Top 16 # Xem Nhiều Nhất Ý Nghĩa Của Phương Pháp Chuyên Gia / 2023 Mới Nhất 12/2022 # Top Like | Cuocthitainang2010.com

Ý Nghĩa Của Phương Pháp Học Hiệu Quả / 2023

Ông bà ta có câu “Học ăn, học nói, học gói, học mở”. Câu nói này nói lên phạm vi học tập của con người là vô cùng bao la, rộng lớn. Chúng ta học mỗi ngày. Từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành và thậm chí là lúc già đi, chúng ta vẫn phải học. Nếu bạn nghĩ rằng việc học chỉ gói gọn là học kiến thức ở trường lớp thì bạn hoàn toàn mắc sai lầm. Bởi vì, ngay từ nhỏ, bạn đã học cách tập đi đứng, học cách ăn nói, v.v… Khi đến tuổi đến trường, bạn học các kiến thức trong sách vở. Khi đi làm, bạn học cách giao tiếp, cách đối xử với đồng nghiệp, khách hàng, v.v…. Ngoài ra, bạn còn học cách đối nhân xử thế, cách vượt qua nỗi đau khổ, cách sinh tồn khi rơi xuống nước, v.v… Đối với mỗi việc khác nhau, bạn sẽ cần một phương pháp để học khác nhau. Thậm chí, mỗi người sẽ lại thích hợp với phương pháp học tập khác nhau. Chính vì vậy, hiểu được giá trị của phương pháp học là điều rất cần thiết. Bài viết sau đây trung tâm gia sư sẽ cung cấp cho bạn về ý nghĩa của phương pháp học.

Bên cạnh đó, phương pháp học tập còn giúp ích cho bạn đối với từng cấp bậc học. Bởi vì, phương pháp học tập của trẻ em mẫu giáo, cấp một, cấp hai, cấp ba và sinh viên đại học, chắc hẳn sẽ có sự khác biệt rất lớn. Chúng ta không thể áp dụng phương pháp vừa học vừa chơi của các bé mẫu giáo cho chương trình chủ yếu tự học, tự nghiên cứu của sinh viên đại học. Do đó, hiểu về phương pháp học tập, các bạn học sinh, sinh viên sẽ có phương hướng học tập đúng đắn hơn cho mỗi cấp bậc học.

Phương pháp học giúp bạn tiết kiệm được thời gian, công sức học

Điều này là hiển nhiên. Bởi vì, người biết áp dụng phương pháp học đúng so với người không biết thì dĩ nhiên người sở hữu phương pháp học sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức học. Chẳng hạn, tại sao có người học ngoại ngữ chỉ cần 3-4 tháng là có thể giao tiếp lưu loát được. Trong khi đó, có người lại học mười mấy năm, vẫn chưa thể thành thạo bất cứ kĩ năng nghe – nói – đọc – viết nào. Điều này có nguyên nhân phần lớn do phương pháp học tập của họ. Qua đó, chúng ta thấy rằng, khi bạn trang bị cho mình phương pháp học, bạn sẽ tiết kiệm được thời gian, công sức học vô cùng lớn đấy.

Trịnh Hàn Kim Ngọc

Đtm Phương Pháp Chuyên Gia / 2023

Lời nói đầu 1 I. Tổng quan về đánh giá tác động môi trường 3 I.1 Khái niệm 3 I.2 Cấu trúc báo cáo đánh giá tác động môi trường 3 I.3 Các phương pháp sử dụng 4 II. Phương pháp ý kiến chuyên gia 4 II.1 Định nghĩa 4 II.2 Lựa chọn và thành lập nhóm chuyên gia 5 II.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia 7 II.4 Phân tích kết quả trưng cầu ý kiến 8 II.5 Ưu , nhược điểm 13 III. Kết luận chung 14 IV. Phương pháp Delphi 14 Tài liệu tham khảo 16

