Top 20 # Xem Nhiều Nhất Www Tim Hieu Dichvucong Hanoi Gov Vn / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Tim Hieu Kinh Phap Cu / 2023

Người có lòng thành kính tin vào Đức Phật và theo Đạo Phật không phải chỉ hàng ngày thắp nhang đảnh lễ trước bàn thờ Phật, niệm Phật hoặc đọc dăm ba câu kinh, thỉnh vài hồi chuông, gõ đôi tiếng mõ hay lâu lâu rủ nhau đến chùa lễ bái là đủ. Chúng ta cần tìm hiểu rõ những lời dạy của Đức Phật vì Đức Phật đã từng nói rằng: “Tin ta mà không hiểu ta, ấy là bài báng ta.”

Các kinh điển ghi lại lời dạy của Đức Phật thời rất nhiều, giáo lý của Đức Phật mênh mông bát ngát như biển cả, nhưng nói chung không có tính cách độc đoán và bí hiểm như những tín điều trong một số đạo khác. Kinh điển của Đạo Phật chỉ là những lời giảng dạy của một người như chúng ta, nhưng vị đó đã giác ngộ hoàn toàn. Vị đó đem những sự hiểu biết và kết quả tu tập được của chính bản thân mà diễn giảng cho chúng ta nghe để chúng ta tự suy nghĩ. Khi đã suy nghĩ kỹ rồi thời chúng ta thử áp dụng. Nếu nhận thấy đó là chân lý lúc đó chúng ta sẽ tin. Lòng tin bấy giờ mới thật là sáng suốt, chân chính và sẽ bền vững.

Kinh Pháp Cú thường được coi là cuốn kinh tóm thâu tinh hoa giáo lý của Đức Phật. Kinh Pháp Cú đã được nhiều vị dịch sang tiếng Việt, khi thì dưới hình thức những câu “kệ”, khi thì thành “thơ”, khi thì thành “văn xuôi” v.v… Trong cuốn “TÌM HIỂU KINH PHÁP CÚ” này, để cho giản tiện, soạn giả đã chỉ trích dẫn những câu “Pháp Cú” trong cuốn Kinh Pháp Cú được chuyển dịch thành thể thơ “lục bát” do soạn giả hoàn tất và được xuất bản vào năm 2003.

Khi soạn thảo cuốn Kinh Pháp Cú chuyển dịch thành thể thơ “lục bát” nói trên soạn giả đã tham khảo một số tài liệu quý báu về Kinh Pháp Cú viết bằng tiếng Anh và tiếng Việt. Các tác phẩm tiếng Anh đa số được dịch trực tiếp từ nguyên bản tiếng Pali. Các tác phẩm tiếng Việt thì được dịch từ nguyên bản Pali hay được dịch theo bản chữ Hán hoặc tiếng Anh. Muốn cho đại đa số quần chúng khi đọc Kinh Pháp Cú cảm thấy dễ hiểu, soạn giả khi chuyển dịch thơ đã cố gắng xử dụng chữ Việt với những ngôn từ bình dị, tránh dùng nhiều chữ Hán và những danh từ triết học hoặc đạo học cao siêu. Đôi khi một vài lời giải thích cũng đã được chuyển thành thơ và thêm vào trong bài. Để hoàn thành tác phẩm người dịch trong khi sắp xếp ngôn từ và tứ thơ đôi khi đã phải thêm bớt một vài chữ, hoán chuyển một vài câu trong cùng một bài, nhưng vẫn cố gắng chuyên chở đầy đủ ý nghĩa trong các lời dạy của Đức Phật.

Soạn giả khi chuyển dịch thơ đã ước mong rằng những vần thơ “lục bát”, một thể loại thơ đầy tình tự dân tộc, sẽ để lại trong tâm tư người đọc cũng như người nghe những tình cảm nhẹ nhàng thanh thoát vì thơ đầy nhạc tính và vang lên những âm điệu thân thương như những lời ru nơi quê mẹ. Ngôn ngữ có bình dị mới dễ hiểu. Thêm vần thêm điệu mới dễ đọc, dễ nghe. Từ đó mới dễ nhớ, dễ thuộc. Có nhớ, có thuộc mới dễ áp dụng những lời vàng ngọc Đức Phật dạy vào cuộc sống hàng ngày.

Trong cuốn “TÌM HIỂU KINH PHÁP CÚ” này có phần “tích truyện” được thuật lại một cách ngắn gọn và thêm vào câu Pháp Cú trích dẫn nhắm mục đích để cho người đọc rõ là trong trường hợp nào Đức Phật đã tuyên dạy câu Pháp Cú đó và cũng để người đọc dựa vào tích truyện mà hiểu thêm được ý nghĩa lời của Đức Phật.

Soạn giả cũng dựa vào một số bài giảng, bài viết và tài liệu về Kinh Pháp Cú cùng Phật Học Phổ Thông đã từng được phổ biến từ lâu nay để tóm lược và ghi lại trong sách một số khái niệm căn bản về Phật Giáo hầu giúp cho người đọc biết rõ con đường đạo mà mình đang dấn bước.

Người đọc nếu sẵn nhiệt tâm hướng về đạo pháp nên nghiền ngẫm và thường xuyên suy niệm về những lời vàng ngọc chứa đựng trong kinh rồi đem ra thực hành, áp dụng vào cuộc sống hàng ngày của mình. Hãy tự thanh lọc thân tâm. Chắc chắn người đọc có thể thâu hoạch được một niềm vui về tinh thần vượt lên cao hơn tất cả những thứ hạnh phúc khác trên thế gian, sẽ gặt hái được nhiều lợi ích cho chính bản thân mình ngay trong hiện tại cũng như trong tương lai. Người đọc sẽ thấy Kinh Pháp Cú luôn đem lại nguồn cảm hứng, an ủi, nâng đỡ, hộ trì và cải thiện tâm linh của mình trên những bước thăng trầm trong cuộc sống. Lời kinh khơi nguồn cảm hứng cao đẹp và mở ra một lối đi đầy hương hoa, tạo ra một sức mạnh cảm hóa kỳ diệu, giúp cho người đọc có một niềm tin vững chắc hơn trên con đường tu học để tiến đến bến bờ giác ngộ và nhờ đó mà được giải thoát.

Tư tưởng Pháp Cú là bức thông điệp muôn thuở mà Ðức Phật đã truyền đạt cho con người trong cõi nhân gian với mục đích là dạy cho con người nhận chân được cuộc sống. Sống đúng nghĩa. Sống cao thượng. Kinh Pháp Cú xưa nay thường được xem như là cao điểm của tư tưởng hướng thượng hiền thiện. Trong công việc tu học để đạt đến chân lý, Đức Phật đã từng tuyên bố rõ ràng rằng Ngài chỉ là người dẫn đường chỉ nẻo chứ Ngài không thể “cứu rỗi” hay tu thay cho ai được cả và con người phải tự mình tu để giải thoát cho chính mình. Công trình tu tập và kết quả đạt được hoàn toàn nằm trong tay chúng ta. Chư Phật là ánh sáng. Chúng ta là con mắt. Nhờ ánh sáng mà mắt mới nhìn thấy được vũ trụ, vạn vật. Nhưng có ánh sáng mà không chịu mở mắt để nhìn thì cũng chẳng trông thấy gì. Ánh sáng của Phật bao giờ cũng chiếu đồng đều khắp mọi nơi cho tất cả mọi người. Ý chí muốn mở mắt ra để nhìn là việc của chúng ta. Không một vị Phật, một vị Bồ Tát hay một người nào khác làm hộ chúng ta chuyện đó được.

Ước mong sao những lời dạy của Đức Phật trong tập Kinh Pháp Cú sẽ là ngọn đuốc rực rỡ soi sáng dẫn đường, là ngón tay chỉ hướng cho mọi hành động, ngôn ngữ, tâm tư của người đọc và do đó đem lại an lạc và hạnh phúc. Tự mình nghe theo lời Phật dạy mà tu sửa, rồi tự mình sẽ giác ngộ và sự giác ngộ đó sẽ giúp cho mình được giải thoát khỏi vòng luân hồi sinh tử đầy khổ đau. Niết Bàn yên vui tươi sáng đang chờ chúng ta. Chúng ta mỗi ngày cố gắng đi một chút chắc chắn thế nào cũng sẽ tới đích, cũng sẽ thành công.

Xin trân trọng giới thiệu đến các độc giả cuốn “TÌM HIỂU KINH PHÁP CÚ” của soạn giả là cư sĩ Tâm Minh Ngô Tằng Giao, một cuốn sách vừa hữu ích lại lý thú vì sách đã đề cập được tới khá nhiều tình tiết trong Kinh Pháp Cú. Mong rằng tác phẩm này sẽ góp được một phần nhỏ bé và khiêm tốn trong việc truyền bá Phật Pháp.

NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT

NGUỒN GỐC KINH PHÁP CÚ

Kinh, Luật, Luận đều gọi là ” Tạng” vì chữ tạng có nghĩa là cất, chứa. Trong ba Tạng kinh điển này chứa đựng đầy đủ toàn bộ giáo lý của Đạo Phật. Kinh điển của Phật giáo được chép lại thành hai thứ văn: văn Pali và văn Phạn (Sanskrit).

” Kinh Pháp Cú” (Dhammapada) là một trong 15 quyển kinh thuộc Tiểu Bộ Kinh trong Kinh Tạng Pali. Đây là một quyển kinh Phật Giáo rất phổ thông và đã được dịch ra nhiều thứ tiếng quan trọng trên thế giới. Nhiều tác giả coi bộ kinh này như là Thánh Thư của Đạo Phật. “Pháp” (Dhamma) có nghĩa là đạo lý, chân lý, giáo lý. “Cú” (Pada) là lời nói, câu kệ. “Pháp Cú” là những câu nói về chánh pháp, những câu ghi chép lời dạy của Đức Phật nên “Kinh Pháp Cú” còn được gọi là “Kinh Lời Vàng” hoặc “Lời Phật Dạy”. Ngoài ra, trong ngữ văn Pali, “Pada” còn có nghĩa là con đường. Do đó, Dhammapada cũng thường được dịch là “Con Đường Chân lý” hay “Con Đường Phật Pháp”.

