Top 5 # Xem Nhiều Nhất Xuất Ngoại Tệ Theo Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền Mới Nhất 2/2023 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Tính Giá Xuất Kho Theo Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền

Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền là một trong những phương pháp tính giá xuất kho hiện nay. Vậy Phương pháp này có những ưu, nhược điểm gì? Cách tính theo phương pháp bình quân gia quyền như thế nào? Loại hình sản xuất kinh doanh nào phù hợp để áp dụng tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền? Các bạn cùng tìm hiểu chi tiết ở nội dung tiếp theo.

Thứ nhất: Tính giá xuất kho theo phương pháp thực tế đích danh.

Thứ hai: Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền.

Thứ ba: Tính giá xuất kho theo phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO).

So với trước đây thì hai thông tư này đã bãi bỏ Phương pháp LIFO. Đồng thời thay vào đó là bổ sung Phương pháp giá bán lẻ.

Trong bài viết này các bạn cùng Kế Toán Việt Hưng tìm hiểu về Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền.

1. Khái niệm tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền là gì?

Theo phương pháp bình quân gia quyền, giá trị của các loại hàng hóa tồn kho sẽ được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ.

Mặt khác, tùy vào đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp mà giá trị trung bình có thể được tính bởi 1 trong 2 cách.

Hoặc tính theo từng kỳ.

Hoặc tính sau từng lần nhập hàng.

2. Ưu điểm và nhược điểm của Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền?

Tùy vào kế toán lựa chọn vào cách tính giá trị trung bình. Thì tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền có các ưu và nhược điểm khác nhau. Cụ thể.

* Nếu tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ.

– Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ.

– Nhược điểm: Độ chính xác không cao. Hơn nữa đến cuối tháng kế toán mới tính đơn giá bình quân và giá trị hàng xuất kho nên khối lượng công việc sẽ bị dồn nhiều vào cuối kỳ. Cũng chính đến cuối tháng mới có giá xuất kho do đó mỗi nghiệp vụ xuất kho vì thế mà không được cung cấp kịp thời giá trị xuất kho.

* Nếu tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập.

– Nhược điểm: Theo cách này, sau mỗi lần nhập kế toán phải tính toán, xác định đơn giá bình quân của các loại hàng mua về. Căn cứ vào đơn giá bình quân và khối lượng xuất kho giữa hai lần nhập liên tiếp để xác định giá xuất kho. Qua đây, ta có thể thấy kế toán tính toán đơn giá xuất kho theo cách này sẽ tốn nhiều công sức do phải tính toán nhiều lần.

– Nhưng mặt khác nó lại mang lại ưu điểm là độ chính xác cao. Đồng thời đảm bảo được tính cập nhật, kịp thời cho mỗi lần xuất kho. Điều này đã khắc phục được nhược điểm mà cách tính cả kỳ dự trữ còn mắc phải.

Cách tính như sau:

Giá xuất kho = Số lượng x giá đơn vị bình quân.

Trong đó:

Trường hợp 1: Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ.

Giá đơn vị bình quân (cuối kỳ) = (Giá trị tồn đầu kỳ + giá trị nhập trong kỳ)/(số lượng tồn đầu kỳ + số lượng nhập trong kỳ).

Ví dụ: Tại Công ty Việt Hưng có số liệu của nguyên vật liệu X như sau.

+ Tồn kho đầu kỳ: 1.000 kg, đơn giá 20.000 đồng/kg

+ Nhập trong kỳ: 4.000 kg, có giá trị là: 88.000.000 đồng.

+ Tổng số lượng xuất trong kỳ: 2.500 kg

Giá trị của nguyên liệu X xuất kho trong kỳ là: 2.500kg x 21.600 đồng/kg = 54.000.000 đồng.

Trường hợp 2: Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập.

Ta xác định:

Giá đơn vị bình quân (sau mỗi lần nhập) = Giá trị thực tế sau mỗi lần nhập/ Số lượng tồn sau mỗi lần nhập.

Ví dụ: Tại Công ty Việt Hưng, có số liệu của nguyên liệu M trong tháng 1 như sau:

+ Ngày 01/01: tồn kho đầu kỳ: 5.000 kg, đơn giá 3.000 đồng/kg.

+ Ngày 10/01: Công ty Việt Hưng nhập kho 4.000 kg nguyên liệu M. Với đơn giá 2.000 đồng/kg.