VIỆN KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG ———————————– TIỂU LUẬN ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG Đề Tài: PHƯƠNG PHÁP CHUYÊN GIA Giáo viên hướng dẫn : Th.S Đinh Bách Khoa Sinh viên thực hiện : Bùi Ngọc Hoàng – QLMT – K50 Vũ Văn Hùng – QLMT – K50 Nguyễn Đức Quang – CNMT – K50 Nguyễn Văn Chính – CNMT – K50 Hà Nội – 10 / 2008 Lời mở đầu Trong những năm gần đây, công chúng ngày càng quan tâm đến các vấn đề môi trường, đến phát triển bền vững và cải tiến phương thức quản lý phát triển sao cho hài hòa với lợi ích môi trường. Cùng với sự quan tâm đó là sự ra đời của các quy định luật pháp mới bao gồm các quy định của quốc gia và quốc tế nhằm cố gắng làm thay đổi mối quan hệ giữa môi trường và phát triển. Ðánh giá tác động môi trường là một ví dụ quan trọng về một trong những nỗ lực đó Đánh giá tác động môi trường (ĐTM ) ( Tiếng anh là : Environmental Impact Assessment (EIA) ) là căn cứ mang tính chất pháp lý bắt buộc của dự án phát triển . Theo quy định của luật bảo vệ môi trường thì ĐTM phải được thông qua thì dự án mới được cấp phép đầu tư. Đánh giá tác động môi trường nhằm mục đích cân nhắc giữa môi trường và phát triển nhằm hạn chế tối đa các tác động có hại cho môi trường. Việc thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường sử dụng nhiều phương pháp khoa học kỹ thuật , kinh tế , kinh nghiêm v.v. Và phương pháp tham khảo ý kiến chuyên gia để đánh giá , dự báo các vấn đề trong báo cáo là một trong các phương pháp được áp dụng. Do nguồn tài liệu hạn chế nên bài tiểu luận không tránh khỏi sự thiếu sót rất mong được sự đóng góp của thầy và các bạn . Xin chân thành cám ơn! Tiểu luận được hoàn thành với sự đóng góp của cả nhóm . Lời nói đầu 1 I. Tổng quan về đánh giá tác động môi trường 3 I.1 Khái niệm 3 I.2 Cấu trúc báo cáo đánh giá tác động môi trường 3 I.3 Các phương pháp sử dụng 4 II. Phương pháp ý kiến chuyên gia 4 II.1 Định nghĩa 4 II.2 Lựa chọn và thành lập nhóm chuyên gia 5 II.3 Phương pháp trưng cầu ý kiến chuyên gia 7 II.4 Phân tích kết quả trưng cầu ý kiến 8 II.5 Ưu , nhược điểm 13 III. Kết luận chung 14 IV. Phương pháp Delphi 14 Tài liệu tham khảo 16 I. Tổng quan về đánh giá tác động môi trường I.1 Khái niệm Đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường của các dự án quy hoạch, phát triển kinh tế – xã hội, của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học kỹ thuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp thích hợp về bảo vệ môi trường. Hoạt động phát triển kinh tế – xã hội ở đây có loại mang tính kinh tế – xã hội của quốc gia, của một địa phương lớn, hoặc một ngành kinh tế văn hóa quan trọng (luật lệ, chính sách quốc gia, những chương trình quốc gia về phát triển kinh tế – xã hội, kế hoạch quốc gia dài hạn), có loại mang tính kinh tế – xã hội vi mô như đề án xây dựng công trình xây dựng cơ bản, quy hoạch phát triển, sơ đồ sử dụng một dạng hoặc nhiều dạng tài nguyên thiên nhiên tại một địa phương nhỏ. Tuy nhiên, một hoạt động có ý nghĩa vi mô đối với cấp quốc gia, nhưng có thể có ý nghĩa vĩ mô đối với xí nghiệp. Hoạt động vi mô nhưng được tổ chức một cách phổ biến trên địa bàn rộng có khi lại mang ý nghĩa vĩ mô. Tác động đến môi trường có thể tốt hoặc xấu, có lợi hoặc có hại nhưng việc đánh giá tác động môi trường sẽ giúp những nhà ra quyết định chủ động lựa chọn những phương án khả thi và tối ưu về kinh tế và kỹ thuật trong bất cứ một kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội nào. ( I.2 Cấu trúc của báo cáo đánh giá tác động môi trường Tuy luật các nước có những đòi hỏi chi tiết hơi khác nhau về ĐTM , nhưng những điểm chính thì không có gì khác biệt và đều có những phần sau đây:    – Dự án và những lựa chọn: Mục đích, các chi tiết kỹ thuật cụ thể của công trình (chẳng hạn nếu là nhà máy thì sẽ có những bộ phận gì, dùng vật liệu gì, tiêu bao nhiêu năng lượng, dùng bao nhiêu công nhân, mặt bàn ra sao, v.v.). Ngoài ra, cần cho biết những lựa chọn khác (alternatives) và so sánh chúng với dự án hiện tại. Những so sánh này cần phải khách quan và khoa học chứ không được “một chiều” theo kiểu luật sư bào chữa cho thân chủ.   – Khung cảnh môi trường nền của dự án: tả rõ môi trường có thể bị ảnh hưởng. Đây không phải chỉ là môi trường thiên nhiên mà còn cả môi trường con người: cảnh quan, văn hóa, di tích lịch sử, xã hội (đời sống xã hội của dân chúng, giải trí), kinh tế (công ăn việc làm, lợi tức cho địa phương và toàn quốc).   - Những biện pháp chủ dự án sẽ dùng để khắc phục hay giảm tới mức tối thiểu những tác động xấu của dự án.     - Kết luận – tóm tắt các điểm chính để chứng minh rằng tác động lợi nhiều hơn là hại. I.3 Các phương pháp thường sử dụng trong lập báo cáo ĐTM Hiện nay có rất nhiều phương pháp sử dụng rong đánh giá tác động môi trường , nhưng người ta sử dụng các phương pháp sau : Phương pháp liệt kê Phương pháp ma trận Phương pháp chập bản đồ Phương pháp sơ đồ mạng Phương pháp mô hình hoá Phương pháp chuyên gia Phươnh pháp sử dụng hệ thống thong tin địa lý II. Phương pháp ý kiến chuyên gia đánh giá tác động môi trường II.1 Định nghĩa Phương pháp chuyên gia là phương pháp thu thập và xử lý những đánh giá, dự báo bằng cách tập hợp và hỏi ý kiến các chuyên gia giỏi thuộc một lĩnh vực hẹp của khoa học – kỹ thuật hoặc sản xuất. Quá trình áp dụng phương pháp chuyên gia có thể chia thành ba giai đoạn lớn: Lựa chọn chuyên gia; Trưng cầu ý kiến chuyên gia; Thu thập và xử lý các đánh giá dự báo. Chuyên gia giỏi là người thấy rõ nhất những mâu thuẫn và những vấn đề tồn tại trong lĩnh vực hoạt động của mình, đồng thời về mặt tâm lý họ luôn luôn hướng về tương lai để giải quyết những vấn đề đó dựa trên những hiểu biết sâu sắc, kinh nghiệm sản xuất phong phú và linh cảm nghề nghiệp nhạy bén. Phương pháp chuyên gia dựa trên cơ sở đánh giá tổng kết kinh nghiệm, khả năng phản ánh tương lai một cách tự nhiên của các chuyên gia giỏi và xử lý thống kê các câu trả lời một cách khoa học. Nhiệm vụ của phương pháp là đưa ra những dự báo khách quan về tương lai phát triển của khoa học kỹ thuật hoặc sản xuất dựa trên việc xử lý có hệ thống các đánh giá dự báo của các chuyên gia. ( ThS. Nguyễn Quốc Tòng. ( ) Phương pháp chuyên gia là phương pháp tổng hợp nhiều phương pháp mang tính kinh nghiệm cao của các chuyên gia II.2. Lựa chọn và thành lập nhóm chuyên gia, kết hợp: II.2.1. Cơ cấu nhóm chuyên gia: Khi đánh giá ,dự báo bằng phương pháp chuyên gia, chúng ta cần thành lập nhóm chuyên gia, chủ yếu có 2 nhóm sau đây: a) Nhóm chuyên gia thường trực: Thành phần nhóm này, thực chất là chủ nhiệm đề tài (hoặc chuyên đề đang nghiên cứu) gồm từ nhóm người cùng phối hợp tham gia, trong đó có 1 chuyên gia chủ trí xây dựng đề cương nghiên cứu và phương pháp luận của đề tài về các vấn đề về môi trường và phát triển mà chủ đầu tư đã vạch ra trong dự án phát triển , quy hoạch , dự luật v.v.. Như vậy phải hình thành nhóm thường trực. b) Lập danh sách mời chuyên gia: Dựa trên các vấn đề chính của đối tượng của dự án nhóm chuyên gia thường trực đề xuất mời các chuyên gia tham gia đánh giá ,dự báo. Một vấn đề vô cùng quan trọng ở khâu này là xác định cho được vấn đề trong số chuyên gia trong tất cả các lĩnh vực cần tham khảo ý kiến chuyên gia là tỷ lệ số chuyên gia cũng như số lượng chuyên gia là bao nhiêu. Nếu chúng ta không có cách tiếp cận đúng về vấn đề này thì khi mời chuyên gia và xử lý kết quả sẽ cho ta một kết quả “hội làng” và phản ánh không đúng xu hướng đánh giá của dự án . Nguồn lao động (nhu cầu) Môi trường tự nhiên , môi trường vật lý , môi trường xã hội Vị trí địa lý , địa hình , khí hậu. Tài nguyên , hệ sinh thái Lịch sử phát triển các vấn đề tương tự .v.v. II.2.3. Xây