Kinh Pháp Cú là một tập hợp những câu dạy ngắn gọn nhưng đầy ý nghĩa của Đức Phật Thích Ca trong ba trăm trường hợp giáo hóa khác nhau. Những câu này do chính Đức Phật khi còn tại thế nói ra trong suốt gần nửa thế kỷ thuyết pháp của Ngài. Ngài giảng dạy bằng lời nói chứ không viết sách. Ba tháng sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn thời các vị đại đệ tử của Đức Phật mới nhóm họp để đọc lại và ghi chép, kết tập những giáo pháp của Ngài. Các câu Pháp Cú được các vị đại đệ tử sắp xếp thành 423 bài “kệ”, chia ra làm 26 “phẩm” theo như hình thức hiện nay để cho thích hợp với giới độc giả và người nghe. Kinh Pháp Cú cũng được tụng đọc trong Đại Hội Kết Tập Kinh Điển lần đầu tiên này.

Trong Kinh Pháp Cú người đọc sẽ thấy những lời dạy về triết lý và luân lý cho cả hai giới xuất gia và tại gia. Những lời dạy cho hàng xuất gia tất nhiên không bao hàm hàng tại gia, nhưng những lời dạy cho hàng tại gia đương nhiên có thể áp dụng cho cả hàng xuất gia. Do đó dù ở cương vị nào người đọc cuốn kinh này cũng thu nhập được nhiều lợi ích thanh cao. Hơn nữa những người muốn đi tìm chân lý, dầu theo tín ngưỡng nào chăng nữa, đều có thể thấy hứng thú và bổ ích khi đọc bộ Kinh Pháp Cú này. Giới học giả và người có trình độ học thức Tây phương, không phân biệt niềm tin tôn giáo, đã nghiên cứu bộ Kinh Pháp Cú nhằm giúp họ phát triển về tâm linh để mà tự bản thân họ có thể thanh tịnh hóa tâm thức của mình khiến cho không còn bị nhiễm ô bởi đám mây vô minh che khuất. Ngày nay, nhiều người Âu Châu bắt đầu theo Đạo Phật và tìm hiểu kinh điển Phật Giáo. Họ nhận ra rằng kinh điển Phật Giáo thường chỉ nêu ra chân lý cho toàn thể nhân loại chứ không mang tính chất giáo điều.

Kinh Pháp Cú có những bài kệ được kết hợp với những ví dụ cụ thể rất sinh động, súc tích, và cảm hứng đến nỗi cuốn kinh có thể được xem như là bộ tuyển tập thánh điển cổ xưa nhất trên thế giới và là một trong những bộ thánh điển thiêng liêng nhất của Đông phương. Nhiều học giả quốc tế chuyên về tôn giáo và thần học đã từng nói đại ý rằng: “Kinh điển của Phật Giáo thật quả là nhiều, nhưng nếu giả dụ một ngày nào đó tất cả các kinh điển này bị thất lạc hay bị thiêu hủy đi hết mà chỉ còn lưu giữ lại được một cuốn Kinh Pháp Cú này thôi thì chúng ta cũng tạm coi như có đủ những gì cần thiết để noi theo giáo lý của Đức Phật”.

Tại các nước theo Phật Giáo Nam Tông, các Sa di phải học thuộc lòng Kinh Pháp Cú. Riêng tại Việt Nam ta, kinh này không được xếp vào danh sách các kinh để tụng niệm hàng ngày nên kinh ít được biết đến.

Tim Hieu Phap Hanh Thien Tue / 2023

Vipassanāpariyesanā Tỳ khưu HỘ PHÁP(Dhammarakkhita Bhikkhu)

Tổ đình Bửu Long, Long Bình, Q.9, Tp. Hồ Chí Minh Phật lịch 2546 / 2002

-ooOoo-

LỜI CHÂN THÀNH BIẾT ƠN (Tái bản lần thứ nhất)

Lời nói đẩu tiên của bần sư là lời chân thành biết ơn những bạn đọc, bậc thiện trí đã dành thì giờ quý báu của mình để đọc quyển sách “Tìm Hiểu Pháp Hành Thiền Tuệ”, đã phát hiện ra những sơ sót của bần sư, khiến cho bần sư vô cùng cảm kích trước thiện tâm trong sáng, xây dựng của quý vị. Đó là điều thôi thúc trong lòng bần sư, quyết tâm tái bản cho kỳ được, để sửa chữa những sơ sót mà quý vị đã chỉ giáo.

Tái bản lần này, bần sư đã sửa chữa những sơ sót, bớt phần dư, bổ sung vào phần thiếu, trình bày lại cho mạch lạc, để đền đáp một phần công ơn của quý vị đã quan tâm tìm hiểu quyển sách này.

Tuy nhiên, khả năng của bần sư có hạn, dầu cho cố gắng đến đâu đi nữa, chắc chắn cũng không tránh khỏi những sơ sót chưa tìm thấy, thậm chí còn có chỗ sai ngoài khả năng của bần sư.

Bần sư kính xin quý vị xem soạn phẩm này như là của chung, mà mỗi người trong chúng ta ai cũng có phần đóng góp xây dựng để cho quyển sách này được hoàn hảo, đó cũng là công lao giúp duy trì giáo pháp của Đức Phật được trường tồn trên quê hương thân yêu của chúng ta, để đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc lâu dài cho mình, mọi người và chúng sinh.

Bần sư chân thành biết ơn quý vị !

Tỳ Khưu Hộ Pháp Núi rừng Viên Không Phật Lịch 2546-2002

Namo Tassa Bhagavato Arahato Sammāsambuddhassa Con đem hết lòng thành kính đảnh lễ Ðức Thế Tôn, Bậc Arahán, Bậc Chánh Ðẳng Giác

Paṇāmagāthā

Buddhaṃ Bhagavantaṃ seṭṭhaṃ, Ādaraṃ abhivandiya. Buddhassa Dhammosadhañca, Ādimajjhantakaḷyanaṃ. Buddhasāvakasaṃghañca, Puññakkhettaṃ anuttaraṃ.“Vipassanāpriyesanā”, Katā me aṭṭhasaṅgahā.

KỆ LỄ BÁI TAM BẢO

Chúng con đem hết lòng thành kính, Ðảnh lễ Ðức Thế Tôn cao thượng, Cùng Pháp của Ngài, như linh dược, Hoàn hảo đoạn đầu, giữa và cuối, Cùng chư Thánh Tăng đệ tử Phật, Phước điền cao thượng của chúng sinh. Con xin biên soạn tập sách nhỏ,“Tìm hiểu về Pháp Hành Thiền Tuệ”.

-ooOoo-

Ðức Phật hằng ngày thường giáo huấn chư Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, cận sự nam, cận sự nữ rằng:

“Bhikkhave, appamādena sampādetha, Dullabho Buddhuppādo lokasmiṃ…”. [1]

“Này chư Tỳ khưu, các con hãy nên cố gắng tinh tấn hoàn thành mọi phận sự Tứ thánh đế bằng pháp hành Tứ niệm xứ. Bởi vì, Ðức Phật xuất hiện trên thế gian này là một điều khó!…”.

Thật vậy, trong Chú giải Trường bộ kinh [2] có ghi:

Có khi trải qua khoảng thời gian lâu dài vô số đại kiếp trái đất [3], mà chẳng có một Ðức Phật nào xuất hiện trên thế gian, gọi là suññakappa.

Thật diễm phúc biết dường nào! Trong kiếp trái đất hiện tại mà chúng ta đang sống gọi là Bhaddakappa, có nhiều nhất, đến 5 Ðức Phật xuất hiện trên thế gian:

Thời quá khứ, có 3 Ðức Phật đã xuất hiện trên thế gian là Ðức Phật Kakusandha, Ðức Phật Koṇāgamana, Ðức Phật Kassapa.

Thời hiện tại, Ðức Phật Gotama của chúng ta đã xuất hiện, nay, tuy Ngài đã tịch diệt Niết Bàn, song giáo pháp của Ngài vẫn còn lưu truyền trên thế gian này đến 5.000 năm. Ðến nay, giáo pháp của Ngài đã được lưu truyền trên 2.540 năm rồi và chỉ còn lưu truyền trong một thời gian khoảng 2.560 năm nữa, đủ 5.000 năm sẽ bị hoại diệt hoàn toàn. Bởi vì, loài người chẳng còn ai biết đến Ðức Phật, Ðức Pháp và Ðức Tăng nữa

Thời vị lai, còn Ðức Phật Metteyya sẽ xuất hiện trên thế gian.

Khi có Ðức Phật xuất hiện trên thế gian, thì mới có pháp hành thiền tuệ (vipassanābhāvanā). Khi có pháp hành thiền tuệ, thì chúng sinh có duyên lành mới có thể học và hành theo pháp hành thiền tuệ để dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, là pháp giải thoát mọi cảnh khổ sanh, lão, bệnh, tử… đạt đến sự an lạc tuyệt đối.

Ðức Phật dạy trong Kinh Ðại Niết Bàn [4] có đoạn:

Một thuở nọ, Ðức Thế Tôn ngự đến làng Koṭigāma, Ngài dạy chư Tỳ khưu rằng:

“Này chư Tỳ khưu, bởi vì chưa chứng ngộ, chưa thấu triệt chân lý Tứ thánh đế, nên Như Lai và các con phải chịu tử sanh luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác, trải qua suốt thời gian dài vô tận như thế ấy”.

Vậy, chân lý Tứ thánh đế là gì?

Này chư Tỳ khưu, bởi vì chưa chứng ngộ, chưa thấu triệt Khổ thánh đế, nên Như Lai và các con phải chịu tử sanh luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác trải qua suốt thời gian dài vô tận như thế.

Này chư Tỳ khưu, bởi vì chưa chứng ngộ, chưa thấu triệt Nhân sanh Khổ thánh đế, nên Như Lai và các con phải chịu tử sanh luân hồi…

Này chư Tỳ khưu, bởi vì chưa chứng ngộ, chưa thấu triệt Diệt Khổ thánh đế, nên Như Lai và các con phải chịu tử sanh luân hồi…

Này chư Tỳ khưu, bởi vì chưa chứng ngộ, chưa thấu triệt Pháp hành dẫn đến Diệt Khổ thánh đế, nên Như Lai và các con phải chịu tử sanh luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác, trải qua suốt thời gian dài vô tận như thế.

