Đề Xuất 5/2022 # Tư Tưởng Biện Chứng Của Hegel Và Sự Kế Thừa Của Triết Học Marx # Top Like

Xem 8,712

Cập nhật nội dung chi tiết về Tư Tưởng Biện Chứng Của Hegel Và Sự Kế Thừa Của Triết Học Marx mới nhất ngày 16/05/2022 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Cho đến nay, bài viết này đã thu hút được 8,712 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Sự Ra Đời Và Phát Triển Của Triết Học Mác
  • Tìm Hiểu Thực Chất Và Ý Nghĩa Của Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Tư Tưởng Triết Học Hồ Chí Minh
  • Tìm Hiểu Phép Biện Chứng Trong Tư Tưởng Hồ Chí Minh
  • Phương Pháp Biện Chứng Và Các Phương Pháp Nhận Thức Đặc Thù Khoa Học Chung
  • Nghiên cứu lịch sử triết học trước Marx, chúng ta biết rằng triết học cổ điển Đức (từ cuối thế kỷ XVIII đến giữa thế kỷ XIX) là một trong những nền triết học phát triển cao, ảnh hưởng lớn tới triết học hiện đại, đặc biệt là triết học Marx. Và nói đến triết học cổ điển Đức, không thể không nói đến Hegel, nhà triết học lỗi lạc được xem đại diện tiêu biểu, xuất sắc nhất của triết học cổ điển Đức.

    Engels đã nhận xét Hegel như sau: “Ông không chỉ là một thiên tài sáng tạo mà còn là một nhà bác học có tri thức bách khoa, nên trong mọi lĩnh vực ông xuất hiện như một người vạch thời đại” thì cho rằng: “Dù yêu hay ghét Hegel, thật khó mà không biết đến ông, bởi tầm quan trọng lịch sử khổng lồ của đại triết gia này. Hầu hết mọi hình thức của triết học hiện đại đều chịu ảnh hưởng của ông hoặc là phản ứng chống lại ông. Điều đó không chỉ đúng cho chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa hiện sinh, mà cả cho Lý luận-phê phán, thông diễn học và triết học phân tích. Hegel vẫn đang là đường phân thủy của triết học hiện đại… Triết gia hiện đại muốn biết gốc rễ của mình, sớm hay muộn cũng phải trở lại với Hegel”. Điều đó cho thấy tầm quan trọng, sự ảnh hưởng và sức hút lớn của triết học Hegel.

    Triết học Hegel là một hệ thống đồ sộ, bao gồm nhiều lĩnh vực nhưng thành tựu to lớn nhất của triết học Hegel chính là phép biện chứng. Phép biện chứng của Hegel được trình bày chủ yếu trong ba tập Bách khoa thư các khoa học triết học, trong đó Bách khoa thư các khoa học triết học I – Khoa học Logic trình bày học thuyết về tồn tại, Bách khoa thư các khoa học triết học II – Khoa học Logic trình bày học thuyết về bản chất và Bách khoa thư các khoa học triết học III – Khoa học Logic trình bày học thuyết về khái niệm. Tư tưởng biện chứng của Hegel đã có ảnh hưởng sâu sắc đến triết học Marx, trở thành một trong những tiền đề lý luận chủ yếu để hình thành nên triết học Marx.

    Bắt nguồn từ sức hút của một triết gia lớn như Hegel và sự ảnh hưởng sâu sắc của phép biện chứng trong triết học Hegel đối với triết học Marx, tác giả cho rằng cần thiết phải nghiên cứu: “Tư tưởng biện chứng trong học thuyết về tồn tại của Hegel và sự kế thừa của triết học Marx”.

    CHƯƠNG 1Bất kỳ quan điểm, học thuyết của nhà tư tưởng, triết gia nào cũng đều chịu ảnh hưởng nhất định của bối cảnh lịch sử trong thời đại của họ. Do đó, để hiểu rõ hơn tư tưởng của họ, cần tìm hiểu, nghiên cứu bối cảnh lịch sử hình thành nên tư tưởng đó. Đối với Hegel, triết học của ông được hình thành và chịu ảnh hưởng của bối cảnh lịch sử nước Đức trong giai đoạn cuối thế kỷ XVIII – giữa thế kỷ XIX. Bên cạnh đó, bối cảnh gia đình và tiểu sử cá nhân cũng là một trong những nét đặc thù gắn với mỗi nhà tư tưởng, triết gia. Do đó, chương này cũng đề cập sơ lược về gia đình và tiểu sử của Hegel. 1.1. Bối cảnh lịch sử nước Đức cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX

    BỐI CẢNH LỊCH SỬ HÌNH THÀNH TRIẾT HỌC HEGEL

    Đây là đặc điểm thời đại hình thành và chi phối nền triết học cổ điển Đức nói chung và triết học Hegel nói riêng.