dựng biểu câu hỏi lấy ý kiến chuyên gia: Khi ta có được các phương án, xác định được các vấn đề của đối tượng đánh giá , dự báo, chúng ta có cơ sở đưa ra những câu hỏi về mặt số lượng, đồng thời căn cứ vào yêu cầu đề ra cần soạn thảo thêm các câu hỏi nhằm thu được các thông tin đánh giá về mặt chất lượng và quan hệ. Các câu hỏi luôn phải xoay quanh trọng tâm để có sự thống nhất và toàn diện. II.2.4. Cung cấp thông tin cần thiết cho các chuyên gia: II.2.5 Đánh giá năng lực chuyên gia: Điều rõ ràng là chất lượng đánh giá , dự báo phụ thuộc nhiều vào trình độ chuyên gia. Do đó có thể thông qua việc chuyên gia tự đánh giá mình để lựa chọn chuyên gia hoặc dùng bản tự khai, chúng ta đều có thể chọn lựa được chuyên gia. a) Phương pháp tự đánh giá mình (cho điểm): Ta lập thang điểm từ 0-1 và ghi sẵn các câu hỏi và để chuyên gia tự đánh giá vào các ô. Nhóm chuyên gia thường trực sẽ thu hồi phiếu và xử lý theo nguyên tắc 0 ≤ Ti ≤ 1 (Ti: trình độ chuyên gia). b) Phương pháp điền bản tự khai: Phương pháp này khác phương pháp cho điểm là xây dựng các tiêu chí đánh giá trình độ chuyên gia, dựa vào các câu hỏi để kiểm tra trình độ chuyên gia. Các câu hỏi của bản tự khai gồm các nhóm như sau: Nhóm thông tin về tuổi tác, nghề nghiệp, chuyên môn, kinh nghiệm công tác, sở trường sở đoán, v.v… Nhóm thông tin có tính phương án mà các chuyên gia phải lựa chọn trả lời. Nhóm thông tin nêu bật bản chất của vấn đề nghiên cứu. Hình thức câu hỏi bản tự khai, chúng ta có thể dùng các loại câu hỏi đóng, mở, trực tiếp hoặc gián tiếp… nhằm đa dạng thu thập thông tin và tìm giải pháp tối ưu để có số liệu xử lý theo ý muốn. II.2.6. Thành lập nhóm chuyên gia: Trong quá trình chọn chuyên gia, vấn đề xác định nhóm chuyên gia cần thiết của nhóm là vấn đề đóng vai trò quan trọng trong quá trình lựa chọn chuyên gia. Vì đánh giá của mỗi nhóm chuyên gia của mỗi nhóm vấn đề đều ảnh hưởng đến kết quả chung. Ngược lại khi tăng số lượng chuyên gia trong một nhóm có thể làm kết quả sai lệch. Ở đây chúng ta dùng phương pháp tính điểm Ti (trình độ trung bình của chuyên gia) để sắp xếp các danh sách chuyên gia theo thang điểm giảm dần. Như vậy, việc loại bỏ chuyên gia nào đều phụ thuộc vào hai yếu tố: Chi phí và mức độ tin cậy của vấn đề đánh giá ,dự báo. II.3. Phương pháp trưng cầu lấy ý kiến chuyên gia: II.3.1. Phương pháp trưng cầu: Đây là giai đoạn quan trọng của phương pháp. Chúng ta có 2 cách tiếp cận để trưng cầu chuyên gia: Trưng cầu theo nhóm và cá nhân. Trưng cầu có mặt và vắng mặt. SƠ ĐỒ TRƯNG CẦU BẰNG PHƯƠNG PHÁP CHUYÊN GIA II.3.2. Các hình thức tổ chức trưng cầu lấy ý kiến chuyên gia: Ta có các cách để áp dụng sau đây: a) Phương pháp não công: Dựa trên nguyên tắc là thu được các ý tưởng mới, một quyết định về vấn đề nào đó mang tính sáng tạo của tập thể hoặc một nhóm người. Nhiệm vụ chính của phương pháp tấn công não là: Đề xuất tư tưởng mới. Phân tích và đánh giá tư tưởng đã nêu. b) Phỏng vấn: là hình thức trưng cầu mà các nhà phân tích đặt ra các câu hỏi cho các chuyên gia đánh giá theo một chương trình đã định trước. c) Hội thảo. d) Hội nghị. II.4. Phân tích kết quả trưng cầu ý kiến chuyên gia: Đây là giai đoạn cuối và rất quan trọng trong quá trình áp dụng phương pháp chuyên gia. Chúng ta phải giải quyết 2 vấn đề khi xử lý ý kiến chuyên gia: Đánh giá thời gian hoàn thành sự kiện ,thời gian xuất hiện sự kiện mới. Đánh giá tâm quan trọng tương đối giữa các sự kiện. II.4.1. Đánh giá thời gian hoàn thành sự kiện, thời gian xuất hiện sự kiện mới. Phân tích xử lý các ý kiến chuyên gia phải xác định được đại lượng đặc trưng cho ý kiến của nhóm, của tập thể chuyên gia và độ thống nhất ý kiến của họ. Để đánh giá được thời gian xuất hiện các sự kiện và quá trình kinh tế mới ta dùng trung bị và khoảng tứ phân vị. + Trung vị: Trong dự báo trung vị được xem như là giá trị của ý kiến đánh giá dự báo có tổng số những ý kiến đánh giá trước giá trị đó bằng tổng số những ý kiến đánh giá sau giá trị đó. + Khoảng tứ phân vị: Là khoảng chứa chừng 50% những đánh giá dự báo của tập thể chuyên gia nằm giữa khoảng 25% những đánh giá cao nhất và 25% những ý kiến đánh giá thấp nhất. Giá trị giới hạn trên (dưới) của khoảng tứ phân vị được gọi là số tứ phân vị trên (dưới) được minh họa như sau : 0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 110 t0,25 t0,50 t0,75 Khoảng tứ phân vị – Cách tính trung vị: Trong đó: XMemin: Giá trị dưới của tổ chứa số trung vị dMe: Khoảng cách của tổ chứa số trung vị n: Tổng số chuyên giá chứa số trung vị F(Me-1): Tần số tích luỹ của tổ đứng trước tổ chứa số trung vị Ta có: F(Me-1) = ∑f(Me-1) fMe: Tần số của tổ chứa số trung vị + Công thức tính khoảng tứ phân vị: Trong đó: XMe’min, XMe”min: Giới hạn dưới của tổ chứa số tứ phân vị dưới và tứ phân vị trên. dMe’, dMe”: Khoảng cách của tổ chứa số tứ phân vị dưới và trên. (Me’-1), F(Me”-1): Tần số tích luỹ của tổ đứng trước tổ chứa số tứ phân vị dưới và trên. fMe’, fMe”: Tần số của tổ chứa số tứ phân vị dưới và trên. Ví dụ : Tham khảo ý kiến chuyên gia về sự xuất hiện vấn đề môi trường của dự án . Có 50 chuyên gia được hỏi. Kết quả như sau: Bảng 1. Kết quả ý kiến của các chuyên gia về thời gian xuất vấn đề môi trường Thời gian xuất hiện vấn đề môi trường Số chuyên gia đồng ý (Tần số) Tần số tích luỹ 1 – 2 năm 2 2 2 – 4 năm 4 6 4 – 6 năm 20 36 6-8 năm 17 43 8-10 năm 7 50 > 10 năm 0 50 – Xử lý ý kiến chuyên gia + Tính số trung vị để biết được số chuyên gia đồng ý và không đồng ý với năm sẽ xuất hiện vấn đề môi trường Số trung vị Thay số vào công thức trên ta có: Me = 4 + 2*(50/2 – 6)/20 = 5,9 năm Kết luận: Như vậy một nửa số chuyên gia được hỏi ý kiến cho rằng khoảng gần 6 năm nữa (5,9 năm) sẽ có vấn đề môi trường xảy ra từ khi dự án đựợc phê duyệt II.4.2. Đánh giá tầm quan trọng tương đối giữa các sự kiện: Để thực hiện mục tiêu tổng quát, phải thực hiện được mục tiêu con. Trong trường hợp cần phải đánh giá mục tiêu nào quan trọng hơn mục tiêu nào, ta phải tập trung vào mục tiêu ưu tiên, mũi nhọn. Ví dụ: Các mục tiêu kinh tế – xã hội gồm: Tốc độ tăng trưởng GDP; Công ăn việc làm; Nhu cầu tiêu dùng; Phân phối thu nhập; Đầu tư phát triển; V.v…. Khi sử dụng phương pháp chuyên gia để giải quyết vấn đề này, người ta thường dùng các chỉ tiêu: Giá trị điểm trung bình của từng mục tiêu (Cj); Hệ số nhất trí riêng (Wj); Hệ số nhất trí chung (W). Ta có công thức: Xác định điểm trung bình của các mục tiêu: (n: chuyên gia) (m: mục tiêu) Hệ số nhất trí riêng được xác định theo công thức: Hệ số nhất trí chung: (0 ≤ W ≤ 1) Trong đó: S: là tổng hạng của mục tiêu Ti: Hệ số năng lực Ví dụ : đánh giá của các chuyên gia về hoạt động phát triển như sau: . Bảng xếp hạng các yếu tố của các chuyên gia Chuyên gia Vốn Công nghệ Quản lý Lao động Tăng trưởng C1 3 1 2 4 5 C2 4,5 2 1 3 4,5 C3 1 2,5 2,5 4 5 C4 2 1 3 4,5 4,5 C5 1 2 3 4 5 C6 1 3,5 2 3,5 5 Tổng Sj 12,5 12 13,5 23 29 j 2,1 2 2,3 3,8 4,8 Để tính hệ số nhất trí chung ta lần lượt tiến hành các bước như sau: – Bước 1. Tính Tổng các hạng của mục tiêu (Sj), ghi ở cuối bảng – Bước 2. Tính hạng trung bình    – Bước 3. Tính tổng bình phương các độ lệch   S = (12,5-18)2 + (12-18)2 + (13,5-18)2 + (23-18)2 + (29-18)2 = 232,5 – Bước 4. Tính ΣTj = 138. L – Là số các nhóm có hạng bằng nhau; te – Là số lượng bằng nhau các hạng trong nhóm e T1 = (33 – 3) = 24; T2 = (23 – 2) + (23 – 2) = 12; T3 = (23 – 2) + (23 – 2) = 12; T4 = (33 – 3) = 24; T5 = (43 – 4) + (23 – 2) = 66 Bước 5. Tính hệ số nhất trí chung W = 1 : Hoàn toàn nhất trí với nhau về tất cả các mục tiêu. Nếu W< 0,75 phải điều chỉnh và đánh giá lại các ý kiến của chuyên gia. Thay số vào công thức trên, ta có: Tóm lại tổ chức dự báo bằng phương pháp