Này chư Tỳ khưu, nay, Như Lai đã chứng ngộ, đã thấu triệt Khổ thánh đế; Như Lai đã chứng ngộ, đã thấu triệt Nhân sanh Khổ thánh đế; Như Lai đã chứng ngộ, đã thấu triệt Diệt Khổ thánh đế; Như Lai đã chứng ngộ, đã thấu triệt Pháp hành dẫn đến Diệt Khổ thánh đế. Như Lai đã diệt đoạn tuyệt gốc rễ tham ái là nhân sanh khổ rồi, không còn tham ái dắt dẫn đi tái sanh trong kiếp lớn kiếp nhỏ nữa, Như Lai chẳng còn phải tái sanh kiếp nào nữa…”.

Pháp hành dẫn đến pháp Diệt Khổ thánh đế, đó là pháp hành Bát chánh đạo hợp đủ tám chánh: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định; đó là 8 tâm sở: trí tuệ tâm sở, hướng tâm tâm sở, chánh ngữ tâm sở, chánh nghiệp tâm sở, chánh mạng tâm sở, tinh tấn tâm sở, niệm tâm sở, nhất tâm tâm sở cùng với 28 tâm sở khác đồng sanh trong 4 Thánh Ðạo Tâm và 4 Thánh Quả Tâm thuộc về siêu tam giới tâm, có Niết Bàn làm đối tượng.

Như vậy, Pháp hành Bát chánh đạo hợp đủ 8 chánh không phải là pháp hành bắt đầu tiến hành, hoặc đang tiến hành, mà là pháp thành ở giai đoạn kết quả cuối cùng, đã hoàn thành xong mọi phận sự của Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả và Niết Bàn.

Sự bắt đầu của pháp hành Bát chánh đạo là bắt đầu từ chánh niệm; đó là niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp gọi là pháp hành Tứ niệm xứ.

Trong kinh Ðại Tứ niệm xứ, Ðức Phật thuyết giảng bắt đầu bằng câu:

“Ekāyano ayaṃ bhikkhave maggo…”.

Này chư Tỳ khưu, đạo này là con đường duy nhất, để dẫn đến sự trong sạch, thanh tịnh hoàn toàn mọi phiền não, ô nhiễm trong tâm bậc Chánh Ðẳng Giác, chư Phật Ðộc Giác, chư Thánh Thanh Văn Giác; để diệt sự sầu não, than khóc; để diệt sự khổ thân, khổ tâm; để chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả; để chứng ngộ Niết Bàn. Ðạo duy nhất này là pháp hành Tứ niệm xứ…“.[5]

Pháp hành Tứ niệm xứ là: niệm thân, niệm thọ, niệm tâm, niệm pháp cũng chính là niệm danh pháp, niệm sắc pháp, mà danh pháp, sắc pháp là đối tượng của pháp hành thiền tuệ.

Như vậy, tiến hành Tứ niệm xứ hoặc tiến hành thiền tuệ đều đưa đến kết quả hoàn toàn giống nhau. Ðó là chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, là pháp siêu tam giới.

Pháp Hành Thiền Tuệ là pháp hành chỉ có trong Phật giáo, hoàn toàn không có ngoài Phật giáo. Pháp hành này có từ khi Ðức Phật xuất hiện trên thế gian và trong giáo pháp của Ngài.

Đức Thế Tôn có danh hiệu là “Sammāsambuddha”: Bậc Chánh Ðẳng Giác, bởi vì chính tự Ngài là Bậc đầu tiên tiến hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh Arahán đầu tiên trong 10 muôn triệu thế giới chúng sinh. Do đó, gọi là bậc Chánh Ðẳng Giác.

Và Ðức Thế Tôn có danh hiệu “Buddha”: Ðức Phật, bởi vì chính tự Ngài là Bậc đầu tiên tiến hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn; rồi đem ra giáo huấn chúng sinh: nhân loại, chư thiên, phạm thiên…, cũng chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn như Ngài đã chứng ngộ. Do đó, gọi là Ðức Phật.

Pháp hành thiền tuệ là pháp hành dẫn đến sự giải thoát khổ tái sanh. Sự giải thoát khổ tái sanh theo khả năng của mỗi bậc Thánh nhân như sau:

Hạng thiện trí phàm nhân tiến hành thiền tuệ có thể dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Nhập Lưu Thánh Ðạo, Nhập Lưu Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Nhập Lưu (Sotāpanna), là bậc Thánh thứ nhất trong Phật giáo. Bậc Thánh Nhập Lưu này, được giải thoát khổ tái sanh trong 4 cõi ác giới (địa ngục, atula, ngạ quỷ và súc sanh), chỉ còn tái sanh cõi thiện giới: làm người hoặc chư thiên ở 6 cõi trời dục giới, nhiều nhất đến 7 kiếp. Trong kiếp thứ 7 chắc chắn sẽ chứng đắc Arahán Thánh Ðạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt sự tử sanh luân hồi trong tam giới.

Bậc Thánh Nhập Lưu, nếu tiếp tục tiến hành thiền tuệ, có thể dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Nhất Lai Thánh Ðạo, Nhất Lai Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Nhất Lai (Sakadāgāmi), là bậc Thánh thứ nhì trong Phật giáo. Bậc Thánh Nhất Lai này, chỉ còn khổ tái sanh một kiếp làm người hoặc làm chư thiên cõi trời dục giới mà thôi. Trong kiếp ấy chắc chắn sẽ chứng đắc Arahán Thánh Ðạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sanh luân hồi trong tam giới.

Bậc Thánh Nhất Lai, nếu tiếp tục tiến hành thiền tuệ, có thể dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Bất Lai Thánh Ðạo, Bất Lai Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Bất Lai (Anāgāmi), là bậc Thánh thứ ba trong Phật giáo. Bậc Thánh Bất Lai này, không còn khổ tái sanh trở lại cõi dục giới, mà chỉ còn tái sanh làm Phạm thiên ở cõi trời sắc giới. Ở tại cõi trời ấy, chắc chắn sẽ chứng đắc Arahán Thánh Ðạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán rồi tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt tử sanh luân hồi trong tam giới.

Bậc Thánh Bất Lai, nếu tiếp tục tiến hành thiền tuệ có thể dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Arahán Thánh Ðạo, Arahán Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán (Arahanta), là bậc Thánh thứ tư cao thượng nhất trong Phật giáo.

Bậc Thánh Arahán đã hoàn toàn diệt đoạn tuyệt mọi tham ái, cùng tất cả mọi phiền não, ác pháp không còn dư sót; đã hoàn thành mọi phận sự của Tứ thánh đế, đã hoàn thành xong phạm hạnh; ngay kiếp hiện tại, đến khi hết tuổi thọ, tịch diệt Niết Bàn, giải thoát khổ tái sanh, chấm dứt tử sanh luân hồi trong tam giới.

Vậy, Pháp Hành Thiền Tuệ này đưa đến mục đích cuối cùnglà tịch diệt Niết Bàn, giải thoát khổ tái sanh ở kiếp sau. Vì nếu còn tái sanh dầu cõi dục giới, cõi sắc giới hay cõi vô sắc giới, cũng còn phải chịu khổ của danh pháp, sắc pháp. Giải thoát khổ tái sanh là giải thoát hoàn toàn tất cả mọi cảnh khổ. Ðó là Niết Bàn, Diệt Khổ thánh đế.

Nên Ðức Phật dạy:

“Natthi rāgasamo aggi, Natthi dosasamo kali. Natthi khandhasamā dukkhā, Natthi santiparaṃ sukhaṃ”.

[6]

Không có lửa nào, như lửa tình dục. Không có tội nào, như tội sân hận. Không có khổ nào, như khổ ngũ uẩn. Không có lạc nào, hơn lạc Niết Bàn.

“Nibbānaṃ paramaṃ sukhaṃ” [7]. Niết Bàn là an lạc tuyệt đối.

“Nibbānaṃ paramaṃ vadanti Buddhā…”. [8] Chư Phật Toàn Giác, chư Phật Ðộc Giác, chư Thánh Thanh Văn Giác đồng tán dương ca tụng Niết Bàn cao thượng nhất.

Niết Bàn là mục đích tột cùng của chư Phật Toàn Giác, chư Phật Ðộc Giác, chư Thánh Thanh Văn Giác và cũng là mục đích chung cho các hàng Phật tử xuất gia và tại gia cư sĩ.

Những nguyên nhân xa và gần để chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành Ðức Phật Toàn Giác, Ðức Phật Ðộc Giác, bậc Thánh Thanh Văn Giác, đều tùy thuộc vào sự tròn đủ 10 pháp hạnh ba la mật.

Mười pháp hạnh ba la mật (pāramī) là:

1- Bố thí ba la mật (Dānapāramī). 2- Giữ giới ba la mật (Sīlapāramī). 3- Xuất gia ba la mật (Nekkhammapāramī). 4- Trí tuệ ba la mật (Paññāpāramī). 5- Tinh tấn ba la mật (Vīriyapāramī). 6- Nhẫn nại ba la mật (Khantipāramī). 7- Chân thật ba la mật (Saccapāramī). 8- Chí nguyện ba la mật (Addhiṭṭhānapāramī). 9- Tâm từ ba la mật (Mettāpāramī). 10- Tâm xả ba la mật (Upekkhāpāramī).

Pāramī: ba la mật, có nhiều nghĩa. Nghĩa chính yếu của pháp hạnh ba la mậtlà ṅhân duyên chính để dẫn đến sự chứng ngộ Niết Bàn cao thuợng”. Vìvậy, không phải bố thí, giữ giới, xuất gia…, nào cũng trở thành ba la mật được.

