doanh nghiệp tư nhân trong nước. Hiện trên thị trường Việt Nam đã có mặt hầu hết các hãng sản xuất ôtô lớn trên thế giới như Toyota, Honda, Ford… kéo theo một số nhà sản xuất vệ tinh và hệ thống các nhà cung ứng linh kiện phụ tùng nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.

Ông Đỗ Thắng Hải, Thứ trưởng Bộ Công Thương: Sự cạnh tranh khốc liệt của đối thủ

Thực tế cho thấy, kinh tế – xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ, chất lượng đời sống, nhu cầu của người dân ngày càng được cải thiện, nâng cao, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam còn rất nhiều dư địa để phát triển.

Tuy nhiên, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức đến từ sự cạnh tranh khốc liệt của các đối thủ. Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam phát triển muộn hơn so với các nước trong khu vực khoảng 30 năm. Thái Lan, Indonesia, Malaysia phát triển công nghiệp ôtô từ năm 1960, trong khi đến năm 1991, công nghiệp ôtô Việt Nam mới ra đời. Bởi vậy, khi Việt Nam mới đặt những viên gạch đầu tiên để xây dựng ngành công nghiệp ôtô thì công nghiệp ôtô tại các nước đã rất phát triển, tạo ra áp lực cạnh tranh lớn.

Với những chính sách khuyến khích phát triển của Chính phủ, thời gian qua, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam đã đạt được một số thành tựu đáng kể. Tỷ lệ nội địa hóa một số dòng xe sản xuất, lắp ráp trong nước khá cao. Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp ôtô và CNHT cho ngành công nghiệp ôtô đã gia tăng liên tục với sự tham gia các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. CNHT đã có sự chuyển dịch theo hướng gia tăng dần tỷ trọng doanh nghiệp sản xuất trang thiết bị, linh kiện, phụ tùng và giảm dần tỷ trọng doanh nghiệp lắp ráp, sản xuất thân và thùng ôtô. Các doanh nghiệp CNHT bên cạnh việc cung cấp sản phẩm cho thị trường nội địa đã có xuất khẩu. Năng lực về công nghệ của nhiều doanh nghiệp CNHT đã được tăng cường.

Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam phát triển muộn hơn so với các nước trong khu vực khoảng 30 năm. Thái Lan, Indonesia, Malaysia phát triển công nghiệp ôtô từ năm 1960, trong khi đến năm 1991, công nghiệp ôtô Việt Nam mới ra đời, chịu áp lực cạnh tranh lớn.

Bên cạnh những thành tựu đạt được, doanh nghiệp CNHT Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế như phát triển chậm cả về số lượng và chất lượng so với nhiều quốc gia trong khu vực. Tỷ lệ nội địa hóa đối với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi còn thấp. Máy móc, công nghệ còn tương đối lạc hậu. Chất lượng sản phẩm CNHT còn khá thấp và giá thành cao. Nhiều doanh nghiệp CNHT vẫn chưa đủ năng lực và công nghệ sản xuất để tham gia vào chuỗi giá trị ngành công nghiệp ôtô trong nước.

Từ thực trạng đó, điều kiện tiên quyết là ngành sản xuất, lắp ráp ôtô trong nước phát triển, mở ra cơ hội thị trường cho các doanh nghiệp CNHT trở thành nhà cung cấp, tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp sản phẩm cuối cùng. Theo đó, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam cần phải gắn mình vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Ông Phạm Văn Tài, Tổng giám đốc Thaco Trường Hải: Cần có chính sách đúng đắn, kịp thời

Để phát triển CNHT, Chính phủ cần có chính sách đúng đắn, kịp thời. Cụ thể, nên xem xét bỏ tiêu chuẩn để được áp dụng chính sách miễn thuế nhập khẩu linh kiện ôtô để sản xuất trong nước. Vì khi thuế nhập khẩu ôtô nguyên chiếc bằng 0% từ năm 2018, nếu vẫn áp dụng chính sách thuế nhập khẩu đối với linh kiện thì sẽ khó giảm giá thành xe sản xuất trong nước.

Mặt khác, đề nghị Chính phủ sớm xem xét giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu để sản xuất linh kiện, vật tư ôtô về 0%. Khi giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu, vật tư để sản xuất ra linh kiện thì chắc chắn giá thành sẽ giảm và kéo giá xe sản xuất trong nước giảm, cuối cùng, người tiêu dùng sẽ được lợi.