chuyên gia tiến hành ba giai đoạn: Giai đoạn 1: Dự báo các nhân tố theo phương pháp phỏng vấn cá nhân chuyên gia để hình thành các phương án dự báo theo các nhân tố. Giai đoạn 2: Tổ chức tấn công trí tuệ có thể theo phương pháp Delphi để hoàn chỉnh và lựa chọn các phương án dự báo nhân tố, các kịch bản xảy ra , lập phiếu lấy ý kiến tập thể chuyên gia. Giai đoạn 3: Tổ chức lấy ý kiến đánh giá của tập thể chuyên gia về khả năng, mức độ hiện thực của từng phương án dự báo. II.5. Ưu nhược điểm của phương pháp chuyên gia II.5.1 Ưu điểm Thực ra, không có một phương pháp dự báo nào lại đóng vai trò “kép” như phương pháp chuyên gia. Có thể coi đây là phương pháp mang ½ là khoa học và ½ là nghệ thuật và là phương pháp ra đời sớm nhất và lâu đời nhất. Phương pháp chuyên gia đặc biệt thích hợp để dự báo trong trường hợp sau đây: Đối tượng dự báo thiếu thông tin, thiếu thống kê đầy đủ toàn diện và đáng tin cậy về hình thức biểu hiện trong thực tế của quy luật vận động của đối tượng đánh giá , dự báo trong quá khứ và hiện tại. Đối tượng dự báo thiếu hoặc không có cơ sở lý luận thực tiễn chắc chắn bảo đảm cho việc mô tả quy luật vận động của đối tượng bằng cách sử dụng các phương pháp giải thích thực nghiệm và mô hình toán học nói chung. Đối tượng dự báo có độ bất định lớn, độ tin cậy thấp về hình thức thể hiện, về chiều hướng biến thiên về phạm vi bao hàm cũng như quy mô và cơ cấu. Đối tượng dự báo chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố, phần lớn là các nhân tố rất khó lượng hoá (như ví dụ trên) đặc biệt là các nhân tố thuộc về tâm lý xã hội (thị hiếu, thói quen, lối sống, đặc điểm dân cư…) hoặc tiến bộ kỹ thuật (phát minh và ứng dụng, “mốt” mới xuất hiện…). Vì vậy trong quá trình phát triển của mình đối tượng tự báo có nhiều đột biến về quy mô và cơ cấu mà nếu không nhờ đến tài nghệ của chuyên gia thì mọi sự mô phỏng trở nên vô nghĩa. Khi dự báo dài hạn và siêu dài hạn thì phương pháp chuyên gia đặc biệt phát huy ưu điểm của mình (các phương pháp khác không tính đến sự thay đổi lớn của phát minh, ứng dụng khoa học kỹ thuật). Phương pháp chuyên gia áp dụng tốt trong trường hợp xác định vấn đề xuất phát và các mục tiêu cơ bản của một chương trình nghiên cứu hoặc của đề tài lớn. Trong hoàn cảnh cấp bách với khoảng thời gian ngắn mà phải lựa chọn một phương án quan trọng, người ta cũng sử dụng phương pháp chuyên gia. Áp dụng đối tượng dự báo là hoàn toàn mới mẻ (ngành mới), không chịu ảnh hưởng của chuỗi số liệu lịch sử, mà chịu ảnh hưởng của phát minh khoa học. II.5.2. Nhược điểm Phương pháp chuyên gia khi sử dụng cần phải kết hợp với các phương pháp dự báo khác, để có thể lựa chọn phương án tối ưu làm kết quả. Mặt khác trong nhiều trường hợp người ta dùng phương pháp chuyên gia để biện luận – hiệu chỉnh kết quả các phương pháp dự báo khác. Nhược điểm vốn có của phương pháp chuyên gia là tính khách quan bị hạn chế. Các đánh giá thường bị các yếu tố tâm lý, bản lĩnh chuyên gia chi phối. Do đó một nguyên tắc bất di bất dịch trong quá trình trưng cầu phải dấu tên chuyên gia. Phương pháp chuyên gia đòi hỏi phải xây dựng cho kỳ được nhóm chuyên gia theo từng vấn đề của đối tượng dự báo (thoả mãn về cả yêu cầu số lượng, chất lượng, cơ cấu), thích hợp với từng loại hình doanh nghiệp, từng ngành, từng lĩnh vực, từng cấp và từng địa bàn. III. Kết luận chung IV . Phương pháp Delphi 1. Định nghĩa Phương pháp Delphi là một trong các phương pháp chuyên gia . Phương pháp Delphi là phương pháp dự báo định tính theo đó ý kiến của các chuyên gia được kết hợp trong một loạt số lần lặp lại. Kết quả của mỗi lần lặp lại được sử dụng cho lần lặp tiếp theo để thu thập được ý kiến chung của các chuyên gia. Phương pháp này có thể áp dụng cho bất kỳ lĩnh vực nghề nghiệp nào. Nó là một kỹ thuật hỗ trợ nhóm đơn giản và “linh hoạt” dựa trên một “quy trình tương tác nhiều giai đoạn, thiết kế nhằm biến ý kiến thành sự đồng thuận nhóm” (Hasson, Keeney và McKenna, 2000). Trong tình huống quản lý nguồn lợi tự nhiên, nó cho phép nhiều yêu cầu cùng được cân nhắc như nhau và đưa ra ý kiến của nhà chuyên môn trong khi tiến tới sự thống nhất hơn (Taylor và Ryder, 2003). Trong trường hợp nghiên cứu về tương lai, nó được sử dụng như một công cụ để dự báo sự phát xuất hiện nhân tố mới . *. Cơ sở của phương pháp Delphi Phương pháp này là một sự áp dụng có hiệu quả sự giao thiệp theo nhóm giữa các chuyên gia ở khắp các nơi có sự khác nhau về mặt địa lý (Adler và Ziglio, 1996) . Kỹ thuật này cho phép các chuyên gia giải quyết được các vấn đề khó khăn hay những nhiệm vụ phức tạp một cách có hệ thống công bằng mà nói thì về cơ bản của phương pháp này là dễ hiểu. phương pháp này bao gồm một chuỗi nối tiếp các bản câu hỏi hoặc được gửi qua mail hoặc thông qua các hệ thống mà đã được máy tính hóa cho một nhóm mà các chuyên gia đã lựa chọn trước. Các bài toán được thiết kế để có thể suy luận ra và xây dựng các câu trả lời của từng cá nhân đối với các vấn đề đã được đặt ra và làm cho các chuyên gia có khả năng đánh giá sự giám sát của họ đối với tiến độ thực hiện công việc của nhóm phù hợp với nhiệm vụ được giao. Điểm chủ yếu của phương pháp ngày nó sẽ khắc phục được những khuyết điểm trong việc hoạt động của các ủy ban quy đưa ra các tiêu chuẩn. theo ông Fowles (1978), các thông tin phản hồi được kiểm soát, và câu trả lời được trình bày theo phương pháp thống kê là đặc điểm tiêu biểu của phương pháp delphi. Sự tương tác theo nhóm trong delphi là ẩn danh. Trong trường hợp đối với những lời bình, những lời dự đoán, và những đại thứ đại loại như vậy không xác nhận những người tạo ra chúng tuy nhiên chúng cũng được giải thích cho nhóm này theo một cách thức như thế này để giữ bí mật cho họ. 2. Các bước thực hiện Fowles (1978) mô tả mười bước sau cho phương pháp Delphi: “ Selection of one or more panels to participate in the exercise. Customarily, the panelists are experts in the area to be investigated.” ( Lựa chọn 1 hay nhiều nhóm chuyên gia tham gia vào việc đánh giá , dự báo . Thông thường các chuyên gia có mặt trong khu vực sẽ được mời tham gia) “Development of the first round Delphi questionnaire “:( xây dựng bản câu hỏi delphi tại vòng đầu tiên) Testing the questionnaire for proper wording (e.g., ambiguities, vagueness)”.( kiểm tra độ chính xác của từ trong câu hỏi (sự tối nghĩa, sự ang áng …)). Transmission of the first questionnaires to the panelists.( chuyển bản câu hỏi đầu tiên cho các thành viên Analysis of the first round responses (phân tích các câu trả lời của vòng đầu tiên) Preparation of the second round questionnaires (and possible testing) 🙁 . chuẩn bị các bản câu hỏi của vòng thứ hai( và kiểm tra các khả năng có thể xẩy ra)). Transmission of the second round questionnaires to the panelists (chuyển câu hỏi của vòng hai này cho các thành viên) . Analysis of the second round responses (Steps 7 to 9 are reiterated as long as desired or necessary to achieve stability in the results.) (phân tích các câu trả lời của vòng hai này ( bước 7 và bước 9 được lập lại cho đến khi có thể đạt được một sự ổn định trong các kết quả này) 10 .Preparation of a report by the analysis team to present the conclusions of the exercise(chuẩn bị một báo cáo được viết bởi đội phân tích này để đưa ra những kết luận của bài tập này.) Tài liệu tham khảo 1. 2. » 3. 4. www.moitruongxanh.info/diendan 5 www.monre.gov.vn/monreNet/Default.aspx?tabid=222&ItemID 6.Lê T hạc Cán và tập thể tác giả – Đánh giá tác động môi trường phương pháp luận và thực tiễn – NXB KHKT 1994 7. The Delphi Method: A qualitative means to a better future by Jared Bourgeois, Laura Pugmire, Keara Stevenson, Nathan Swanson, and Benjamin Swanson.