Ðiều kiện trở thành ba la mật phải có thiện tâm hoàn toàn trong sạch, không bị ô nhiễm do bởi tham ái (taṇhā), ngã mạn (māna), tà kiến (diṭṭhi), và đồng thời hợp với tâm đại bi (mahākaruṇā) và trí tuệ hướng đến chứng đạt cứu cánh Niết Bàn (upāyakosallañāṇa). Nhờ hợp đủ điều kiện như vậy, thì sự bố thí, giữ giới, xuất gia…, mới trở thành pháp hạnh ba la mật.

Pháp hạnh ba la mật quyết định sự thành tựu nguyện vọng của mỗi vị Bồ Tát như sau:

Ðể trở thành bậc Thánh Thanh Văn bậc thường (Ariyasāvaka): Vị Bồ Tát Thanh Văn ấy (Sāvakabodhisatta) cần phải tạo trọn đủ 10 pháp hạnh ba la mật, trong suốt một thời gian nhanh nhất cũng gần 100 ngàn đại kiếp rồi phải có duyên lành gặp Ðức Phật Toàn Giác hoặc giáo pháp của Ðức Phật ấy, được nghe, được hiểu biết chánh pháp rồi tiến hành thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Thanh Văn.

Ðức Phật Gotama có vô số bậc Thánh Thanh Văn bậc thường.

Ðể trở thành bậc Thánh Ðại Thanh Văn (Mahāsāvaka). Vị Bồ Tát đại Thanh Văn ấy (Mahāsāvakabodhisatta) cần phải tạo trọn đủ 10 pháp hạnh ba la mật, trong suốt thời gian 100 ngàn đại kiếp, rồi chắc chắn phải có duyên lành gặp Ðức Phật Toàn Giác, được nghe từ kim ngôn của Ðức Phật, tiến hành thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán đại Thanh Văn.

Ðức Phật Gotama có 80 vị Thánh đại Thanh Văn.

Ðểtrở thành bậc Thánh Tối thượng Thanh Văn (Aggasāvaka): Vị Bồ Tát tối thượng Thanh Văn ấy (Aggasāvakabodhisatta), cần phải tạo trọn đủ 10 pháp hạnh ba la mật trong suốt thời gian một a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp, rồi chắc chắn có duyên lành gặp Ðức Phật Toàn Giác, được nghe từ kim ngôn của Ðức Phật rồi tiến hành thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán tối thượng Thanh Văn.

Ðức Phật Gotama có 2 vị Thánh tối thượng Thanh Văn. Ðó là: Ðại Ðức Sāriputta và Ðại Ðức Mahāmoggallāna.

* Ðểtrở thành Ðức Phật Ðộc Giác (Paccekabuddha):Vị Bồ Tát Ðộc Giác ấy (Paccekabodhisatta), cần phải tạo trọn đủ 20 pháp hạnh ba la mật: 10 pháp hạnh ba la mật bậc thường và 10 pháp hạnh ba la mật bậc trung, trong suốt thời gian 2 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Vào thời kỳ không có Ðức Phật Toàn Giác xuất hiện trên thế gian, vị Bồ Tát Ðôïc Giác này không cần phải nghe, học hỏi từ một vị thầy nào khác, mà chỉ tự chính mình tiến hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán, gọi là Ðức Phật Ðộc Giác.

Ðức Phật Ðộc Giác, chính Ngài chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, nhưng không thể giáo huấn chúng sinh cùng chứng ngộ chân lý như Ngài. Ðức Phật Ðộc Giác có thể có hàng trăm hàng ngàn vị, song mỗi vị đều tự chính mình chứng đắc.

* Ðể trở thành Ðức Phật Toàn Giác, gọi là Bậc Chánh Ðẳng Giác (Sammāsambuddha): Vị Bồ Tát Chánh Ðẳng Giác ấy (Sammāsambodhisatta), cần phải tạo trọn đủ 30 pháp hạnh ba la mật: 10 pháp hạnh ba la mật bậc thường, 10 pháp hạnh ba la mật bậc trung và 10 pháp hạnh ba la mật bậc thượng. Thời gian để tạo 30 pháp hạnh ba la mật khác nhau tùy theo ba hạng Bồ Tát như sau:

1- Ðối với Ðức Bồ Tát có trí tuệ ưu việt (Paññādhika), tức là trí tuệ có năng lực hơn cả đức tin và tinh tấn. Khi Ðức Bồ Tát đã được Ðức Phật thọ ký xong rồi còn cần phải tạo 30 pháp hạnh ba la mật thêm suốt thời gian 4 a tăng kỳ [9] và 100 ngàn đại kiếp [10] nữa. Ðức Bồ Tát này không cần phải nghe hay học hỏi từ một vị thầy nào khác, mà tự chính mình tiến hành thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Arahán đầu tiên xuất hiện trên thế gian, gọi là Bậc Chánh Ðẳng Giác, hoặc Ðức Phật Toàn Giác, độc nhất vô nhị.

2- Ðốivới Ðức Bồ Tát có đức tin ưu việt (Saddhādhika),tức là đức tin có năng lực hơn cả trí tuệ và tinh tấn. Khi Ðức Bồ Tát đã được Ðức Phật thọ ký xong rồi còn cần phải tạo 30 pháp hạnh ba la mật thêm trong suốt thời gian gấp đôi Ðức Bồ Tát có trí tuệ ưu việt, là 8 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Ðức Bồ Tát này không cần phải nghe hay học hỏi từ vị thầy nào khác, mà tự chính mình tiến hành thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả trở thành bậc Thánh Arahán đầu tiên xuất hiện trên thế gian, gọi là Bậc Chánh Ðẳng Giác, hoặc Ðức Phật Toàn Giác, độc nhất vô nhị.

3- Ðối với Ðức Bồ Tát có tinh tấn ưu việt (Vīriyādhika),tức là tinh tấn có năng lực hơn cả trí tuệ và đức tin. Khi Ðức Bồ Tát đã được Ðức Phật thọ ký xong rồi, còn cần phải tạo 30 pháp hạnh ba la mật thêm trong suốt thời gian gấp đôi Ðức Bồ Tát có đức tin ưu việt, là 16 a tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp nữa. Ðức Bồ Tát này không cần phải nghe hay học hỏi từ một vị thầy nào khác, mà tự chính mình tiến hành thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả trở thành bậc Thánh Arahán đầu tiên xuất hiện trên thế gian, gọi là Bậc Chánh Ðẳng Giác, hoặc Ðức Phật Toàn Giác, độc nhất vô nhị.

Người Phật tử, dầu là bậc xuất gia hay hàng tại gia cư sĩ, có nguyện vọng muốn trở thành Ðức Phật Toàn Giác, Ðức Phật Ðộc Giác, bậc Thánh Thanh Văn Giác bậc nào; người Phật tử ấy cần phải tạo trọn đủ những pháp hạnh ba la mật theo tiêu chuẩn bậc ấy, để làm nhân duyên chính, dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả, đạt đến nguyện vọng của mình.

Trong 10 pháp hạnh ba la mật: bố thí, giữ giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, chí nguyện, tâm từ và tâm xả đều có tính tương quan lẫn nhau tùy theo mỗi ba la mật.

Ví dụ:

Khi thí chủ muốn tạo bố thí ba la mật là chính, thì có thể có một số ba la mật phụ khác như: trí tuệ, tinh tấn, chí nguyện, tâm từ,… cũng thành tựu cùng với bố thí ba la mật.

Ðặc biệt nhất, khi hành giả tiến hành thiền tuệ, tạo trí tuệ ba la mật là chính, thì sẽ có rất nhiều ba la mật phụ khác như: giữ giới, xuất gia, trí tuệ, tinh tấn, nhẫn nại, chân thật, chí nguyện cùng thành tựu với pháp hạnh trí tuệ ba la mật. Ðó là tánh ưu việt của sự tiến hành thiền tuệ.

Ðối với chư Bồ Tát có nguyện vọng muốn trở thành Ðức Phật Toàn Giác, Ðức Phật Ðộc Giác, bậc Thánh tối thượng Thanh Văn hay bậc Thánh đại Thanh Văn, thì chắc chắn không thể thành đạt được trong thời kỳ Ðức Phật đã tịch diệt Niết Bàn, dầu giáo pháp của Ngài hiện còn lưu truyền trên thế gian. Song, sự tiến hành thiền tuệ là một cơ hội quý giá hiếm có, để bồi bổ các pháp hạnh ba la mật. Khi chư Bồ Tát ấy tiến hành thiền tuệ, có khả năng chứng đạt trí tuệ thiền tuệ, nhưng chỉ có thể đạt đến trí tuệ thiền tuệ thứ 14 gọi là saṅkhārupekkhāñāṇa mà thôi, không thể chứng đạt đến trí tuệ thiền tuệ cao hơn. Bởi vì, bị ngăn cản do năng lực phát nguyện trở thành Ðức Phật Toàn Giác, hoặc Ðức Phật Ðộc Giác, hoặc bậc Thánh tối thượng Thanh Văn hoặc bậc Thánh đại Thanh Văn.

Ngoài ra, đối với bậc Thanh Văn hạng thường (Pakatisāvaka), ngay ở thời kỳ chánh pháp của Ðức Phật còn lưu truyền trên thế gian này, vẫn còn là một cơ hội tốt, để cho số Thanh Văn hạng thường này tiến hành thiền tuệ. Nếu có đủ trí tuệ ba la mật từ nhiều đời nhiều kiếp ở quá khứ làm duyên lành hỗ trợ, có thể dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả nào đó, thì thật là diễm phúc biết dường nào! Nếu chưa được chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả, thì âu cũng là duyên lành hi hữu để bồi bổ ba la mật, hầu mong chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả ở vị lai.

Niềm hy vọng đối với tất cả Phật tử chúng ta, theo kinh sách có ghi rõ rằng:

“M ỗi Ðức Phật Toàn Giác có khả năng tế độ một số lượng khoảng 24 a tăng kỳ 600 triệu 100 ngàn chúng sinh, được cứu vớt ra khỏi biển khổ tử sanh luân hồi trong ba giới bốn loài”.[11]

Ðức Phật Gotama của chúng ta đã thuyết pháp tế độ chúng sinh suốt 45 năm, vẫn chưa đủ số lượng 24 a tăng kỳ 600 triệu 100 ngàn chúng sinh ấy. Cho nên, khi Ðức Phật tịch diệt Niết Bàn rồi, giáo pháp của Ngài còn lưu truyền trên thế gian đến 5.000 năm, để cứu vớt chúng sinh có duyên lành còn sót lại, có cơ hội học hỏi theo chánh pháp rồi tiến hành thiền tuệ dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả.