    Nước Đức thời kỳ này vẫn là một quốc gia phong kiến cát cứ điển hình với chế độ chuyên chế nhà nước Phổ. Đây là thời kỳ nhà nước Phổ có sự suy yếu, lạc hậu về kinh tế và chính trị.

    Nước Đức nửa đầu thế kỷ XIX chứng kiến cuộc đấu tranh dai dẳng giữa những người theo chủ nghĩa tự do muốn một có liên bang Đức thống nhất dưới một Hiến pháp dân chủ, và những người theo chủ nghĩa bảo thủ, muốn duy trì nước Đức như là một tập hợp chắp vá bởi các tiểu quốc quân chủ độc lập, với Phổ và Áo tranh giành ảnh hưởng. Triều đình vua Phổ Friedrich Wilhelm vẫn tăng cường quyền lực duy trì chế độ quân chủ, cản trở đất nước phát triển theo con đường tư bản chủ nghĩa.

    1.2. Bối cảnh gia đình và tiểu sử của Hegel.

    Georg Wilhelm Friedrich Hegel sinh ngày 27/8/1770 tại Stuttgart, thuộc lãnh địa Württemberg, miền tây nam nước Đức.

    Ông sinh ra trong một gia đình công chức và theo đạo Tin lành. Cha ông, Georg Ludwig, là công chức của quận công Württemberg – Carl Eugen. Mẹ ông, Maria Magdalena Louisa, là con gái của một luật sư Tòa tối cao ở Württemberg. Hegel có một em gái tên Christiane Luise (1773-1832) và một em trai tên Georg Ludwig (1776-1812).

    Mẹ của Hegel mất vào năm ông được 13 tuổi. Nhưng ngay từ nhỏ, ông đã sớm được mẹ mình dạy học tiếng Latin. Vào năm 03 tuổi, ông đi học tại trường Đức (“German School”) và 05 tuổi, học trường Latin (“Latin school”).

    Năm 1776, ông theo học trung học tại trường Stuttgart.

    Năm 1788, được cha khuyến khích trở thành giáo sĩ, Hegel theo học tại trường dòng Tin Lành thuộc Đại học Tübinger. Tại đây, ông kết bạn với nhà thơ Friedrich Hölderlin và Friedrich Wilhelm Joseph Schelling – một trong những triết gia nổi tiếng cùng thời với ông sau này. Cả ba đã có nhiều chia sẻ lẫn nhau và chịu ảnh hưởng tư tưởng của nhau.

    Từ 1793, sau khi tốt nghiệp trường Tübinger, Hegel quyết định không trở thành mục sư mà đi dạy tư tại Bern (Thụy Điển).

    Năm 1797, theo đề nghi của Hölderlin, ông dạy tư cho một gia đình thương gia rượu vang tại Frankurt. Tại đây, Hölderlin đã có những ảnh hưởng về tư tưởng đối với Hegel. Trong giai đoạn này, ông nhiều cứu và bài viết về tôn giáo.

    Năm 1799, cha ông qua đời. Được thừa kế di sản từ người cha, ông từ bỏ việc dạy tư.

    Năm 1801, với sự khuyến khích của người bạn cũ Schelling, bấy giờ đã là Giáo sư tại trường Đại học Jena, Hegel đến Jena và làm việc với tư cách một giảng viên, sau đó trở thành Giáo sư. Tại đây, ông đã hoàn thành quyển sách đầu tiên: “Sự khác biệt giữa hệ thống triết học của Scheeling và Fichte”. Hegel cũng tham gia giảng dạy chung với Schelling về triết học. Năm 1802, Hegel còn cùng với Scheeling sáng lập một tạp chí Triết học tên Kritische Journal der Philosophie (“Critical Journal of Philosophy”, tạm dịch: Tạp chí Triết học chính yếu). Tạp chí này tồn tại đến năm 1803 khi Schelling đến Würzburg.