Các file đính kèm theo tài liệu này:

ĐTM_Phương pháp chuyên gia.doc

Ý Nghĩa Của Phương Pháp Dạy Học Tích Cực / 2023

Phương pháp dạy học tích cực là gì, có ý nghĩa như thế nào? Vận dụng ra sao? Bản chất của phương pháp dạy học tích cực.

Hiện nay trên thế giới có nhiều phương dạy học, tất cả đều với mục đích muốn giảng dạy tốt cho học sinh, sinh viên và người đi học một chương trình tốt.

Khái niệm phương pháp dạy học tích cực

Hay nói cách khác, phương pháp dạy và học tích cực không cho phép giảng viên truyền đạt hết kiến thức mình có đến với học sinh mà thông qua những dẫn dắt sơ khai sẽ kích thích học sinh tiếp tục tìm tòi và khám phá kiến thức đó. Cách dạy này đòi hỏi những giảng viên phải có bản lĩnh, chuyên môn tốt và cả sự nhiệt thành, hoạt động hết công suất trong quá trình giảng dạy.

Cách tiến hành phương pháp dạy học tích cực

Những nguyên tắc, hay còn được gọi là đặc trưng cơ bản của phương pháp học tích cực chính là:

Dạy học thông qua hoạt động của học sinh là chủ yếu

Tức là trong tiết học, học sinh chính là đối tượng chính để khai phá kiến thức. Chính vì thế, giáo viên phải làm sao đó, với những cách thức gợi mở vấn đề ở một mức độ nhất định sẽ tác động đến tư duy của học sinh, khuyến khích học sinh tìm tòi và cùng bàn luận về vấn đề đó.

Chú trọng đến phương pháp tự học

Nếu bạn chủ động áp dụng phương pháp dạy và học tích cực, bạn phải loại bỏ hoàn toàn suy nghĩ cầm tay chỉ việc, đọc – chép… như những cách thức giảng dạy thông thường khác.

Với phương pháp dạy học tích cực, giáo viên sẽ chú trọng cho học sinh cách thức rèn luyện và tự học, tự tìm ra phương pháp học tốt nhất để có thể tự nắm bắt kiến thức mới. Tất nhiên, kiến thức mới sẽ được giáo viên kiểm định và đảm bảo chắc chắn đấy là kiến thức chuẩn.

Ưu tiên phương pháp học nhóm, tập thể

Với phương pháp học tích cực, giảng viên phải biết cách chia đội, nhóm và giúp các học sinh phối hợp cùng với nhau để tìm ra phương pháp học tốt nhất.

Chốt lại kiến thức học

Cuối mỗi buổi học, giảng viên, gia sư sẽ cùng học sinh tổng hợp lại những kiến thức tìm hiểu được, đồng thời giải đáp những vấn đề học còn thắc mắc, cùng trao đổi và chốt lại kiến thức cho cả buổi học.

Chính vì thế, điều quan trọng vấn là giảng viên phải biết cách vận dụng phương pháp dạy học tích cực để có thể giúp học sinh nhanh chóng thích nghi với phương pháp học tích cực, chủ động này.