Vậy, chúng ta nên có niềm tin và hy vọng ở trong số lượng chúng sinh được tế độ, chúng ta nên cố gắng tinh tấn tiến hành thiền tuệ, chớ nên dễ duôi!

Ðể chứng minh, trong Chú giải Kinh Gotamisutta [12] có ghi rằng: “Giáo pháp của Ðức Phật Gotama tồn tại trên thế gian 5.000 năm, trải qua 5 thời kỳ như sau:

1- Thời kỳ thứ nhất: Gồm có 1.000 năm, sau khi Ðức Phật tịch diệt Niết Bàn, có những bậc Thánh Arahán đầy đủ Tứ tuệ phân tích (Catupaṭisambhidā), bậc Thánh Arahán có đủ Lục thông, Tam minh.

2- Thời kỳ thứ nhì: Gồm có 1.000 năm (từ 1001- 2000 năm), sau khi Ðức Phật tịch diệt Niết Bàn, có thể còn các bậc Thánh Arahán, tận diệt đoạn tuyệt tham ái, phiền não (Sukkhavipassaka) [13], không có đủ Lục thông.

3- Thời kỳ thứ ba: Gồm có 1.000 năm (từ 2001- 3000 năm), sau khi Ðức Phật tịch diệt Niết Bàn, không còn bậc Thánh Arahán, có thể còn bậc Thánh Bất Lai (Anāgāmi).

4- Thời kỳ thứ tư: Gồm có 1.000 năm (từ 3001- 4000 năm), sau khi Ðức Phật tịch diệt Niết Bàn, không còn bậc Thánh Bất Lai, có thể còn bậc Thánh Nhất Lai (Sakadāgāmi).

5- Thời kỳ thứ năm: Gồm có 1.000 năm (từ 4001- 5000 năm), sau khi Ðức Phật tịch diệt Niết Bàn, không còn bậc Thánh Nhất Lai, có thể còn những bậc Thánh Nhập Lưu (Sotāpanna).

Căn cứ vào Chú giải ở trên, năm nay Phật lịch 2546 năm, những người Phật tử chúng ta đang ở vào thời kỳ thứ ba, chúng ta nên có một niềm tin, một hy vọng nơi giáo pháp của Ðức Phật, trong thời kỳ này có thể cứu vớt chúng ta ra khỏi biển khổ trầm luân. Chính chúng ta, là người Phật tử, có quyền được thừa hưởng di sản Pháp bảo quý báu mà Ðức Phật đã để lại.

Những người Phật tử, chắc chắn không một ai có thể biết được ba la mật của mình đã tạo từ nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ, cho đến kiếp hiện tại này. Biết đâu rằng! Người nào đó đã từng tạo pháp hạnh ba la mật, có khả năng dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả nào đó? Nhưng trong kiếp hiện tại này, người ấy không chịu tinh tấn tiến hành thiền tuệ, thì không chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả ấy. Như vậy, người ấy đã bỏ lỡ cơ hội tốt hiếm có, thật đáng tiếc biết dường nào !

Ðể dẫn chứng rằng không một ai có thể biết được ba la mật của mình, trong Chú giải Pháp Cú, tíchÐại Ðức Cūḷapanthakatthera (Trưởng lão Tiểu Bàn-Đặc), [14] tóm lược như sau:

Ðại Ðức Cūḷapanthaka có một sư huynh là Ðại Ðức Mahāpanthaka xuất gia trở thành Tỳ khưu trước, và đã chứng đắc thành bậc Thánh Arahán.

Về sau Ðại Ðức Mahāpanthaka hướng dẫn người em là Cūḷapanthaka xuất gia Tỳ khưu. Khi xuất gia xong, sư huynh Mahāpanthaka dạy sư đệ Cūḷapanthaka học một bài kệ, mà suốt 4 tháng vẫn không học thuộc được.

Ðại Ðức Mahāpanthaka bảo rằng:

– Này Cūḷapanthaka, sư đệ dường như không có duyên lành trong Phật giáo. Ðiều đó dễ thấy rõ, chỉ một bài kệ mà sư đệ học suốt 4 tháng vẫn chưa thuộc, thì nói gì đến việc hành phạm hạnh cao thượng làm sao được? Sư đệ nên rời khỏi chùa đi về nhà.

Ðại Ðức Cūḷapanthaka không muốn hoàn tục, vì tâm còn tha thiết với phạm hạnh xuất gia Tỳ khưu và lưu luyến ngôi chùa Ambavana. Nhưng sư huynh Mahāpanthaka bảo rời khỏi chùa, thì đành phải ra về, để hoàn tục, sống tại gia, làm phước bố thí, giữ giới, v.v…

Vào canh chót đêm hôm ấy, Ðức Phật quán xét chúng sinh có duyên lành nên tế độ, thấy rõ Tỳ khưu Cūḷapanthaka ở trong mạng lưới trí đại bi tế độ của Ngài.

Sáng sớm hôm sau, Ðức Phật ngự ra trước cổng chùa, đi kinh hành để chờ Ðại Ðức Cūḷapanthaka.

Cùng lúc ấy, Ðại Ðức Cūḷapanthaka từ giả ngôi chùa Ambavana để trở về nhà, khi ra đến cổng, Ðại Ðức nhìn thấy Ðức Phật nên đến đảnh lễ Ngài.

Ðức Thế Tôn bèn hỏi:

– N ày Cūḷapanthaka, con đi đâu mà sớm vậy?

Ðại Ðức Cūḷapanthaka thưa rằng:

– Kính bạch Ðức Thế Tôn, sư huynh của con bảo con rời khỏi chùa trở về nhà, hoàn tục, bởi con không có duyên lành xuất gia hành phạm hạnh cao thượng.

– Này Cūḷapanthaka, con xuất gia trở thành Tỳ khưu trong giáo pháp của Như Lai, thì dầu sư huynh của con bảo con rời khỏi chùa, sao con không đến với Như Lai?

Này Cūḷapanthaka, con hãy đến chỗ của Như Lai.

Ðức Thế Tôn đưa bàn tay mềm mại có dấu bánh xe sờ trên đầu Ðại Ðức Cūḷapanthaka dẫn đi về cốc Gandhakuṭi, nơi Ngài đang ngự. Ðức Thế Tôn bảo Ðại Ðức Cūḷapanthaka ngồi trước cửa cốc quay mặt về hướng Ðông, rồi Ngài trao cho một miếng vải mới còn sạch sẽ và truyền dạy:

– Con hãy vò miếng vải này, đồng thời niệm tưởng rằng: “rajoharanaṃ… rajoharanaṃ… rajoharanaṃ…”: “vải lau bụi dơ… vải lau bụi dơ… vải lau bụi dơ…”.

Ðại Ðức quán xét thấy rõ miếng vải sạch sẽ, khi tiếp xúc với sắc thân này, trở thành dơ bẩn như thế ấy!

“Tất cả pháp hữu vi đều vô thường!”.

Ðại Ðức Cūḷapanthaka tiến hành thiền tuệ, trí tuệ thiền tuệ thấy rõ sự sanh, sự diệt của các Pháp hữu vi: danh pháp và sắc pháp.

Ðức Thế Tôn biết rõ tâm của Ðại Ðức Cūḷapanthaka,đang tiến hành thiền tuệ, Ngài dùng thần thông hiện ra ngồi trước mặt Ðại Ðức rồi bảo:

– Này Cūḷapanthaka, con không chỉ thấy bụi dơ dính ở trong miếng vải, mà con nên thấy rõ, biết rõ bụi dơ đó là tham, sân, si dính ở trong tâm của con, làm cho tâm con bị ô nhiễm, con phải nên diệt đoạn tuyệt bụi dơ tham, sân, si ấy.

Rồi Ðức Thế Tôn thuyết dạy ba bài kệ, Ðại Ðức Cūḷapanthaka lắng nghe, đồng thời tiến hành thiền tuệ theo. Khi dứt ba bài kệ ấy, Ðại Ðức Cūḷapanthaka liền chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc từ Nhập Lưu Thánh Ðạo, Nhập Lưu Thánh Quả cho đến Arahán Thánh Ðạo, Arahán Thánh Quả cùng với Tứ tuệ phân tíùch, chứng đắc thần thông, thông suốt Tam Tạng ngay lúc ấy”.

* Câu chuyện thứ hai.

Ðệ tử của Ðại Ðức Sāriputta. [15]

Ðại Ðức Sāriputta có một người đệ tử còn trẻ, Ngài truyền dạy thiền định đề mục asubha (bất tịnh), không thích hợp với căn duyên của người đệ tử. Do đó, người đệ tử tiến hành đề mục asubha (bất tịnh) suốt 4 tháng vẫn chưa phát sanh ấn chứng nào.

Ðại Ðức Sāriputta nghĩ rằng, vị Tỳ khưu này thuộc sự tế độ của Ðức Phật, nên Ngài dẫn người đệ tử đến hầu Ðức Thế Tôn.

Ðức Phật dạy rằng:

– Này Sāriputta, con không có trí tuệ đặc biệt biết được căn duyên và phiền não ngấm ngầm của chúng sinh, nên con truyền dạy đề mục thiền định không thích hợp với tánh riêng biệt của hành giả.

Ðức Phật hoá ra một hồ sen ở trong chùa Ambavana, lại hóa ra thêm một bụi sen lớn, trong đó có một đóa sen xinh đẹp đang nở. Ðức Phật dạy vị Tỳ khưu hãy nhìn đóa hoa sen đang nở ấy.