    Năm 1806, Pháp chiếm đóng thành phố Jena. Tháng 03/1807, Hegel đến Bamberg và làm Biên tập cho tờ báo Bamberger Zeitung.

    Năm 1807, Hegel đã hoàn thành một trong những tác phẩm quan trọng nhất của ông – Hiện tượng học về tinh thần (“Phenomenology of Spirit”).

    Tháng 11/1808, Hegel làm Hiệu trưởng một trường dòng ở Nuremberg trong tám năm (đến 1816). Tại đây, ông đã đưa tác phẩm Hiện tượng học về tinh thần vào giảng dạy. Trong thời gian này, ông xuất bản tác phẩm chính yếu thứ hai của ông: Khoa học về Logic (Wissenschaft der Logik), bao gồm 3 tập, xuất bản vào các năm 1812, 1813, 1816.

    Năm 1811, ông kết hôn với Marie Helena Susanna von Tucher (1791-1855) năm 1811 và có hai người con trai, Karl Friedrich Wilhelm (1813-1901) và Immanuel Thomas Christian (1814-1891). (Ngoài ra, ông còn có một con trai riêng với Christiana Burkhardt trong thời gian ông sống ở Jena, tên là Georg Ludwig Friedrich Fischer (1807-1831). Khi 10 tuổi, năm 1817, cũng về sống chung với gia đình Hegel ở Heidelberg)

    Năm 1816, Hegel đến Đại học Heidelberg. Ngay sau đó, năm 1817, ông cho xuất bản Đại cương Bách khoa thư về khoa học triết học (The Encyclopedia of the Philosophical Sciences in Outline) dưới hình thức tóm lược triết học của ông để giảng dạy tại Heidelberg.

    Năm 1818, Hegel đến dạy tại Đại học Berlin và đến đây làm Chủ tịch Triết học (bỏ trống từ sau khi Fichte qua đời năm 1814). Năm 1821, ông cho xuất bản tác phẩm Triết học pháp quyền (1821). Ông gắn bó ở đây đến cuối đời và tập trung giảng dạy về mỹ học, lịch sử triết học, triết học tôn giáo, triết học lịch sử.

    Hegel bệnh mất vào ngày 14/11/1831. Ông được chôn cất ở nghĩa trang Dorotheenstadt, bên cạnh Fichte và Solger.

    Tổng kết chương 1:CHƯƠNG 22.1. Khái quát về biện chứng từ triết học cổ đại đến triết học cổ điển Đức

    TƯ TƯỞNG BIỆN CHỨNG TRONG HỌC THUYẾT VỀ TỒN TẠI CỦA HEGEL VÀ SỰ KẾ THỪA CỦA TRIẾT HỌC MARX Qua chương này, chúng ta đã hiểu được bối cảnh xuất thân của Hegel và bối cảnh lịch sử nước Đức lúc bấy giờ. Với xuất thân từ một gia đình ngoan đạo, từng theo học trường dòng, tám năm làm hiệu trường trường dòng, Hegel ít nhiều chịu ảnh hưởng duy tâm từ sự thần bí của các quan niệm tôn giáo. Đồng thời, bối cảnh lịch sử – xã hội của đất nước cũng ảnh hưởng chung đến nền triết học cổ điển Đức, trong đó có Hegel, làm cho triết học thời kỳ này có nọi dung cách mạng dưới hình thức duy tâm, bảo thủ.

    Sau khi Hegel qua đời, các ghi chú giảng bài của ông và các ghi chú bổ sung của sinh viên được xuất bản: Mỹ học (1835 – 1838), Những bài giảng về lịch sử triết học (1833 – 1836), Những bài giảng về triết học tôn giáo (1832), Những bài giảng về triết học lịch sử (1837).

    Ngoài ảnh hưởng mạnh mẽ tư tưởng Hy Lạp (Parmenides), Hegel còn đọc các tác phẩm của triết gia Hà Lan Baruch Spinoza, văn hào Pháp Jean Jacques Reussau và các triết gia Đức Immanuel Kant, Johan Gottlieb Fichte, Schelling. Dù ông thường xuyên bất đồng với những triết gia này nhưng ảnh hưởng của họ trong các tác phẩm của ông là rất rõ ràng.