Như vậy, tại ngày 10/01 kế toán phải tiến hành xác định giá đơn vị bình quân 1kg nguyên liệu M. Cụ thể như sau:

Giá đơn vị bình quân (ngày 10/01) = (5.000kg x 3.000 đồng/kg + 4.000kg x 2.000 đồng/kg)/(5.000kg + 4.000 kg) = 2.556 đồng/kg.

Giá trị xuất kho = 1.000kg x 2.556 đồng/kg = 2.556.000 đồng.

Tính Giá Xuất Kho Hàng Hóa Theo Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền

Theo phương pháp bình quân gia quyền, giá trị gia tăng của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo từng kỳ hoặc sau từng lô hàng nhập về, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp.

Hàng tồn kho là loại tài sản quan trọng của doanh nghiệp, việc xác định phương pháp xuất kho nay sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến báo cáo tài chính nên phương pháp xác định giá trị hàng tồn kho phải được kế toán công ty cung cấp một cách thực tế và chính xác. Việc xác định giá trị hàng tồn kho cần phải tuân thủ theo nguyên tắc giá gốc.

Bình quân gia quyền hay còn được biết đến là giá trị trung bình có trọng số, khó tính toán hơn một chút so với trung bình số học thông thường. Như tên gọi, bình quân gia quyền chính là số bình quân hay trung bình mà trong đó các con số thành phần có giá trị hay trọng số khác nhau.

Theo phương pháp bình quân gia quyền, giá trị của các loại hàng hóa tồn kho sẽ được tính theo giá trị trung bình của từng loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất trong kỳ.

Mặt khác, tùy vào đặc điểm kinh doanh của doanh nghiệp mà giá trị trung bình có thể được tính bởi 1 trong 2 cách.

Hoặc tính theo từng kỳ.

Hoặc tính sau từng lần nhập hàng.

Tùy vào kế toán lựa chọn vào cách tính giá trị trung bình. Thì tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền có các ưu và nhược điểm khác nhau.

Cụ thể:

2.1. Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền cả kỳ dự trữ.

– Ưu điểm: Đơn giản, dễ làm, chỉ cần tính toán một lần vào cuối kỳ.

– Nhược điểm: Độ chính xác không cao. Hơn nữa đến cuối tháng kế toán mới tính đơn giá bình quân và giá trị hàng xuất kho nên khối lượng công việc sẽ bị dồn nhiều vào cuối kỳ. Cũng chính đến cuối tháng mới có giá xuất kho do đó mỗi nghiệp vụ xuất kho vì thế mà không được cung cấp kịp thời giá trị xuất kho.

2.2. Tính giá xuất kho theo phương pháp bình quân gia quyền sau mỗi lần nhập.

– Nhược điểm: Theo cách này, sau mỗi lần nhập kế toán phải tính toán, xác định đơn giá bình quân của các loại hàng mua về. Căn cứ vào đơn giá bình quân và khối lượng xuất kho giữa hai lần nhập liên tiếp để xác định giá xuất kho. Qua đây, ta có thể thấy kế toán tính toán đơn giá xuất kho theo cách này sẽ tốn nhiều công sức do phải tính toán nhiều lần.

– Nhưng mặt khác nó lại mang lại ưu điểm là độ chính xác cao. Đồng thời đảm bảo được tính cập nhật, kịp thời cho mỗi lần xuất kho. Điều này đã khắc phục được nhược điểm mà cách tính cả kỳ dự trữ còn mắc phải.

Dùng thử miễn phí phần mềm quản lý bán hàng đa kênh chúng tôi

Quản lý tồn kho, hàng, hóa, đơn hàng,… chặt chẽ hạn chế thất thoát

Theo phương pháp này, đến cuối kỳ mới tính trị giá vốn của hàng xuất kho trong kỳ. Tùy theo kỳ dự trữ của doanh nghiệp áp dụng mà kế toán hàng tồn kho căn cứ vào giá nhập, lượng hàng tồn kho đầu kỳ và nhập trong kỳ để tính giá đơn vị bình quân

Đơn giá xuất kho bình quân trong kỳ của một loại sản phẩm

=

Giá trị hàng tồn đầu kỳ + giá trị hàng nhập trong kỳ

Số lượng hàng tồn đầu kỳ + số lượng hàng nhập trong kỳ

Ví dụ: Một công ty có tình hình xuất nhập hàng hóa như sau:

Tồn đầu tháng 3/2019 NVL B: 3000 kg đơn giá 2000 đ/kg

Ngày 05/03/2019 nhập NVL B: 9000 kg đơn giá 1800 đ/kg

Bài giải: Đến cuối T3/2019 tính đơn giá bình quân của 1 kg NVL B

Đơn giá bình quân 1kg NVL B = (3000 x 2000 + 9000 x 1800)/(3000 + 9000) = 1850 đ/kg

Lưu ý: Trong doanh nghiệp có nhiều loại hàng hóa (từ 2 mã hàng trở lên) thì phải thực hiện tính giá xuất kho riêng cho từng loại hàng.