Vâng lời, vị Tỳ khưu chăm chú nhìn đóa hoa sen ấy. Trong thời gian ấy, Ðức Phật làm cho đóa sen héo dần, thay đổi màu, cánh sen từ từ rơi rụng xuống cho đến khi không còn cánh sen nào, nhụy sen cũng rụng, chỉ còn lại gương sen. Vị Tỳ khưu suy xét: “Ðóa hoa sen xinh đẹp kia, bây giờ chỉ còn trơ lại đài gương, sự suy tàn của hoa sen như thế nào, sự già nua đối với sắc thân của ta cũng như thế ấy”.

“Tất cả các Pháp hữu vi: danh pháp, sắc pháp đều vô thường!”.

Ðức Thế Tôn, lúc ấy đang ngự tại cốc Gandhakuṭi, biết tâm của vị Tỳ khưu đang tiến hành thiền tuệ, Ngài phóng hào quang, dùng thần thông hiện ra ngồi trước mặt rồi truyền dạy một bài kệ. Vị Tỳ khưu lắng nghe, đồng thời tiến hành thiền tuệ theo, khi dứt bài kệ, vị Tỳ khưu chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc từ Nhập Lưu Thánh Ðạo, Nhập Lưu Thánh Quả, đến Arahán Thánh Ðạo, Arahán Thánh Quả, ngay lúc ấy.

Và còn có rất nhiều trường hợp tương tự khác.

Qua 2 câu chuyện lược dẫn ở trên, chứng tỏ rằng, không có một ai biết được ba la mật của mình tròn đủ hay chưa tròn đủ.

Ngoại trừ Ðức Phật ra, không một ai có khả năng biết rõ được căn duyên cao hay thấp của mỗi chúng sinh. Bởi vì, chỉ Ðức Phật mới có hai loại trí tuệ đặc biệt mà bậc Thánh Thanh Văn không có là:

– Indriyaparopariyattiñāṇa: Trí tuệ thấy rõ, biết rõ căn duyên cao thấp của mỗi chúng sinh. – Āsayānusayañāṇa: Trí tuệ thấy rõ phiền não ngấm ngầm và thiện nghiệp, ác nghiệp của mỗi chúng sinh.

Bậc Thánh Thanh Văn, dầu là bậc Thánh Arahán cũng không thể có hai loại trí tuệ đặc biệt này, nên không thể biết rõ được căn duyên của mỗi chúng sinh có thể chứng đắc được Thánh Ðạo, Thánh Quả nào hay không?

Do đó, người Phật tử chớ nên dễ duôi! Chớ nên coi thường chính mình!

Sự thật, chúng ta được sanh làm người, ngày nay gặp được Phật giáo, có đức tin nơi Tam bảo: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo,thật là diễm phúc lớn lao và vô cùng hy hữu! không dễ có được trong kiếp tử sanh luân hồi trong tam giới này.Vậy, chúng ta nên có niềm tin nơi chính mình rằng: chắc chắn ta đã có gieo duyên lành trong Phật giáo, đã có tạo ít nhiều pháp hạnh ba la mật từ nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ rồi.

Cho nên, người Phật tử chớ nên bỏ lỡ cơ hội tốt hiếm có này, hãy nên cố gắng tinh tấn tiến hành thiền tuệ; nếu trong kiếp hiện tại này, được chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả nào, thì thật là một điều hạnh phúc cao thượng biết dường nào! Nếu chưa chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả, trong kiếp hiện tại này; thì việc tiến hành thiền tuệ cũng vẫn là một điều hạnh phúc cao thượng, vì có cơ hội tốt để bồi bổ pháp hạnh ba la mật, hầu chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả ở vị lai.

Ví như một lữ hành có mục đích đi đến kinh đô, cứ mỗi ngày kiên trì, nhẫn nại, tinh tấn không ngừng bước đi đều đều, thì cứ mỗi bước, lại mỗi gần đến kinh đô. Như vậy, không sớm thì muộn, người lữ hành ấy sẽ đến kinh đô, theo nguyện vọng của mình. Cũng như vậy, hành giả có tâm nguyện chứng ngộ Niết Bàn, pháp giải thoát “khổ tái sanh”; hành giả có đức tin trong sạch nơi Ðức Phật, Ðức Pháp, Ðức Tăng, có đức tin nơi pháp hành thiền tuệ; có tánh kiên trì, nhẫn nại, tinh tấn không ngừng; có chánh niệm và trí tuệ tỉnh giác, tinh tấn tiến hành thiền tuệ đúng theo Pháp hành trung đạo, không sớm thì muộn, chắc chắn hành giả sẽ chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc Thánh Ðạo, Thánh Quả và Niết Bàn, theo nguyện vọng của mình.

Tập sách nhỏ này, dầu chưa đầy đủ, song cũng giúp cho độc giả có một khái niệm về pháp hành thiền tuệ. Nếu hành giả có tâm nguyện tiến hành thiền tuệ, thì điều đầu tiên là cần phải học hỏi và nghiên cứu sâu xa về pháp học của pháp hành thiền tuệ.

Khi thật sự muốn tiến hành thiền tuệ, hành giả nên tìm một vị Thiền Sư, thông thạo pháp học, đầy đủ kinh nghiệm về pháp hành thiền tuệ, để nương nhờ trên con đường tiến hành thiền tuệ. Ðiều này rất cần thiết và cũng là điều tối ư quan trọng, không thể thiếu được!

Nếu hành giả tiến hành, mà không đúng theo pháp hành thiền tuệ, thì về sau dẫn đến sự sai lầm khó sửa.

Ví dụ:

Một người học trò học đàn với một ông thầy dở, không đúng phương pháp, đã quen tay, về sau học với vị thầy dạy đàn tài giỏi, gặp phải hai điều khó khăn:

– Sửa sai lối đánh đàn cũ. – Tập lối đánh đàn mới.

Trong khi người học trò chưa từng học đánh đàn, gặp được ông thầy tài giỏi, thì chỉ có một điều khó khăn lúc ban đầu mà thôi.

Cũng vậy, hành giả thường chịu ảnh hưởng nơi vị Thiền Sư. Nếu gặp vị Thiền Sư không thông thạo pháp học, không có kinh nghiệm đầy đủ về pháp hành, thì hành giả tiến hành không đúng theo pháp hành thiền tuệ, dẫn đến hậu quả sai lầm trở thành thói quen rất khó sửa, như trường hợp người học trò thứ nhất.

Sự thật, thói quen sai lầm ở thân dễ sửa hơn là thói quen sai lầm ở tâm. Khi tâm mắc phải sai lầm nào rồi, thì thật là khó sửa lắm vậy!

Tử sanh luân hồi trong tam giới là lẽ tự nhiên của mỗi chúng sinh vẫn còn tham ái phiền não. Hễ còn tử sanh luân hồi là còn mang khổ; mọi cảnh khổ đều bắt nguồn từ khổ tái sanh. Pháp hành thiền tuệ là pháp hành dẫn đến sự diệt khổ tái sanh.

Muốn đạt đến mục đích như vậy, điều trọng yếu đầu tiên, hành giả cần phải học hỏi, nghiên cứu để hiểu rõ phương pháp tiến hành thiền tuệ cho đúng, rồi thực hành đúng theo pháp hành thiền tuệ. Ðiều này chắc chắn không phải là dễ đối với tất cả mọi người.

Quyển sách nhỏ này, tuy bần sư rất tha thiết với pháp hành thiền tuệ, đã cố gắng hết sức mình, góp nhặt, trình bày giúp độc giả tìm hiểu về pháp hành thiền tuệ. Song vì khả năng có hạn, nên chắc chắn không thể nào tránh khỏi những điều sơ sót, thậm chí có chỗ sai, ngoài ý muốn của bần sư. Kính mong chư bậc Thiện trí từ bi chỉ giáo. Bần sư kính cẩn chấp nhận những lời phê bình xây dựng, và kính xin chư bậc Thiện trí nhận nơi đây lòng chân thành biết ơn sâu xa của bần sư.

Tập sách này được hoàn thành nhờ sự đóng góp của những thí chủ có đức tin trong sạch làm phước thiện pháp thí; nhất là pháp đệ Bửu Ðức, gia đình ông bà Trần Văn Cảnh – Trần Kim Duyên, đặc biệt là pháp huynh Viên Minh, pháp đệ Giới Ðức đã nhiệt tâm trong công việc sửa chữa cú pháp; và trong lần tái bản thứ nhất này, có cô Tu nữ Ngọc Duyên, cô Tu nữ Diệu Liên tận tâm xem lại bản thảo; đệ tử Rakkhitasīla Antevāsika đã tận tụy đánh máy bản thảo, trình bày dàn trang và được Nhà Xuất Bản Tôn Giáo cho phép tái bản, bần sư vô cùng hoan hỷ và biết ơn quý vị.

Nhân dịp này, đệ tử Dhammarakkhita Bhikkhu (Tỳ khưu Hộ Pháp) thành kính dâng phần pháp thí thanh cao này đến Cố Sư Phụ Hộ Tông (Vaṃsarakkhitamahāthera), cùng chư Ðại Trưởng Lão, Ðại Ðức đã dày công đem Phật giáo Nguyên Thủy (Theravāda) về truyền bá trên quê hương thân yêu; và chư Ðại Trưởng Lão Thái Lan, Miến Ðiện như Ngài Ðại Trưởng Lão Dhammānandamahāthera Aggamahāpaṇṇita, Ðại Trưởng Lão Nandikamahāthera, các vị Ācariya như Ajhan Nep Mahānirānond v.v… đã có công giảng dạy đệ tử về pháp học và pháp hành. Kính mong quý Ngài hoan hỉ.

Bần sư thành tâm hồi hướng phần pháp thí thanh cao này đến tất cả chúng sinh từ cảnh địa ngục, atula, ngạ quỷ, súc sanh, cho đến nhân loại, chư thiên cõi Tứ đại thiên vương thiên, cõi Tam thập tam thiên, cõi Dạ ma thiên, cõi Ðâu xuất đà thiên, cõi Hóa lạc thiên, cõi Tha hóa tự tại thiên, các cõi sắc giới Phạm thiên. Trong các hàng chúng sinh ấy, nhất là ông bà, cha mẹ, thầy tổ, những bậc ân nhân từ kiếp hiện tại cho đến vô lượng kiếp trong quá khứ đã quá vãng và hiện tiền; cầu mong tất cả qúy vị hoan hỉ thọ lãnh phần pháp thí thanh cao này, cho được thoát khỏi mọi cảnh khổ, được mọi sự an lạc hạnh phúc cao thượng.