    “Biện chứng” có gốc từ tiếng Hy Lạp là “dialektica” (với nghĩa là nghệ thuật đàm thoại, tranh luận). Theo nghĩa này, biện chứng là nghệ thuật tranh luận nhằm tìm ra chân lý bằng cách phát hiện các mâu thuẫn trong lập luận của đối phương và nghệ thuật bảo vệ những lập luận của mình. Trong triết học Marx, “biện chứng” được dùng đối lập với “siêu hình”, đó là lý luận đồng thời là phương pháp xem xét sự vật trong trạng thái liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau, ràng buộc lẫn nhau và trong quá trình vận động, phát triển không ngừng.

    Phép biện chứng xuất hiện từ thời cổ đại và từ đó đến nay, lịch sử phát triển của nó đã trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, gắn với sự phát triển của khoa học và thực tiễn.

    Thời cổ đại, phép biện chứng mang nặng tính mộc mạc, chất phác. Cả triết học Phương Đông và Phương Tây cổ đại đều chứa đựng tư tưởng về biện chứng. Trong triết học Phương Đông cổ đại, quan niệm về nhân duyên, vô ngã, vô thường của Đạo Phật chứa đựng những tư tưởng biện chứng khá sâu sắc. Trong thuyết Âm – Dương, Âm và Dương tồn tại trong mối liên hệ quy định lẫn nhau tạo ra sự thống nhất giữa cái bất biến và cái biến đổi; giữa cái duy nhất và cái số nhiều, đa dạng, phong phú. Trong thuyết ngũ hành, năm yếu tố Kim – Mộc – Thủy – Hỏa – Thổ tồn tại trong mối liên hệ tương sinh, tương khắc với nhau. Các yếu tố đó tác động, chuyển hóa lẫn nhau, rằng buộc, quy định lẫn nhau, tạo ra sự biến đổi trong vạn vật. Lão Tử (khoảng thế kỷ VI. TCN) cho rằng vạn vật bị chi phối bởi hai quy luật phổ biến là quân bình và phản phục. Luật quân bình luôn giữ cho sự vận động của vạn vật được cân bằng theo một trật tự điều hòa trong tự nhiên, không có gì thái hóa, không có gì bất cập. Luật phản phục là khi sự vật phát triển đến cực điểm thì chuyển quay trở lại theo phương hướng cũ. Trong Đạo đức kinh, còn có những tư tưởng biện chứng trực quan như bất kỳ sự vật, hiện tượng nào cũng đều là thể thống nhất của hai mặt đối lập vừa xung khắc với nhau, vừa nương tựa vào nhau, vừa bao hàm lẫn nhau,v.v..

    2.2. Tư tưởng biện chứng của Hegel trong học thuyết về tồn tại

    Triết học Tây Âu thời kỳ Trung cổ (thế kỷ V – XV), với sự hình thành và phát triển của phương thức sản xuất phong kiến, triết học và khoa học thời kỳ này là một bước lùi so với thiờ kỳ cổ đại. Thời kỳ này, triết học gắn liền với tôn giáo (Cơ đốc giáo) và chủ nghĩa kinh viện, tư tưởng về biện chứng không được phát triển.

    Triết học Tây Âu thời Phục hưng (thế kỷ XV – XVI) và Cận đại (thế kỷ XVII – XVIII), gắn liền với sự hình thành và phát triển của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, triết học có điều kiện phát triển. Tuy nhiên, triết học thời kỳ này (cận đại) gắn với phương thức tư duy siêu hình của khoa học tự nhiên, tư tưởng biện chứng không được phát triển.

    Bước sang cuối thế kỷ XVIII – nửa đầu thế kỷ XIX, với bối cảnh lịch sử đặc thù của nước Đức, với sự phát triển của triết học cổ điển Đức, tư tưởng biện chứng từ thời cổ đại mới được “sống lại” và phát triển trong một hình thái mới. Phép biện chứng được xem là thành tựu lớn nhất của triết học cổ điển Đức.