Sau mỗi lần nhập sản phẩm, vật tư, hàng hóa, kế toán phải xác định lại giá trị thực của hàng tồn kho và giá đơn vị bình quân. Giá đơn vị bình quân được tính theo công thức sau:

Đơn giá xuất kho lần thứ i

=

Trị giá vật tư hàng tồn kho đầu kỳ + trị giá vật tư hàng hóa nhập trước lần xuất thứ i

Số lượng hàng tồn kho đầu kỳ + số lượng vật tư hàng hóa nhập trước lần xuất thứ i

Ví dụ: Một công ty có các nghiệp vụ như sau:

– Ngày 01/01/N tồn 1.000 USD tỷ giá 20.000đ/USD

– Ngày 03/01/N nhập kho 1.000 USD tỷ giá 20.200đ/USD

– Ngày 04/01/N xuất kho 1.000 USD

– Ngày 05/01/N nhập kho 1.000 USD tỷ giá 20.300đ/USD

Bạn thực hiện tính tỷ giá xuất quỹ ngoại tệ như sau:

– Ngày 03/01/N nhập kho 1.000 USD tỷ giá 20.200đ/USD

Tỷ giá xuất quỹ tại ngày 03/01/N = (1.000 x 20.000 + 1.000 x 20.200)/(1000+1000)=20.100đ

– Ngày 04/01/N xuất kho 1.000 USD theo tỷ giá 20.100đ

– Ngày 05/01/N nhập quỹ 1.000 USD tỷ giá 20.300đ/USD

Tỷ giá xuất quỹ tại ngày 05/01/N = (1.000 x 20.100 + 1.000 x 20.300)/(1000+1000)=20.200đ

Tóm lại, với phương pháp tính giá xuất kho bình quân này thì cứ sau mỗi lần nhập kế toán sẽ phải tính lại giá.

Phương pháp tính giá xuất kho bình quân gia quyền có những ưu nhược điểm nhất định, mức độ chính xác và độ tin cậy của nó tùy thuộc vào yêu cầu quản lý, trình độ, năng lực nghiệp vụ và trình độ trang bị công cụ tính toán, phương tiện xử lý thông tin của doanh nghiệp, đồng thời cũng tùy thuộc vào yêu cầu bảo quản, tính phức tạp về chủng loại, quy cách và sự biến động của vật tư, hàng hóa trong doanh nghiệp. Hiện nay, có rất nhiều công cụ hỗ trợ doanh nghiệp trong việc quản lý kho hàng, có thể kể đến cung cấp tính năng quản lý chặt chẽ hàng xuất kho, nhập kho về cả số lượng và giá thành chắc chắn giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn.

Hướng Dẫn Tính Giá Xuất Kho Bằng Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền Chuẩn Nhất

Theo lý thuyết có khá nhiều phương pháp tính giá xuất kho, tuy nhiên tính giá xuất kho bằng phương pháp bình quân gia quyền được các doanh nghiệp sử dụng phổ biên nhất vì độ chính xác và hiệu quả.

Trên thực tế phải căn cứ vào hoạt động của Doanh nghiệp kế toán có thể lựa chọn các phương pháp tính giá sao cho thuận lợi trong quá trình tính toán và phải sử dụng đúng nguyên tắc nhất quán trong hạch toán. Trường hợp nếu có thay đổi phương pháp phải có giải thích rõ ràng bằng văn bản để gửi về cơ quan thuế nhưng phải thực hiện tối thiểu là 6 tháng.