“Idaṃ no dhammadānaṃ āsavakkhayāvahaṃ hotu”.

“Do nhờ pháp thí thanh cao này, làm duyên lành dắt dẫn tất cả chúng con hướng đến sự chứng đắc Arahán Thánh Ðạo, Arahán Thánh Quả, Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi phiền não trầm luân”.

Nếu chúng con chưa được giải thoát cảnh khổ tử sanh luân hồi trong tam giới, thì do năng lực pháp thí này, hỗ trợ cho chúng con kiếp nào cũng được thành tựu đầy đủ 4 pháp:

1- Gatisampatti: Ðược tái sanh cõi thiện giới an lạc.

2- Upadhisampatti: Có sắc thân đầy đủ, xinh đẹp.

3- Kālasampatti: Thời kỳ thiện pháp đang phát triển, như thời kỳ Ðức Chuyển Luân Thánh Vương ra đời, Ðức Phật xuất hiện trên thế gian, Phật giáo đang thịnh hành,

4- Payogasampati: Ðầy đủ ba loại thiện pháp do thân khẩu ý.

Do năng lực pháp thí này, hỗ trợ cho chúng con kiếp nào cũng có chánh kiến, mỗi khi gặp được Ðức Phật hay giáo pháp của Ðức Phật, chúng con liền có đức tin trong sạch nơi Ðức Phật, Ðức Pháp, Ðức Tăng, có đức tin nơi pháp hành thiền tuệ, là pháp hành dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, giải thoát khổ tái sanh.

Tỳ Khưu Hộ Pháp Tổ Ðình Bửu Long Long Bình, Quận 9, Tp. Hồ Chí Minh.

Giới thiệu tác giả, Tỳ khưu Hộ Pháp Dhammarakkhita:

Bai Thi Tìm Hieu An Toan Giao Thong Thanh Bai Thi Tim Hieu Pl Ve Atgt2013 Thanh 2 Doc / 2023

BÀI THI TÌM HIỂU PHÁP LUẬT VỀ “AN TOÀN GIAO THÔNG” 2013

Họ và tên: Thân Thị Thanh sn: 1980

Câu 3 : Kể từ ngày 1/7/2009, Luật Giao thông đường bộ sửa đổi, bổ sung sẽ có hiệu lực. Luật này sẽ thay thế cho Luật Giao thông đường bộ năm 2001, theo đó một số điểm mà ng ười tham gia giao thông cần chú ý nh ư sau:

Không bia r ượu khi lái ô tô

Trẻ em trên 6 tuổi phải đội mũ bảo hiểm

Theo quy định trước đây, trẻ em dưới 14 tuổi không bị bắt buộc phải đội mũ bảo hiểm khi tham gia giao thông. Tuy nhiên, trong thời gian qua, rất nhiều ý kiến cho rằng, quy định này là không hợp lý bởi tai nạn giao thông sẽ không trừ một ai.

Theo đó, sẽ phạt tiền từ 100.000 đến 200.000 đồng với người ngồi trên xe máy, xe gắn máy 2 bánh, xe đạp máy không đội mũ bảo hiểm hoặc không cài quai đúng quy cách (trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 6 tuổi).

Ng ười điều khiển xe mô tô hai bánh, xe gắn máy chỉ được chở một người. Trường hợp đặc biệt sẽ được chở tối đa 2 người là: Chở người bệnh đi cấp cứu; Áp giải người phạm tội hoặc chở trẻ em dưới 14 tuổi.

Luật cũng quy định, đối với người điều khiển xe đạp khi tham gia giao thông chỉ được chở tối đa hai người, trong đó ít nhất có một trẻ em dưới 7 tuổi.

Không điện thoại, không nhạc, không ma tuý

Cấm sử dụng thiết bị âm thanh. Nh ư vậy, hành vi vừa điều khiển xe máy, vừa nghe nhạc cũng sẽ bị phạt.

Trong Luật sửa đổi, mức xử phạt vi phạm hành chính từ 80.000 – 100.000đồng và từ 40.000- 60.000 đồng đối với ôtô, môtô, xe gắn máy chuyển hướng không nhường đường cho người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật.

Những ng ười điều khiển xe gắn máy, mà trong cơ thể có chất ma tu ý sẽ bị phạt từ 1-3 triệu đồng. Nếu người điều khiển máy kéo, xe máy chuyên dụng và ôtô mà trong c ơ thể có chất ma tu ý sẽ bị phạt từ 4 – 6 triệu đồng.

1. Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn.

2. Trên đường một chiều có vạch kẻ phân làn đường, xe thô sơ phải đi trên làn đường bên phải trong cùng, xe c ơ giới, xe máy chuyên dùng đi trên làn đường bên trái.

3. Ph ương tiện tham gia giao thông đường bộ di chuyển với tốc độ thấp hơn phải đi về bên phải.

Điều 13 Luật Giao thông đường bộ năm 2008 quy định: Trên đường có nhiều làn đường cho xe đi cùng chiều được phân biệt bằng vạch kẻ phân làn đường, người điều khiển phương tiện phải cho xe đi trong một làn đường và chỉ được chuyển làn đường ở những nơi cho phép; khi chuyển làn đường phải có tín hiệu báo trước và phải bảo đảm an toàn.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 44 Nghị định số 71/2012/NĐ-CP ngày 19/9/2012 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 34/2010/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ, hành vi đi sai làn đường khi rẽ của bạn bị phạt từ 100.000 đến 200.000 đồng.

Câu 6 . Luật Giao thông đường bộ năm 2008 về vượt xe như thế nào ? Ng ười điều kiển xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy vi phạm về vượt xe th ì xử phạt nh ư thế nào? Nêu h ình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung.

Ðiều 14 trong Luật Giao thông đường bộ Việt Nam quy định về “Vượt xe”:

1. Xe xin v ượt phải có báo hiệu bằng đèn hoặc c òi; trong đô thị và khu đông dân cư từ 22 giờ đến 5 giờ chỉ được báo hiệu xin vượt bằng đèn.

2. Xe xin v ượt chỉ được vượt khi không có chướng ngại vật phía trước, không có xe chạy ngược chiều trong đoạn đường định vượt, xe chạy trước không có tín hiệu vượt xe khác và đ ã tránh về bên phải.

3. Khi có xe xin v ượt, nếu đủ điều kiện an toàn, người điều khiển phương tiện phía trước phải giảm tốc độ, đi sát về bên phải của phần đường xe chạy cho đến khi xe sau đ ã v ượt qua, không được gây trở ngại đối với xe xin vượt.

4. Khi v ượt, các xe phải vượt về bên trái, trừ các trường hợp sau đây th ì được phép vượt bên phải:

a) Khi xe phía tr ước có tín hiệu rẽ trái hoặc đang rẽ trái;

b) Khi xe điện đang chạy giữa đường;

c) Khi xe chuyên dùng đang làm việc trên đường mà không thể v ượt bên trái được.

5. Không được vượt xe khi có một trong các trường hợp sau đây:

a) Không bảo đảm các điều kiện quy định tại khoản 2 Điều này;

b) Trên cầu hẹp có một làn xe;

c) Đường vòng, đầu dốc và các vị trí có tầm nhìn hạn chế;

d) N ơi đường giao nhau, đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

đ) Khi điều kiện thời tiết hoặc đường không bảo đảm an toàn cho việc v ượt;

e) Xe được quyền ưu tiên đang phát tín hiệu ưu tiên đi làm nhiệm vụ.

Hình thức xử phạt hành chính và xử phạt bổ sung.

Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

Tránh xe, v ượt xe không đúng quy định ; không nhường đường cho xe ngược chiều.

Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

V ượt bên phải trong các trường hợp không được phép.

Điều 8. Các hành vi bị cấm.

1. Phá hoại công trình giao thông đường thuỷ nội địa; tạo vật chướng ngại gây cản trở giao thông đường thuỷ nội địa.

2. Mở cảng, bến thuỷ nội địa trái phép; đón, trả người hoặc xếp, dỡ hàng hoá không đúng nơi quy định.

3. Xây dựng trái phép nhà, lều quán hoặc các công trình khác trên đường thuỷ nội địa và phạm vi bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường thuỷ nội địa.

4. Đổ đất, đá, cát, sỏi hoặc chất thải khác, khai thác trái phép khoáng sản trong phạm vi luồng và hành lang bảo vệ luồng; đặt cố định ngư cụ, phương tiện khai thác, nuôi trồng thuỷ sản trên luồng.

5. Đưa phương tiện không đủ điều kiện hoạt động theo quy định tại Điều 24 của Luật này tham gia giao thông đường thuỷ nội địa; sử dụng phương tiện không đúng công dụng hoặc không đúng vùng hoạt động theo giấy chứng nhận an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi tr ường của cơ quan đăng kiểm.

6. Bố trí thuyền viên không đủ định biên theo quy định khi đưa phương tiện vào hoạt động; thuyền viên, ng ười lái phương tiện làm việc trên phương tiện không có bằng, chứng chỉ chuyên môn hoặc bằng, chứng chỉ chuyên môn không phù hợp.

7. Chở hàng hoá độc hại, dễ cháy, dễ nổ, động vật lớn chung với hành khách; chở quá sức chở ng ười của phương tiện hoặc quá vạch dấu mớn nước an toàn.

8. Làm việc trên ph ương tiện khi trong máu có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc 40 miligam/1lít khí thở hoặc có các chất kích thích khác mà pháp luật cấm sử dụng.

10. Vi phạm báo hiệu hạn chế tạo sóng hoặc các báo hiệu cấm khác.

11. Tổ chức đua hoặc tham gia đua trái phép phương tiện trên đường thuỷ nội địa; lạng lách gây nguy hiểm cho phương tiện khác.

12. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để sách nhiễu, gây phiền hà khi thực hiện nhiệm vụ; thực hiện hoặc cho phép thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa.