    Kant được xem là người sáng lập phép biện chứng cổ điển Đức. Trong triết học Kant, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập, theo đó, sự thống nhất và thâm nhập lẫn nhau giữa các mặt đối lập là động lực của sự vận động và phát triển. Động lực đó có trước vật chất và tách rời vật chất. Trong triết học Fichte, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về mâu thuẫn và nguồn gốc của sự phát triển. Mâu thuẫn và phát triển chỉ tồn tại trong ý thức, thể hiện trong sự vận động tiến bộ của tư duy trong quá trình nhận thức. Trong triết học Schelling, tư tưởng biện chứng cơ bản là tư tưởng về mối liên hệ phổ biến, sự thống nhất và sự phát triển, tư tưởng về sự thống nhất biện chứng của tự nhiên, sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập trong tự nhiên.

    Theo Hegel, biện chứng là sự tự thủ tiêu của chính những quy định hữu hạn và là sự chuyển hóa của chúng sang những cái đối lập của chúng. Hegel cho rằng: “Trong tính quy định riêng có của nó, phép biện chứng thực ra là bản tính riêng, đúng thật của những quy định của giác tính thoạt đầu là sự vượt ra khỏi tính quy định bị cô lập và là một sự đặt quan hệ của tính quy định này, qua đó nó được thiết định vào trong mối quan hệ nội tại, trong đó tính phiến diện và tính bị hạn chế của những quy định của giác tính tự phô bày đúng như nó trong sự thật, nghĩa là, như là sự phủ định của chúng nội tại và sự tất yếu mới đi vào trong nội dung của Khoa học, cũng như chỉ trong đó mới tìm thấy được việc nâng lên khỏi cái hữu hạn một cách đúng thật, chứ không phải hiện thực. Cũng thế, cái biện chứng cũng là linh hồn của mọi nhận thức khoa học đích thực”. . Trong phạm vi nghiên cứu của tiểu luận, tác giả tìm hiểu, trình bày về những tư tưởng biện chứng trong học thuyết về tồn tại của Hegel.

    Học thuyết tồn tại của Hegel được trình bày trong tác phẩm Bách khoa thư các khoa học triết học I – Khoa học Logic, được Hegel cho xuất bản lần đầu tiên vào năm 1817, lần thứu hai vào năm 1827 và lần thứ ba vào năm 1830. Học thuyết về tồn tại của Hegel bàn về tư tưởng trong sự trực tiếp của nó. Tồn tại là cái vỏ bên ngoài, trực tiếp, nông nhất mà con người có thể cảm giác và được cụ thể hóa trong các phạm trù chất, lượng và hạn độ.

    Theo Hegel, tồn tại là “cái bắt đầu”, là “cái trực tiếp đơn giản, vô quy định”, là “tư tưởng thuần túy”. Hegel cho rằng: ” khi bắt đầu tư duy, ta không có gì ngoài tư tưởng trong tính thuần túy không được quy định của nó, bởi để quy định, cần có một cái này và một cái khác, nhưng trong sự bắt đầu, ta chưa có cái khác nào cả. Cái không được quy định mà ta có ở đây là cái trực tiếp, không phải là một tính không được quy định được trung giới, cũng không phải là việc vượt bỏ mọi tính quy định mà là sự trực tiếp của tính không được quy định, là tính không được quy định trước mọi tính quy định, là cái không có quy định vì như là cái đầu tiên nhất. Những đó là cái ta gọi là “tồn tại”.

    Hegel cũng cho rằng tồn tại thuần túy là sự trừu tượng thuần túy, và do đó, là cái phủ định tuyệt đối, là “hư vô”. Tồn tại chỉ là cái hoàn toàn không có quy định và hư vô cũng là cùng một tính không có quy định như thế. Hư vô và tồn tại thống nhất với nhau, sự thống nhất đó là “sự trở thành”. Khi đó, tồn tại và hư vô thống nhất với nhau, tồn tại và hư vô cũng như là tan biến đi do sự mâu thuẫn của nó, sự trở thành sụp đổ ở bên trong chính mình vào một sự thống nhất mới, trong đó cả hai đều bị vượt bỏ; kết quả là xuất hiện “tồn tại hiện có” (“tồn tại được quy định”, chứ không phải là “tồn tại thuần túy” ban đầu nữa). Tồn tại hiện có là sự thống nhất hay nhất thể của tồn tại và hư vô, trong đó tính trực tiếp của các quy định này và cùng với nó, sự mâu thuẫn của chúng, đã tiêu biến trong mối quan hệ của chúng.