Trên thực tế, so với Thái Lan và Indonesia, sản lượng ôtô của Việt Nam còn thua xa. Thái Lan đạt khoảng 2 triệu xe/năm, Indonesia 1,3 triệu xe/năm, trong khi Việt Nam chỉ hơn 300.000 xe/năm. Mục tiêu của Việt Nam đến năm 2020, dung lượng thị trường ôtô có thể lên mức 500.000 xe.

Về nhân lực, Chính phủ nên có chính sách khuyến khích, hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực kỹ thuật cao cho ngành công nghiệp ôtô và CNHT, đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển, liên kết trong đào tạo để phát triển chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu thực tế.

Bên cạnh đó Chính phủ cần có những cơ chế quản lý chặt chẽ với những hành vi gian lận thương mại, gian lận tiêu chuẩn khí thải, bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh công bằng giữa các doanh nghiệp; có những chính sách bảo hộ hợp lý trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập ngày càng sâu rộng, trong khi doanh nghiệp trong nước chưa lớn mạnh, nền kinh tế chưa đủ sức cạnh tranh với các quốc gia có nền kinh tế phát triển.

Ông Phạm Tuấn Anh, Phó cục trưởng Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương): Xu hướng tự cung tự cấp, khép kín

Tỷ lệ nội địa hóa với xe cá nhân đến 9 chỗ ngồi ở Việt Nam còn thấp, đến nay mới chỉ đạt bình quân khoảng 7-10%. Nguyên nhân là do dung lượng thị trường trong nước còn nhỏ, ngành công nghiệp ôtô Việt Nam chưa đủ các điều kiện về thị trường cũng như các yếu tố khác để phát triển như các quốc gia trong khu vực. Trong khi đó, thị trường xuất khẩu ôtô phải chịu sự cạnh tranh gay gắt, đặc biệt từ các đối thủ cạnh tranh như Trung Quốc, Ấn Độ, các nước ASEAN.

Đến nay Việt Nam vẫn chưa có các doanh nghiệp đứng đầu chuỗi sản xuất tầm cỡ khu vực trong ngành sản xuất, lắp ráp ôtô. Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam hiện mới chỉ tham gia vào phân khúc thấp của chuỗi giá trị công nghiệp ôtô, phụ thuộc lớn vào sự phân công sản xuất của các tập đoàn ôtô toàn cầu, chưa làm chủ được các công nghệ cốt lõi để sản xuất động cơ, hệ thống điều khiển, hệ thống truyền động…

Điều đáng nói, nhiều doanh nghiệp lắp ráp ôtô Việt Nam đang đi vào con đường mà các quốc gia đi trước đã từ bỏ, đó là xu hướng tự cung tự cấp hoặc độc quyền, khép kín trong sản xuất ôtô. Thêm vào đó, do sản lượng còn quá nhỏ, nên các nhà sản xuất phần lớn phải nhập khẩu các linh kiện để lắp ráp ôtô dẫn đến chi phí rất cao cho việc đóng gói, vận chuyển, thuế nhập khẩu.

Hiện nay, hệ thống chính sách phát triển CNHT cho ngành công nghiệp ôtô còn có những mâu thuẫn, thiếu nhất quán, thiếu tính ổn định; chiến lược và quy hoạch phát triển ngành công nghiệp ôtô vẫn chưa mang lại hiệu quả…

Bà Nguyễn Thị Thanh Hằng, Phó vụ trưởng Vụ Chính sách thuế (Bộ Tài chính): Không thể giảm ngay thuế nhập khẩu linh kiện về 0%

Không thể giảm ngay thuế nhập khẩu tất cả linh kiện về 0%, bởi làm vậy thì chúng ta mất đi hàng rào bảo hộ với các linh kiện mà trong nước đã sản xuất được. Do vậy, sắp tới, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ dự thảo nghị định sửa đổi Nghị định số 125/2017/NĐ-CP, dự kiến sẽ đề xuất giảm thuế nhập khẩu về 0% với những linh kiện mà trong nước chưa sản xuất được, thời gian thực hiện ưu đãi trong 5 năm.

Mới đây, Bộ Tài chính đã có văn bản xin ý kiến các bộ, ngành về báo cáo toàn diện chính sách cho ngành công nghiệp ôtô hiện nay. Qua đó có thể khẳng định rằng, hệ thống chính sách thuế với ngành công nghiệp ôtô đã có sự ưu đãi, thể hiện sự quan tâm theo đúng định hướng Chính phủ.