13. Các hành vi khác vi phạm pháp luật về giao thông đường thuỷ nội địa”.

1. Hành khách có các quyền sau đây:

a) Yêu cầu được vận chuyển bằng đúng loại phương tiện, đúng giá trị loại vé, từ cảng, bến nơi đi đến cảng, bến nơi đến theo vé đã mua

b) Được miễn cước phí hành lý mang theo với khối l ượng theo quy định của pháp luật;

2. Hành khách có các nghĩa vụ sau đây:

a) Mua vé hành khách và trả c ước phí vận tải hành l ý mang theo quá mức quy định; nếu chưa mua vé và ch ưa trả đủ cước phí vận tải hành l ý mang theo quá mức thì phải mua vé, trả đủ cước phí và nộp tiền phạt;

b) Khai đúng tên, địa chỉ của mình và trẻ em đi kèm khi ng ười kinh doanh vận tải lập danh sách hành khách;

d) Không mang theo hành lý thuộc loại hàng hoá mà pháp luật cấm l ưu thông, cấm vận tải chung với hành khách.

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 20.000 đồng đến 50.000 đồng đối với hành vi không chấp hành nội quy an toàn trên ph ương tiện hoặc sự hướng dẫn của thuyền trưởng, người lái phương tiện.

2. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây:

a) Mang hành lý thuộc loại hàng hóa mà pháp luật cấm vận tải chung với hành khách;

b) Gây mất trật tự, an toàn trên ph ương tiện.

3. Hình thức xử phạt bổ sung:

Tịch thu hàng hóa đối với hành vi vi phạm quy định tại điểm a khoản 2 Điều này.

Theo Điều 7 – Luật Giao thông đường thuỷ nội địa ngày 15/6/2004, khi xảy ra tai nạn trên đường thuỷ nội địa các tổ chức, cá nhân tại khu vực xảy ra tai nạn phải có trách nhiệm như sau:

Vi phạm quy định về trách nhiệm khi xảy ra tai nạn giao thông đường thủy nội địa

1. Phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền từ50.000 đồng đến 100.000 đồng đối với hành vi không báo kịp thời cho c ơ quan Công an hoặc Ủy ban nhân dân địa phương nơi gần nhất khi xảy ra tai nạn giao thông đường thủy nội địa.

2. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi không có mặt đúng thời gian triệu tập của cơ quan nhà n ước có thẩm quyền.

3. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Trốn tránh nghĩa vụ tìm kiếm, cứu nạn khi có điều kiện thực hiện;

b) Gây mất trật tự, cản trở việc tìm kiếm, cứu nạn hoặc xử lý tai nạn;

c) Lợi dụng tai nạn xảy ra để xâm phạm, chiếm đoạt tài sản, ph ương tiện bị nạn.

5. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng 7.000.000 đồng đối với hành vi gây tai nạn mà bỏ trốn.

6. Hình thức xử phạt bổ sung:

T ước quyền sử dụng bằng, chứng chỉchuyên môn từ 03 tháng đến 06 tháng đối với hành vi vi phạm quy định tại Khoản 5 Điều này.

Năm 2013 được Chính phủ chọn tiếp tục là Năm An toàn giao thông. Đây là quyết định hợp lý nhằm tạo những chuyển biến mang tính căn cơ và toàn diện h ơn, sau những thành công quan trọng của Năm An toàn giao thông 2012. Tuy nhiên, để Năm An toàn giao thông 2013 đạt kết quả tích cực hơn nữa, các ngành các cấp cần quan tâm một số vấn đề sau:

*Giải pháp

Từ thực tế trên, Ban ATGT tỉnh đã đề ra 5 giải pháp chủ yếu để khắc phục những tồn tại, hạn chế và nâng hiệu quả bảo công tác bảo đảm trật tự ATGT trên toàn địa bàn.

Thứ nhất, xây dựng Kế hoạch hành động thực hiện Chỉ thị số 18-CT/TW ngày 04/9/2012 của Ban Bí th ư TƯ về tăng cường sự l ãnh đạo của Đảng đối với công tác đảm bảo trật tự ATGT.

Thứ hai , phát động phong trào thi đua nâng cao ý thức trách nhiệm của người thực thi công vụ trong lĩnh vực bảo đảm trật tự ATGT.

Thứ ba , nâng cao quản lý Nhà n ước trong lĩnh vực bảo đảm trật tự ATGT (tăng cường cưỡng chế xử l ý vi phạm pháp luật ATGT, giám sát công tác đào tạo, sát hạch, cấp GPLX, đăng kiểm phương tiện…).

Thứ t ư , đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự ATGT (đa dạng hoá sản phẩm truyền thống, tuyên truyền sâu rộng đến cơ sở, x ã, thôn; phát huy hiệu quả truyền thông qua hệ thống thông tin xuyên suốt từ tỉnh đến các địa phương, hệ thống đài truyền thanh xã, ph ường, thị trấn; các cơ quan, đơn vị, trường học, địa phương được thông báo có công dân thuộc quyền quản l ý vi phạm phải tiến hành kiểm điểm và có báo cáo lại với c ơ quan thông báo…).

Thứ năm , tăng cường quản lý, xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông, xử lý những điểm mất ATGT; tập trung giải toả hành lang ATGT trên các tuyến đường tỉnh, với việc giao Chủ tịch UBND cấp huyện chịu trách nhiệm tổ chức cưỡng chế quyết định xử phạt hành chính vi phạm hành lang ATGT đường bộ.

Www Là Gì? Www Có Khác Gì Với Non / 2023

Khi truy cập vào một trang web bất kì, bạn thường hay thấy dòng kí tự WWW đứng ngay phía trước tên miền, tuy nhiên có đôi khi không cần phải gõ dòng này bạn cũng có thể vào được website. Vậy WWW là gì? Nó có quan trọng trong việc truy cập website hay không? Bài viết này WEBICO sẽ cùng bạn làm rõ các khái niệm này

WWW (Word Wide Web) là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ các trang web trên toàn thế giới, có thể nói thuật ngữ này bao gồm khối lượng thông tin toàn cầu mà bất kì ai cũng có thể xem trên Internet. Toàn bộ các dữ liệu thông tin này được gọi là một hệ thống siêu văn bản mà để truy cập, người dùng cần sử dụng các trình duyệt web (web brower) và gõ các dòng địa chỉ tên miền cụ thể vào đó.

Sau khi gõ tên miền cũng như địa chi trang web, hệ thống sẽ nhận các thông tin (documents) tại ô địa chỉ (address) mà người sử dụng yêu cầu (tên miền website mà bạn vừa gõ), rồi sau đó chương trình sẽ tự động gửi thông tin đến máy chủ (web server) và hiển thị các thông tin trên màn hình máy tính của người xem. Người dùng có thể theo các liên kết siêu văn bản (hyperlink) trên mỗi trang web để nối với các tài liệu khác hoặc gửi thông tin phản hồi theo máy chủ trong một quá trình tương tác cụ thể.

WWW có khác gì với non-WWW hay không?

Tuy nhiên hiện nay, khi truy cập vào một số trang web, dù bạn có gõ phần đầu “www” vào trước địa chỉ trang web hay không thì mạng Internet vẫn dẫn bạn về đúng trang web với các thông tin cần tìm. Đây goi là các trang web “non-WWW” . Hai hình thức này đều có thể giúp người dùng truy cập trang web một cách dễ dàng. Thông thường, các chuyên gia và nhà lập trình web vẫn khuyên dùng WWW trong tên miền thay vì non-WWW vì các lý do sau:

Non – WWW giống như cái tên viết tắt của WWW, khi sử dụng địa chỉ này, sẽ không có vấn đề gì về kĩ thuật nhưng về mặt hình thức, khách hàng và người dùng vốn vẫn quen thuộc và đánh giá cao đối với các trang web có tiền tố WWW. Vì vậy dùng WWW sẽ thể hiện sự đầy đủ và toàn vẹn hơn.

Khi một trang web phát triển tốt hay đã đến lúc các đơn vị sở hữu trang web đó cần thêm các trang con để mở rộng quy mô cũng như mô hình kinh doanh, các trang web sử dụng WWW trong tên miền sẽ hữu ích và tiện lợi trong việc này.

Giúp phân loại, phân vùng nội dung, dich vụ website với các dịch vụ khác, giúp thể hiện nội dung truyền tải khi người dùng truy cập website của bạn.

Đăng ký với Google

Có nghĩa là, bạn có thể “thỏa thuận” với Google tên miền nào bạn muốn tập trung vào để công cụ này tập trung đánh giá xếp hạng. Chỉ cần truy cập “Google Webmaster Tool”, tạo tài khoản và thiết lập lựa chọn để thông báo với Google phiên bản bạn muốn. Như vậy, thứ hạng (Rank) của website bạn sẽ được tính một cách chính xác hơn và phiên bản bạn ưu tiên sẽ được hiển thị trên kết quả tìm kiếm.

Có thể nói, WWW là khái niệm thú vị và đóng vai trò không thể thiếu trong một website cũng như quá trình truy cập Internet của người dùng. Khi có kiến thức về mảng này, chắc hẳn bạn sẽ không còn thắc mắc vì sao chúng ta cần có yếu tố này trong tên miền trang web và vì sao khi không gõ nó vẫn tự động điều hướng và hiển thị cho bạn.

– ? WEBICO – GIẢI PHÁP THIẾT KẾ WEB HÀNG ĐẦU CHO DOANH NGHIỆP ?

? Địa chỉ: Mekong Tower, 235-241 Cộng Hòa, Phường 13, Quận Tân Bình, chúng tôi ? Hotline: 1800 6016 ? Email: email@webico.vn ? Website: chúng tôi ➡ Facebook: https://www.facebook.com/webico.vn/

Liên lạc ngay với chúng tôi hoặc để lại thông tin của bạn, bộ phận tư vấn của WEBICO sẽ liên lạc lại ngay để giải đáp mọi thắc mắc! Trong trường hợp tổng đài BẬN LIÊN TỤC và QUÁ TẢI đơn hàng, vui lòng để lại thông tin của bạn thông qua email hoặc tin nhắn để chúng tôi có thể tìm lại bạn trong hàng ngàn khách hàng.