1.Phương pháp giá bình quân gia quyền

Theo phương pháp này giá xuất kho hàng hoá được tính theo đơn giá bình quân (bình quân cả kỳ dự trữ, bình quân cuối kỳ trước, bình quân sau mỗi lần nhập)

2.Các phương tính giá đơn vị bình quân được xác định bằng nhiều cách

Giá đơn vị bình quân được xác định bằng nhiều cách cụ thể như sau:

a) Phương pháp giá bình quân cả kỳ dự trữ (phương pháp này thường xuyên sử dụng)

Phương pháp này thích hợp với những doanh nghiệp có ít doanh điểm nhưng số lần nhập, xuất mặt hàng lại nhiều, căn cứ vào giá thực tế, tồn đầu kỳ để kế toán xác định giá bình quân của một đơn vị sản phẩm, hàng hoá

Ví dụ: Có dữ liệu kế toán công ty X như sau: học chứng chỉ kế toán trưởng online

Tồn đầu kỳ NVLA: 3000 kg đơn giá 1000đ/kg

Nhập trong kỳ NVLA: 7000kg đơn giá 770đ/kg

b) Phương pháp bình quân cuối kỳ trước:

Phương pháp này khá đơn giản và phản ánh kịp thời tình hình biến động của nguyên vật liệu, hàng hoá. Tuy nhiên lại không chính xác vì không tính đến sự biến động của giá cả.

c) Phương pháp đơn giá bình quân sau mỗi lần nhập

– Phương pháp này khắc phục được nhược điểm của hai phương pháp trên, vừa chính xác, vừa cập nhập được thường xuyên liên tục.

– Nhược điểm của phương pháp này là tốn nhiều công sức, tính toán nhiều lần

Ví dụ: Có dữ liệu kế toán công ty Y như sau:

Ngày 1/11 tồn kho NVLA: 3.000kg đơn giá 1.000đ/kg

Ngày 3/11 nhập kho NVLA: 2.000kg đơn giá 1.100đ/kg

Ngày 4/11 xuất kho NVLA: 4.000kg

Ngày 5/11 nhập kho NVLA: 3.000kg đơn giá 1.080đ/kg

Xác định đơn giá bình quân 1kg NVLA

Vậy tồn kho (3.000 x 1.000) + (2.000 x 1.100) – 4.160.000 = 1.040.000

Mỗi phương pháp tính giá trị hàng tồn kho đều có những ưu, nhược điểm nhất định. Mức độ chính xác và độ tin cậy của mỗi phương pháp tuỳ thuộc vào yêu cầu quản lý, trình độ, năng lực nghiệp vụ và trình độ trang bị công cụ tính toán, phương tiện xử lý thông tin của doanh nghiệp. Đồng thời cũng tuỳ thuộc vào yêu cầu bảo quản, tính phức tạp về chủng loại, quy cách và sự biến động của vật tư, hàng hóa ở doanh nghiệp.

Mong bài viết trên của nguyên lý kế toán giúp bạn đọc hiểu và năm rõ được phương pháp tính giá xuất kho bình quân gia quyền, giúp bạn xác định chính xác giá xuất kho.

Nếu bạn đang có nhu cầu học kế toán để nâng cao nghiệp vụ kế toán thực tế của mình có thể tham khảo Học kế toán thực hành ở đâu tốt để lựa chọn được địa chỉ uy tín.

Vốn Bình Quân Gia Quyền (Wacc) Là Gì? Cách Tính Chi Phí Sử Dụng Vốn Bình Quân Gia Quyền

Chi phí vốn bình quân gia quyền là yếu tố được sử dụng phổ biến trong Mô hình tài chính dạng Mô hình chiết khấu dòng tiền (DCF model) nói riêng và việc định giá doanh nghiệp nói chung.

Khi sử dụng mô hình chiết khấu để xác định giá trị của dòng tiền trong tương lai tại hiện tại, ta sẽ sử dụng tỷ suất chiết khấu là giá trị của chi phí vốn bình quân gia quyền.

Cùng chúng tôi tìm hiểu:

Vì sao cần quan tâm đến Chi phí sử dụng vốn?

Công thức tính: Chi phí sử dụng vốn bình quân WACC, Chi phí sử dụng vốn vay, Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu.

1. Chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền (WACC) là gì ?

Doanh nghiệp/ Dự án huy động vốn để hoạt động từ 2 đối tượng là vốn chủ sở hữu từ nhà đầu tư/ cổ đông và vốn vay từ người cho vay/ tổ chức tín dụng.

Vì thế mà lợi suất này chính là chi phí vốn của doanh nghiệp, phải trả cho nhà đầu tư (chi phí vốn chủ sở hữu hay chi phí vốn cổ phần) và phải trả cho người cho vay (chi phí vốn vay).