Bà Đỗ Thu Hoàng, Phó tổng giám đốc Toyota Việt Nam: Dung lượng thị trường nhỏ, chi phí cao

Trước bối cảnh hội nhập hoàn toàn khu vực ASEAN vào năm 2018, thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc về 0%, ngành sản xuất xe trong nước gặp nhiều khó khăn. Khó khăn lớn nhất của ngành công nghiệp ôtô Việt Nam là dung lượng thị trường nhỏ bé, sản lượng thấp. Chẳng hạn, sản lượng xe Vios sản xuất tại Việt Nam chỉ bằng 1/8 của Thái Lan. Điều này làm cho chi phí sản xuất ôtô tại Việt Nam cao hơn các nước trong khu vực, đặc biệt là chi phí khấu hao. Do sản lượng còn quá nhỏ, nên các nhà sản xuất phần lớn phải nhập khẩu linh kiện để sản xuất ôtô, dẫn đến chi phí rất cao cho việc đóng gói, vận chuyển, thuế nhập khẩu. Mặt khác, CNHT cho ngành công nghiệp ôtô cũng không phát triển được do sản lượng ôtô sản xuất tại Việt Nam thấp. Các yếu tố bất lợi đó đã làm cho chi phí sản xuất ôtô tại Việt Nam cao hơn so với Thái Lan, Indonesia. Hiện nay, chi phí sản xuất ôtô tại Việt Nam cao hơn khoảng 10-20% so với Thái Lan và Indonesia.

Trước năm 2018, khi thuế xuất nhập khẩu từ các nước ASEAN còn ở mức cao, xe sản xuất trong nước còn có khả năng cạnh tranh được với xe nhập khẩu. Nhưng từ 2018, khi không còn bảo hộ, thuế suất nhập khẩu ôtô nguyên chiếc về 0% thì xe sản xuất trong nước không thể cạnh tranh được, rất khó khăn cho các nhà sản xuất ôtô tại Việt Nam. Trên thực tế, so với Thái Lan và Indonesia, sản lượng ôtô của Việt Nam còn thua xa. Thái Lan đạt khoảng 2 triệu xe/năm, Indonesia 1,3 triệu xe/năm, trong khi Việt Nam chỉ hơn 300.000 xe/năm.

Mục tiêu của Việt Nam đến năm 2020, dung lượng thị trường ôtô có thể lên mức 500.000 xe. Đây là thông tin rất tốt cho các nhà sản xuất ôtô tại Việt Nam, bởi dung lượng thị trường lớn sẽ kéo theo CNHT phát triển. Để phát triển CNHT, điều tiên quyết là ngành công nghiệp ôtô trong nước phát triển, mở ra cơ hội thị trường cho các doanh nghiệp CNHT trở thành nhà cung cấp, tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp sản xuất, lắp ráp sản phẩm cuối cùng.

Sắp tới, Bộ Tài chính sẽ trình Chính phủ dự thảo nghị định sửa đổi Nghị định số 125/2017/NĐ-CP, dự kiến sẽ đề xuất giảm thuế nhập khẩu về 0% với những linh kiện mà trong nước chưa sản xuất được, thời gian thực hiện ưu đãi trong 5 năm.

Để có thể duy trì hoạt động và phát triển, chúng tôi mong đợi sớm có các chính sách thúc đẩy thị trường ôtô tăng trưởng ổn định và dài hạn. Các chính sách về thị trường cần công bằng, minh bạch và có thời gian hợp lý để các doanh nghiệp chuẩn bị kế hoạch kinh doanh. Ngoài ra, Chính phủ có thể hỗ trợ sản xuất ôtô trong nước trong bối cảnh thuế nhập khẩu xe nguyên chiếc từ các nước ASEAN đã về 0% từ năm 2018.

Chúng tôi cho rằng, các chính sách thuế nên được triển khai để tạo ra sức cạnh tranh cho ôtô sản xuất trong nước về dài hạn. Thuế tiêu thụ đặc biệt có thể là giải pháp hợp lý. Tuy nhiên, có thể cân nhắc việc bảo hộ vừa đủ cho ôtô sản xuất trong nước để tăng cạnh tranh; bình đẳng về cơ hội hưởng ưu đãi cho các nhà sản xuất ôtô… Cùng với đó, Chính phủ nên có ưu đãi với các nhà sản xuất và nhà cung cấp linh kiện, phụ tùng để họ có thể đầu tư vào máy móc, khuôn và đồ gá, nhằm tăng nội địa hóa linh kiện, qua đó giảm bớt tác động bất lợi của quy mô sản lượng thấp.

Đức Minh