Phương pháp dạy học tích cực tại Việt Nam

Là một phương pháp học lấy sự chủ động của người học làm trọng tâm, phương pháp dạy học tích cực đã và đang được nhiều nước có nền giáo dục tiên tiến trên thế giới áp dụng và mang lại những thành công nhất định cho nền giáo dục nước nhà. Tại Việt Nam, phương pháp dạy học tích cực cũng đang dần được phổ biến, thay thế cho cách thức giảng dạy và tiếp nhận kiến thức một cách thụ động như trước đây.

Phương Pháp Nghiên Cứu Của Tội Phạm Học? Ý Nghĩa? / 2023

19392

1. Phương pháp nghiên cứu của tội phạm học

Tội phạm học khác với các khoa học pháp lý khác ở chỗ trong tội phạm học sử dụng phổ biến và có hiệu quả phương pháp thống kê và một số phương phương nghiên cứu cụ thể của xã hội học như phương pháp phiếu điều tra, phương pháp phỏng vấn, phương pháp chuyên gia, phương pháp quan sát, phương pháp thực nghiệm,…

a) Phương pháp thống kê

– Bước thứ nhất: Thu thập các tài liệu cần thiết về tội phạm xảy ra theo thời gian và lãnh thổ nhất định.

Trong tội phạm học, phương pháp thống kê thường được sử dụng vào việc đánh giá thực trạng, mức độ, cơ cấu, diễn biến tội phạm, phân tích làm rõ nguyên nhân và điều kiện phát sinh tội phạm, các đặc điểm xã hội nhân khẩu của nhân thân người phạm tội; xác định quy luật vận động phát triển của tội phạm để dự báo tội phạm, soạn thảo những biện pháp phòng chống tội phạm trong những năm tiếp theo. Phương pháp thống kê áp dụng trong nghiên cứu tội phạm học theo trình tự gồm ba bước chính là:

Quá trình này do các cơ quan các ngành trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của mình trong quá trình tham gia vào các giai đoạn của trình tự tố tụng mà pháp luật tố tụng hình sự qui định tiến hành thống kê theo nội dung và tiêu chí nhất định. Đơn vị thống kê được xác định là vụ và người phạm tội. Các trường hợp phạm tội và những người phạm tội sẽ được ghi chép theo những dấu hiệu nhất định trong các tài liệu thống kê đầu tiên như các phiếu đăng ký, các biểu mẫu, v.v… Ví dụ: Cơ quan công an đăng ký vào sổ từng vụ án đã phát hiện và từng người tham gia vào vụ án theo biểu mẫu sau:

Bước thứ hai: Phân loại tài liệu thống kê.

Còn ở tòa án có các biễu mẫu thống kê từng vụ án và từng bị cáo. Hiện nay ở tòa án có bốn loại biểu mẫu thống kê là: Thống kê xét xử hình sự sơ thẩm; thống kê xét xử hình sự phúc thẩm; thống kê xét xử hình sự giám, phúc thẩm và tái thẩm; thống kê thi hành án hình sự.

Các tài liệu thống kê đã thu thập được phân thành từng lọại, từng nhóm có chung những đặc điểm và tính chất giống nhau. Trong thống kê, có hai cách phân loại các dấu hiệu theo tiêu chí về số lượng hoặc chất lượng. Cách phân loại các dấu hiệu dựa vào số lượng thường được áp dụng trong khi nghiên cứu những đặc điểm, dấu hiệu nhân thân người phạm tội. Ví dụ: Nghiên cứu độ tuổi của bị cáo, thời gian hình phạt tù đã áp dụng, số lần tái phạm v.v…

Cách phân loại các dấu hiệu dựa vào chất lượng thường được áp dụng phân loại tội phạm thành những nhóm theo các dấu hiệu như sau:

– Thời gian phạm tội

– Địa điểm phạm tội

– Thủ đoạn và phương pháp thực hiện tôi phạm

– Công cụ, phương tiện phạm tội;

– Đối tượng tác động của tội phạm;

– Khách thể của tội phạm;

– Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội củạ tội phạm;

– Lãnh thổ (tỉnh, thành phố, huyện, quận,…);

– Ngành kinh tế;

– Lí do phạm tội (ghen tuông, trả thù, vụ lợi…);

– Khuynh hướng của tội phạm (các tội phạm có tính chiếm đoạt, các tội có dùng vũ lực…)

Ngoài ra, cách phân loại dựa vào chất lượng còn được áp dụng phân loại người phạm tội theo dấu hiệu sau:

– Dấu hiệu xã hội – nhân khẩu – như giới tính, tuổi, trình độ văn hoá, quốc tịch, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp, hoàn cảnh gia đình, hoàn cảnh kinh tế…

– Dấu hiệu pháp luật hình sự như tội danh, tái phạm, loại và mức hình phạt đã áp dụng…

– Dấu hiệu tâm sinh lí như động cơ, mục đích, nhu cầu, sở thích thói quen…

Bước thứ ba: Phân tích, so sánh và tổng hợp: các tài liệu, số liệu thống kê thu nhận được.

Phương pháp phân loại như vậy cho phép nhận thức chính xác về cơ cấu và diễn biến của tình hình tối phạm trong thời gian nghiên cứu. Ngoài ra, còn có một số cách phân loại khác nữa được sử dụng trong khi tiến hành xác định mối liên hệ khác nhau như trình độ văn hóa, điều kiện văn hóa, điều kiện kinh tế, tệ nạn xã hội (nghiện rượu, nghiện ma túy, mại dâm, cờ bạc,…) thì phải phân loại theo cách phân chia phân tích.

Đây là bước cuối cùng và quan trọng nhất của trình tự thống kê. Trước hết cần tiến hành sửa chữa, chỉnh lý các tài liệu, số liệu đã được tập hợp hệ thống thành nhóm, loại theo những tiêu chí nhất định để tạo điều kiện thuận lợi cho việc so sánh giữa chúng với nhau. Việc chỉnh lý tài liêu được thực hiện trong quá trình lập con số tuyệt đối. Các con số tuyệt đối phải bảo đảm các yêu cầu: tính chính xác, tính đầy đủ và tính có thể so sánh được. Quá trình phân tích, so sánh các tài liệu, số liệu thông kê và tổng hợp để đưa ra kết luận về thực trạng, mức độ, cơ cấu, diễn biến của tình hình tội phạm, về thiệt hại do tội phạm đã gây ra cho xã hội, về nguyên nhân và điều kiện phạm tội. Trong tội phạm học thường sử dụng một số phương pháp thống kê cụ thể như số tuyệt đối, số tương đối, số trung bình, đồ thị, biểu đồ và một số phương pháp khác…

– Phương pháp số tuyệt đối (số lớn) thường được áp dụng khi đánh giá về mặt lượng của hiện tượng. Sẽ tuyệt đối thể hiện quy mô, khối lượng của hiện tượng tội phạm trong xã hội thể hiện số lượng tội phạm và người phạm tội đã được làm rõ trong từng thời gian và trong từng địa bàn lãnh thổ nhất định.

Ví dụ: Trong 5 năm từ năm 1997 đến năm 2001, ở Việt Nam, tổng số tội phạm và người phạm tội đã xét xử sơ thẩm là 248 871 vụ với 382 769 bị cáo.