Ví dụ đơn giản là trong trường hợp dự án huy động vốn 50% từ ngân hàng, 50% từ nhà đầu tư.

Nếu ngân hàng đòi khoản lợi suất (lãi suất cho vay) là 8%, nhà đầu tư yêu cầu lợi suất đầu tư là 16% (thường phải cao hơn lãi suất cho vay nhiều họ mới đầu tư, không thì họ đã lựa chọn gửi ngân hàng).

Khi đó lợi suất yêu cầu của dự án có giá trị trung bình là (8%+16%)/2=12%. Đây chính là chi phí vốn trung bình của dự án là 12%.

Trong trường hợp tỷ lệ huy động vốn chủ sở hữu và vốn vay khác nhau (30/70) hoặc (40/60) thay vì 50/50 như ví dụ trên.

Ta sử dụng khái niệm chung cho chi phí vốn là chi phí vốn bình quân gia quyền thay vì chỉ là chi phí vốn trung bình.

Áp dụng chi phí vốn bình quân gia quyền

Chi phí vốn bình quân gia quyền được sử dụng trong chiết khấu dòng tiền.

Nó là tỷ lệ chiết khấu sử dụng trong việc lập mô hình tài chính, để chuyển dòng tiền thu nhập dự kiến thu được trong tương lai về giá trị hiện tại của nó để xác định giá trị hiện ròng của một doanh nghiệp hay một khoản đầu tư.

Qua việc định giá được giá trị khoản đầu tư, ta so sánh được giá trị đầu tư với giá trị thực của khoản thu nhập tạo ra là cao hay thấp và từ đó quyết định có đầu tư hay không.

Ở một khía cạnh khác, WACC là chi phí vốn của dự án tức là dự án cần tạo ra tỷ suất lợi nhuận tối thiểu phải bằng WACC.

Ví dụ với chi phí vốn WACC là 12% như trên, dự án tạo ra lợi suất 17% nghĩa là nó tạo ra giá trị tăng thêm 5%.

Nếu dự án tạo ra lợi suất thấp hơn 12% thì không nên đầu tư.

2. Chi phí sử dụng vốn bình quân gia quyền (WACC) được tính toán như thế nào?

Chi phí sử dụng vốn bình quân WACC được xác định bởi công thức:

#Cần lưu ý: Cơ cấu nguồn vốn sử dụng (E/V hay D/V) phải là cơ cấu nguồn vốn tối ưu. Được xác định theo giá trị thị trường của doanh nghiệp.

Chúng ta hãy xem qua ví dụ sau:

Một công ty cổ phần có tổng số vốn 5.000 triệu đồng, được hình thành từ các nguồn sau:

Kết cấu nguồn vốn trên được coi là tối ưu.

Theo tính toán, chi phí sử dụng vốn vay trước thuế là 10%/năm. Chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu là 13,4%. Thuế suất thuế TNDN là 20%.

Khi đó, Chi phí sử dụng vốn bình quân WACC:

WACC = 55% x 13,4% + 45% x 10% x (1 – 20%) = 10,97%

Bạn có thể tải file excel tính toán: File tính toán WACC

3. Xác định Chi phí sử dụng vốn cổ phần

Chi phí vốn cổ phần là tỷ suất sinh lợi mà nhà đầu tư kỳ vọng (hoặc yêu cầu) khi mua cổ phần của doanh nghiệp.

Nguyên tắc căn bản là rủi ro của vốn cổ phần càng lớn thì suất sinh lợi mà nhà đầu tư yêu cầu sẽ càng cao.

Có nhiều phương pháp để tính toán Chi phí sử dụng vốn cổ phần.

Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM)

Mô hình CAPM thể hiện quan hệ giữa suất sinh lợi kỳ vọng của một tài sản so với rủi ro hệ thống của tài sản đó.

KE: Chi phí sử dụng vốn cổ phần (hay TSSL đòi hỏi của nhà đầu tư đối với cổ phiếu).

Rf: Tỷ suất sinh lời phi rủi ro (thường được tính bằng Lãi suất trái phiếu Chính phủ).

RM: Tỷ suất sinh lời kỳ vọng của thị trường.

Ví dụ: Giả sử tỷ lệ phi rủi ro r f = 5%, hệ số β = 0.84, thu nhập thị trường kỳ vọng là 15%, khi đó:

Bạn sẽ tìm thấy số liệu lãi suất trái phiếu chính phủ Việt Nam các kỳ hạn tại trang chúng tôi

Hệ số β của doanh nghiệp bạn cũng có thể tìm thấy trên các trang tài chính (Cafef,…) hoặc từ các CTCK.