    Về chất, chất là tính quy định đồng nhất, trực tiếp với tồn tại: “Tồn tại hiện có là tồn tại với một tính quy định; tính quy định này như là tính quy định trực tiếp hay tính quy định tồn tại đơn thuần: đấy là Chất. Như là cái gì phản tư vào trong chính mình ở trong tính quy định này của nó, tồn tại hiện có là cái gì có đó hay là cái gì đó”, “nền triết học mới của Đức đã đạt tới đỉnh cao của nó trong hệ thống của Hê-ghen, trong đó lần đầu tiên và đây là công lao to lớn của ông – toàn bộ thế giới tự nhiên, lịch sử và tinh thần được trình bày, như là một Quá trình, nghĩa là luôn luôn vận động, biến đổi, biến hóa và phát triển, và ông đã cố vạch ra mối liên hệ nội tại của sự vận động và phát triển ấy” Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), 2006, Nxb. Lý luận chính trị, tr. 315.

    G.W.F.Hegel, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, Bách khoa thư các khoa học triết học I- Khoa học Lôgíc, Nxb. Tri thức, 2008, tr. 2

    Phản tư có thể hiểu đơn giản là “tự phủ định”. Hàn lâm hơn, có thể hiểu “phản tư là sự trở về bản thân nó của tư duy, sự phản ánh, sự khảo sát hành vi nhận thức. Phản tư mang nội dung khác nhau trong các hệ thống triết học khác nhau. Theo J. Locke, nhận thức gồm hai mặt: 1) Những cảm giác do sự vật bên ngoài tác động vào giác quan của chúng ta. 2) Sự quan sát cách hoạt động của tâm linh chúng ta. Tri giác “hoạt động nội bộ của tâm linh chúng ta” được Locke gọi là phản tư, tức là một thứ nhận thức độc lập, tồn tại bên cạnh và không phụ thuộc vào kinh nghiệm cảm tính, đó là sự nhượng bộ trước chủ nghĩa duy tâm. Với G. W. Leibniz, phản tư là sự quan tâm đến cái đang diễn ra bên trong chúng ta. Với D. Hume, các ý niệm là sự phản tư đối với các ấn tượng thu được ở bên ngoài. Với F. Hegel, phản tư là sự nhận thức gián tiếp, sự phản ánh lẫn nhau cái này trong cái kia, chẳng hạn như trong học thuyết về bản chất, mối quan hệ tương hỗ của cả cặp phạm trù sóng đôi (bản chất và hiện tượng) đã được ghi lại, chốt lại; mỗi phạm trù trong cặp đều được phản tư, phản ánh, lộ rõ trong phạm trù kia. (Theo http://daitudien.net/triet-hoc/triet-hoc-ve-phan-tu.html)

    Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), 2006, Nxb. Lý luận chính trị, tr. 316 – 317.

    G.W.F.Hegel, Bùi Văn Nam Sơn dịch và chú giải, Bách khoa thư các khoa học triết học I- Khoa học Lôgíc, Nxb. Tri thức, 2008, tr. 203.

    Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), 2006, Nxb. Lý luận chính trị, tr. 219.

    Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giáo trình Triết học (dùng cho học viên cao học và nghiên cứu sinh không thuộc chuyên ngành triết học), 2006, Nxb. Lý luận chính trị, tr. 129 – 130.

    C.Mác và Ph. Ăgghen: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995, tr. 397, dẫn theo Hà Thiên Sơn, Lịch sử triết học, Nxb. Trẻ, 2004, tr. 265.

    [2] Giáo sư triết học tại Đại học Syracuse, một trong những nhà nghiên cứu hàng đầu về chủ nghĩa duy tâm của Đức, chủ biên The Cambridge Companion to Hegel (Theo http://en.wikipedia.org/wiki/Frederick_C._Beiser).

    --- Bài cũ hơn ---

  • Tính Nguyên Tắc Xác Định Tỉ Giá Ngân Hàng Theo Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền
  • Công Thức Tính Bình Quân Gia Quyền Trong Kế Toán
  • Về Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền
  • Tính Giá Xuất Kho Phương Pháp Bình Quân Gia Quyền
  • Tham Luan_Sử Dụng Phương Pháp Bàn Tay Nặn Bột Vào Giảng Dạy Bài 36, Địa Lí 10
  • Bạn đang đọc nội dung bài viết Tư Tưởng Biện Chứng Của Hegel Và Sự Kế Thừa Của Triết Học Marx trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!