– Phương pháp số tương đối thường được áp dụng khi nghiên cứu mức độ phổ biến của tội phạm trong dân cư cũng như về cơ cấu, diễn biến của tình hình tội phạm và các nguyên nhân của nó. Có ba loại số tương đối:

+ Số tương đối phản ánh quan hệ cường độ còn được gọi là hệ số về tội phạm. Nó thể hiện tính phổ biến của tội phạm trong từng thời gian và trong từng khu vực dân cư. Hệ số về tội phạm được tính bằng cách so sánh số lượng tội phạm hoặc số lượng người phạm tội với số lượng dân. Ví dụ, năm 1997, hệ số về tội phạm ở Việt Nam là 84,15; Singapore là 969,87; Colombia là 576,76; Italia là 4271,65… (tính theo số tội phạm trên 100.000 dân nói chung).

+ Số tương đối phản ánh quan hệ phân chia (cơ cấu của sự tổng hợp). Nó là tỷ lệ giữa từng phần riêng biệt đối với tổng số của chúng. Dạng số tương đối này được áp dụng trong nghiên, cứu làm sáng tỏ về cơ cấu, tính chất của tình hình tội phạm và các nguyên nhân của họ ví dụ: Trong tổng số tội phạm đã xét xử hình sự sơ thẩm năm 1998 thì có 14,59% các tội xâm phạm tính mạng sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người 49,12% các tội xâm phạm sở hữu (XHCN và công dân); 26,28% các tội xâm phạm an toàn trật tự công cộng; còn lại là các tội phạm khác.

+ Số tương đối phản ánh sự thay đổi của hiện tượng theo thời gian Loại số tương đối nay được áp dụng trong nghiên cứu làm sáng tỏ diễn biến (động thái) của tình hình tội phạm. Nó là kết quả so sánh mức độ của hiện tượng ở hai thời kỳ khác nhau. Ví dụ nếu tổng số tội phạm đã xét xử hình sự sơ thẩm năm 1986 là 100% làm gốc để so sánh với các năm sau: năm 1990 – 105%, măm 1991 – 118%, năm 1992 – 116%, năm 1993 – 160%, năm 1994 – 153%, năm 1995 – 161%, năm 1996 – 229%, năm 1997 – 240%, năm 1998 – 242%, 1999 – 245%, năm 2000 – 241% năm 2001 – 239%. Từ các con số tương đối trên, chúng ta có thể rút ra kết luận về diễn biến của tình hình tội phạm trong thời gian qua là có xu hướng tăng liên tục và tăng nhanh từ năm 1990 cho đến năm 1999, sau đó, tội phạm có chiều hướng giảm bắt đầu từ năm 2000 cho đến nay với mức độ giảm chậm.

– Phương pháp số trung bình (bình quân) thể hiện mức trung bình về mặt số lượng của hiện tượng. Phương pháp này được áp dụng khi xác định đặc điểm của nhân thân người phạm tội và của tình hình tội phạm. Ví dụ: Độ tuổi trung bình của những người phạm tội nói chung hoặc của: từng nhóm tội phạm cụ thể; hoặc số tội phạm trung bình xảy ra hàng năm trong thời kì đổi mới.

– Phương pháp đồ thị, biểu đồ: Thể hiện tình hình tội phạm trên bảng bằng các đường (tròn, thẳng, cột…) theo thời gian nhằm xác định mô hình tội phạm, đánh giá, theo dõi sự thay đổi, diễn biến tội phạm, khám phá quy luật vận động của nó để từ đó có thể dự báo tội phạm trong những năm tiếp theo.

b) Các phương pháp xã hội học được trong các nghiên cứu tội phạm học chọn lọc

Mặc dù phương pháp thống kê là phương pháp quan trọng nhất đối với công việc nghiên cứu tội phạm. Tuy nhiên, phương pháp thống kê nói chung và phương pháp thống kê hình sự nói riêng cũng có mặt hạn chế của nọ. Điều này thể hiện ở chỗ lượng thông tin về tội phạm trong một khoảng thời gian do thống kê hình sự cung cấp không phản ánh chính xác về tội phạm trong giai đoạn hiện tại vì các tội phạm đó đã xảy ra trong thời gian trước. Mặt khác, số lượng tội phạm được ghi trong sổ, biểu mẫu thống kê, còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố ảnh hưởng lớn nhất vẫn là chất lượng, hiệu quả của công tác phát hiện, điều tra, truy tố, xét xử tội phạm của các cơ quan tư pháp hình sự. Do việc sử dụng các số liệu thống kê không đáp ứng được yêu cầu nghiên cứu tội phạm một cách sâu rộng, toàn diện nên trong tội phạm học ngoài các phương pháp thống kê còn sử dụng các phương pháp xã hội học như phiếu điều tra (thăm dò dư luận); phỏng vấn, chuyên gia (đánh giá thẩm định), quan sát, thực nghiệm… để thu thập thêm các dấu hiệu, thông tin bổ sung cho các thông tin thu nhận được từ thống kê. Các phương pháp nghiên cứu chọn lọc này thường được sự dụng trong việc nghiên cứu tội phạm ẩn, nạn nhân của tội phạm, các nhân tố cá nhân, môi trường, động cơ, lý do phạm tội, phương pháp, thủ đoạn thực hiện phạm tội, thiệt hại do các tội pham gây ra, hiệu quả của các biện pháp phòng chống tội phạm đã thực hiện, dư luận xã hội về tình hình tội phạm và công tác đấu tranh với nó. Các phương pháp nghiên cứu xã hội học chỉ được sử dụng trong các nghiên cứu tội phạm học chọn lọc. Bản chất của việc nghiên cứu chọn lọc chỉ là nghiên cứu một bộ phận (có chọn lọc) trong tổng thể nhưng kết quả thu được lại phản ứng đặc điểm, tính chất, quy luật của tất cả các hiện tượng trong tổng thể đó.

Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu các hiện tượng đã được chọn lọc có thể không phản ánh đúng toàn bộ tổng thể các hiện tượng nếu việc chọn lọc không cẩn thận, chính xác. Muốn biết sai số của việc nghiên cứu chọn lọc, cần phải dựa vào công thức do khoa học thống kê đưa ra. Mức độ sai số của phân tích chọn lọc phụ thuộc vào số lượng và thành phần các hiện tượng đã được chọn lọc trong tổng thể các hiện tượng. Để hạn chế mức độ sai số của việc nghiên cứu chọn lọc cần phải tăng số lượng các hiện tượng chọn lọc.

c) Phương pháp phiếu điều tra (thăm dò dư luận)

Phương pháp phiếu điều tra trong tội phạm học là tổng hợp các kĩ thuật, chiến thuật hỏi câu hỏi đạt kết quả các nhờ sự phân tích các tài liệu, số liệu thu nhận được từ những người được hỏi đã trả lời những câu hỏi viết trong bảng câu hỏi (phiếu điều tra).

Tổ chức các câu trả lời phải sử dựng hai hình thức hỏi:

Thứ nhất, câu hỏi đúng: Loại câu hỏi này có nhiều câu trả lời loại trừ lẫn nhau để người trả lời phải lựa chọn cậu trả lời. Ví dụ: Câu hỏi: Xin vui lòng cho biết thái độ của gia đình khi biết anh/chị nghiện ma tuý?

Thứ hai, câu hỏi mở không đặt cấu trúc như vậy cho câu trả lời và để cho người trả lời tự do theo nhận thức của họ. Chẳng hạn:

Câu hỏi: Tại sao anh/chị lại nghiên ma tuý? hoặc

Tại sao anh/chị bị lừa đảo mất tài sản mà lại không khai báo cho cơ quan công an?