4. Cách xác định Chi phí sử dụng nợ vay

Nợ vay là khoản tiền doanh nghiệp vay mượn bên ngoài và phải thanh toán (gốc + lãi) theo ngày thỏa thuận.

Tiền lãi mà doanh nghiệp trả cho khoản vay sẽ được khấu trừ thuế nên sử dụng Chi phí sử dụng nợ vay sau thuế thường được chú ý hơn.

Doanh nghiệp có thể sử dụng nhiều loại trái phiếu, các khoản vay với hình thức khác nhau.

Vì thế, Chi phí sử dụng vốn vay là thước đo hiệu quả để biết được…

Chi phí trung bình mà doanh nghiệp phải trả khi huy động 1 đồng nợ vay là bao nhiêu?

Chi phí sử dụng nợ vay giúp nhà đầu tư hình dung ban đầu về rủi ro của doanh nghiệp.

Thông thường, doanh nghiệp có mức độ rủi ro cao hơn thường có chi phí sử dụng nợ cao hơn.

Chi phí sử dụng nợ vay được xác định bằng: KD = Lãi suất vay x (1 – Tax)

5. Sử dụng chi phí vốn bình quân gia quyền như thế nào?

Các nhà phân tích chứng khoán thường sử dụng WACC khi đánh giá giá trị của các khoản đầu tư và khi xác định nên theo đuổi công ty nào.

Ví dụ: trong phân tích dòng tiền chiết khấu, người ta có thể áp dụng WACC làm tỷ lệ chiế khấu cho các luồng tiền trong tương lai để lấy giá trị hiện tại ròng của doanh nghiệp.

WACC cũng có thể được sử dụng như một tỷ lệ vượt rào mà các công ty và nhà đầu tư có thể đánh giá hiệu suất ROIC. WACC cũng rất cần thiết để thực hiện các tính toán giá trị gia tăng kinh tế (EVA).

Các nhà đầu tư thường có thế sử dụng WACC như một chỉ báo về việc liệu một khoản đầu tư có đáng để theo đuổi hay không.

Nói một cách đơn giản, WACC là tỷ lệ lợi nhuận tối thiểu chấp nhận được mà tại đó một công ty mang lại lợi nhuận cho các nhà đau tư.

Để xác định lợi nhuận cá nhân của nhà đầu tư đối với khoản đầu tư vào công ty, chỉ cần trừ WACC khỏi tỷ lệ phần trăm lợi nhuận của công ty.

Ví dụ, giá sử rằng một công ty mang lại lợi nhuận 20% và có WACC là 11%. Điều này có nghĩa là công ty mang lại lợi nhuận 9% cho mỗi đô la mà công ty đầu tư.

Nói cách khác, với mỗi đo la chi tiêu, công ty đang tạo ra chín xu giá trị. Mặt khác, nếu lợi nhuận của công ty thấp hơn WACC, công ty sẽ mất giá trị.

Nếu một công ty có lợi nhuận 11% và WACC là 17%, công ty sẽ mất sáu xu cho mỗi đô la chi tiêu, tốt nhất là tránh xa công ty này và đặt tiền vào một công ty khác.

WACC có thể phục vụ như một kiểm tra thực tế hữu ích cho các nhà đầu tư; tuy nhiên, nhà đầu tư trung bình thường gặp rắc rối khi tính WACC, vì đây là một phép đo phức tạp đòi hỏi nhiều thông tin chi tiết về công ty.

Tuy nhiên, việc có thể tính toán WACC có thể giúp các nhà đầu tư hiểu WACC và tầm quan trọng của nó khi họ nhienf thấy nó trong các báo cáo của các nhà phân tích môi giới.

Hạn chế của chi phí vốn bình quân gia quyền

Công thức WACC có vẻ dễ tính toán hơn thực tế. Vì các yếu tố nhất định của công thức, như chi phí vốn cổ phần, không phải là giá trị nhất quán, các bên khác nhau có thể báo cáo giúp chúng khác nhau vì những lý do khác nhau.

Do đó, trong khi WACC thường có thể giúp nhà đầu tư có cái nhìn sâu sắc về giá trị công ty, thì người ta phải luôn sử dụng nó cùng với các số liệu khác khi xác định có nên đầu tư vào công ty hay không.