Phương pháp phiếu điều tra thường được áp dụng khi nghiên cứu về nạn nhân của tội phạm, nguyên nhân phạm tội của một số loại tội phạm cụ thể, đặc điểm cá nhân người phạm tội… Để thu được lượng thông tin khách quan đòi hỏi phải tuân thủ nguyên tắc giấu tên khi hỏi. Mặt khác, nó còn như thuộc vào người được hỏi và khả năng tổ chức cuộc điều tra của cán bộ nghiên cứu.

d) Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn về cơ bản giống với phương pháp phiếu điều tra. Điểm khác nhau giữa hai phương pháp này ở chỗ người trả lời trong cuộc phỏng vấn là trả lời cho nhồng câu hỏi miệng. Trong các cuộc phỏng vấn, mức độ tổ chức của các câu hỏi có thể biến đổi

Phỏng vấn tự do (phỏng vấn hoàn toàn không có tổ chức). Người phỏng vấn đơn giản chỉ trao đổi với người trả lời. Trong thời gian trao đổi chuyện trò với người trả lời có thể hỏi xoay vào những điểm mà người phỏng vấn quan tâm. Dạng phỏng vấn này có thể tìm hiểu cặn kẽ về thế giới của người trả lời và khám phá ra những đặc điểm thuộc về nhân thân cá nhân người được hỏi.

Phỏng vấn có trọng tâm là dạng phỏng vấn mà ở đó các câu hỏi đã được chuẩn bị tập trung vào những vấn đề đặc biệt theo những trật tự nhất định với những lời lẽ dung để hỏi cho phù hợp. Dạng phỏng vấn này được sử dụng để thu nhận ý kiến của xã hội với mục đích là thu nhận kết quả đối chứng càng nhiều càng tốt.

Phỏng vấn có tổ chức là loại phỏng vấn mà thứ tự và lời lẽ câu hỏi được chuẩn bị trước và mỗi người được hỏi một câu theo một cách thức với những câu hỏi nối tiếp theo cùng thứ tự vào mọi lúc. Dạng phỏng vấn này được sử dụng để nghiên cứu sự thay đổi diễn ra trong cuộc sống xã hội hoặc trong ý thức, tư tưởng của quần chúng sau thời gian nhất định.

Kết quả thu nhận được trong quá trình phỏng vấn được ghi chép trong sổ tay cuối cuộc phỏng vấn có thể ghi nội dung cuộc phỏng vấn bằng các mã số. Mục đích của mã hoá là sự chuyển đổi các câu trả lời cho các câu hỏi sang các biểu tượng có thể so sánh với nhau. Cái lợi của việc viết mã số là ở chỗ các câu trả lời có thể chuyển sang một cái thẻ có bấm lỗ (thẻ máy tính) và hầu như bất cứ loại so sánh nào giữa tập hợp những câu trả lời khác nhau đều có thể tiến hành một cách dễ dàng với sự trợ giúp của máy tính.

e) Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là phương pháp nghiên cứu các quan hệ xã hội trong thực tiễn cuộc sống. Trong tội phạm học đối tượng quan sát cơ bản là điều kiện sống của người đã phạm tội, quá trình giáo dục cải tạo của người, phạm tội, kết quả của các biện pháp phòng ngừa… Có ba loại quan sát:

Thứ nhất, quan sát bên ngoài (toàn phần). Người quan sát đối tượng từ bên ngoài và không can thiệp vào các quan hệ của đối tượng. Ví dụ như nghiên cứu quá trình hình thành nhân cách người phạm tội. Người quan sát không tham gia vào quan hệ gia đình, quan hệ ở nơi sản xuất quan hệ sinh hoạt khác của người đó.

Thứ hai, quan sát bên trong. Người quan sát tham gia tổ chức cần quan sát và tiến hành quan sát từ bên trong. Trong tội phạm học, phương pháp này được sử dụng khi nghiên cứu nguyên nhân và điều kiện phạm tội ở trong các tổ chức nhất định. Ví dụ: Trường học, cơ sở kinh tế, các cơ quan cải tạo (nhà tù, trường giáo dưỡng, trung tâm cái nghiện…).

Thứ ba, quan sát tham gia. Đây là loại quan sát tích cực nhất. Người quan sát không những tham gia vào tổ chức cần quan sát mà còn tích cực tham gia trực tiếp vào các hoạt động của tổ chức ấy như thành viên trong tổ chức. Loại quan sát này thường được sử dụng trọng quá trình giáo dục cải tạo người phạm tội, đánh giá kết quả các biện pháp phòng ngừa.

Ngoài ra, trong tội phạm học còn sử dụng một loại quan sát nữa đó là loại “tự quan sát”. Cán bộ nghiên cứu thu thập những tài liệu do người phạm tội tự quan sát ghi lại như nhật kí, thư từ, điện tín có thể giúp cho cán bộ nghiên cứu tội phạm hiểu rõ về nhân thân người phạm tội và nguyên nhân phạm tội của cá nhân đó.

f) Phương pháp thực nghiệm

Tội phạm học sử đụng phương pháp thực nghiệm khi nghiên cứu các biện pháp phòng ngừa nhằm đánh giá hiệu quả của nó. Chẳng hạn, áp dụng biện pháp phòng ngừa tội trộm cắp ở các cơ quan. Nếu các biện pháp có hiệu quả cao, chúng sẽ được áp dụng một cách rộng rãi phổ biến ở tất cả các cơ quan khác.

Trong việc nghiên cứu tội phạm học, tất cả các phương pháp nêu trên đều được phối hợp sử dụng với nhau nhằm thu thập được tài liệu một cách đầy đủ, toàn diện, chính xác, hạn chế được những sai lầm bảo đảm cho chúng ta thu được kết quả nghiên cứu đúng đắn, khách quan hiệu quả nhất.

2. Ý nghĩa của việc nghiên cứu tình hình tội phạm

Việc nghiên cứu tình hình tội phạm có ý nghĩa vô cùng to lớn. Kết quả của việc nghiên cứu tình hình tội phạm cho chúng ta cái nhìn tổng quan về tội phạm đã xảy ra. Cái nhìn tổng quan này không chỉ thể hiện đặc điểm định lượng (tổng số tội phạm cũng như tổng số người phạm tội – con số phản ánh mức độ nghiêm trọng của tội phạm đã xảy ra) mà còn thể hiện cả đặc điểm định tính (các cơ cấu bên trong của tội phạm và của người phạm tội mà những cơ cấu này phản ánh tính chất nghiêm trọng của tội phạm đã xảy ra). Bên cạnh đó, nó còn thể hiện tình trạng tĩnh của các tội phạm đã xảy ra và cả diễn biến (tăng, giảm hoặc tương đối ổn định về số lượng cũng như về tính chất) của tình trạng này.

Nghiên cứu tình hình tội phạm không chỉ dừng lại ở mô tả “bức tranh tội phạm” mà đòi hỏi còn phải phân tích “bức tranh”, so sánh các “bức tranh” với nhau để qua đó có được sự đánh giá đầy đủ và toàn diện tính nghiêm trọng của tội phạm đã xảy ra – nghiêm trọng về mức độ cũng như nghiêm trọng về tính chất.

Mô tả và phân tích “bức tranh tội phạm” trong nghiên cứu tình hình tội phạm không phải chỉ để biết những gì đã xảy ra mà quan trọng hơn là để giải thích, phát hiện nguyên nhân, để dự liệu tội phạm sẽ xảy ra như thế nào trong thời gian tới và qua đó tạo cơ sở cho việc đưa ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm.