Đề Xuất 12/2022 # Ứ Mật Ở Trẻ Sơ Sinh / 2023 # Top 20 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Ứ Mật Ở Trẻ Sơ Sinh / 2023 # Top 20 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Ứ Mật Ở Trẻ Sơ Sinh / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Ứ mật là sự thất bại trong việc bài tiết bilirubin dẫn đến tăng bilirubin máu và vàng da. Có rất nhiều nguyên nhân gây ứ mật, được xác định bằng xét nghiệm, chụp đường mật và đôi khi phải sinh thiết gan và phẫu thuật. Điều trị phụ thuộc vào nguyên nhân.

Rối loạn ngoài gan phổ biến nhất là:

Teo đường mật (tỷ lệ ở Mỹ là 1/12.000 trẻ sinh ra sống).

Các nguyên nhân trong gan có thể là nhiễm trùng, phản ứng miễn dịch, chuyển hóa/ di truyền hoặc ngộ độc.

Nguyên nhân ngộ độc chủ yếu là do dinh dưỡng qua đường tĩnh mạch kéo dài ở trẻ sơ sinh cực kỳ non tháng hoặc trẻ sơ sinh có hội chứng ruột ngắn.

Hội chứng viêm gan sơ sinh nguyên phát (viêm gan tế bào đa nhân khổng lồ) là một tình trạng viêm gan sơ sinh. Tỉ lệ mắc bệnh này đã giảm và nó trở nên hiếm gặp vì các phương pháp chẩn đoán ngày càng tiến bộ cho phép chẩn đoán chính xác nguyên nhân gây ứ mật.

Trong ứ mật, chủ yếu là do không bài xuất được bilirubin dẫn đến tình trạng tăng Bilirubin liên hợp trong máu và giảm muối mật trong đường tiêu hóa. Do thiếu muối mật bài tiết vào đường tiêu hóa nên trẻ bị kém hấp thu chất béo và các vitamin hòa tan trong chất béo (A, D, E, và K), dẫn đến thiếu hụt vitamin, chất dinh dưỡng và chậm phát triển.

Triệu chứng và dấu hiệu

Ứ mật thường xảy ra trong 2 tuần đầu sau sinh. Trẻ sơ sinh bị vàng da và thường có nước tiểu sẫm màu (do chứa bilirubin liên hợp), phân nhạt màu và gan to. Nếu ứ mật kéo dài, trẻ thường bị ngứa cũng như có các triệu chứng thiếu hụt vitamin tan trong dầu, và chậm phát triển trên biểu đồ tăng trưởng.

Bệnh tiến triển có thể dẫn đến xơ gan, tăng áp lực tĩnh mạch cửa, cổ chướng, giãn các tĩnh mạch ở bụng và xuất huyết tiêu hóa trên do giãn tĩnh mạch thực quản.

Bất cứ trẻ nào có vàng da sau sinh 2 tuần đều cần phải nghĩ đến ứ mật và cần làm xét nghiệm Bilirubin toàn phần và trực tiếp. Một số chuyên gia cho rằng những trẻ sơ sinh bị vàng da mà bú sữa mẹ thì không cần kiểm tra cho đến khi trẻ được 3 tuần tuổi. Cách tiếp cận ban đầu cần thiết cho việc chẩn đoán và điều trị có thể điều trị được cho trẻ (ví dụ, trong teo đường mật ngoài gan nên phẫu thuật luôn cho trẻ để rút ngắn thời gian hồi phục).

Chẩn đoán ứ mật sơ sinh

đo nồng độ acid mật trong nước tiểu và huyết thanh.

Xét nghiệm rối loạn di truyền

GGT = gamma-glutamyl transpeptidase; TORCH = toxoplasmosis, các mầm bệnh khác, rubella, CMV và HSV; TSH = hormone kích thích tuyến giáp.

Siêu âm ổ bụng thường là xét nghiệm đầu tiên; đây là không xâm lấn và có thể đánh giá kích thước gan và một số bất thường của túi mật và ống mật chung. Tuy nhiên, siêu âm ổ bụng không đặc hiệu. Chụp sacn gan mật bằng acid hydroxy iminodiacetic ( Chụp HIDA); khi HIDA có thể bài xuất vào trong đường ruột sẽ lọai trừ hẹp đường mật, nhưng sự giảm bài xuất mật có thể xảy ra với cả hẹp đường mật, viêm gan bẩm sinh nặng và những nguyên nhân gây ứ mật khác. Trẻ bị ứ mật thường được cho phenobarbital trong 5 ngày trước khi chụp HIDA nhằm kích thích sự bài xuất.

Khi không thể chẩn đoán, cần sinh thiết gan sớm, đôi khi cần phải chụp đường mật qua da. Trẻ có teo đường mật thường có giãn tĩnh mạch cửa, tăng sản xuất thêm các ống mật và tăng xơ hóa. Viêm gan sơ sinh được đặc trưng bởi sự đảo lộn các tiểu thuy gan với các tế bào đa nhân khổng lồ. Bệnh gan tự miễn được đặc trưng bởi sự tăng cao dự trữ sắt (tăng sắt cũng có thể được chứng minh bằng cách sử dụng sinh thiết môi nếu không cần sinh thiết gan ).

Teo đường mật thường tiến triển nếu không được điều trị và có thê gây suy gan, xơ gan kèm tăng áp lực tĩnh mạch cửa trong vài tháng và có thể tử vong khi trẻ 1 tuổi.

Tiên lượng bệnh ứ mật do các rối loạn đặc biệt (ví dụ bệnh chuyển hóa) là rất khác nhau, từ lành tính đến viêm gan tiến triển cuối cùng là dẫn đến xơ gan.

Hội chứng viêm gan sơ sinh nguyên phát thường tiến triển chậm hơn, nhưng tổn thương gan không hồi phục và dẫn tới suy gan và tử vong.

Bệnh gan tự miễn nếu không được điều trị sớm sẽ có tiên lượng xấu.

Trẻ sơ sinh có nghi ngờ bị teo đường mật cần phẫu thuật thăm dò và chụp đường mật trong mổ. Nếu trẻ được chẩn đoán xác định là teo đường mật thì cần phẫu thuật (phẫu thuật Kasai). Phẫu thuật này được thực hiện tốt nhất là vào lúc trẻ 1-2 tháng tuổi. Sau giai đoạn này, tiên lượng gần của trẻ thường xấu hơn. Sau phẫu thuật, nhiều trẻ thường có biến chứng mãn tính như ứ mật dai dẳng, viêm đường mật và chậm lớn. Thường cần phải sử dụng kháng sinh dự phòng (ví dụ, trimethoprim / sulfamethoxazole) trong một năm đầu sau phẫu thuật nhằm ngăn ngừa bệnh viêm đường mật. Ngay cả khi được điều trị tối ưu, hầu hết trẻ đều bị xơ gan và cần ghép gan.

Vì bệnh gan tự miễn không có các dấu ấn và / hoặc xét nghiệm đặc hiệu nên cần điều trị bằng IVIG hoặc thay máu sớm nhằm đảo ngược tình trạng tổn thương gan trong các trường hợp không thể chẩn đoán xác định nguyên nhân chính xác.

Bệnh Xơ Gan Ứ Mật Nguyên Phát / 2023

Xơ gan ứ mật nguyên phát (tiên phát) được coi là một bệnh tự miễn, trong đó cơ thể tự chống lại các tế bào của chính nó. Các nhà nghiên cứu cho rằng nguyên nhân gây ra tình trạng này là do sự kết hợp của các yếu tố di truyền và môi trường.

1. Bệnh xơ gan ứ mật nguyên phát là gì

2. Triệu chứng của bệnh xơ gan ứ mật nguyên phát

3. Nguyên nhân gây ra bệnh xơ gan ứ mật nguyên phát

4. Biến chứng của bệnh xơ gan ứ mật nguyên phát

5. Điều trị bệnh xơ gan ứ mật nguyên phát

6. Bác sĩ điều trị

7. Chia sẻ của bệnh nhân

Xơ gan ứ mật nguyên phát (tên tiếng Anh là Primary Biliary Cirrhosis – PBC), bệnh xảy ra khi các ống dẫn mật trong gan dần dần bị phá hủy. Mật được sản xuất từ gan có vai trò tiêu hóa thức ăn và giúp loại bỏ các tế bào hồng cầu già, cholesterol và chất độc.

Khi các ống dẫn mật bị tổn thương, như trong bệnh xơ hóa đường mật nguyên phát, các chất độc sẽ tích tụ trong gan, dần dần gan bị tổn thương xuất hiện những mô sẹo mô xơ có thể dẫn đến xơ gan.

Xơ gan ứ mật nguyên phát thường phát triển chậm và thuốc có thể làm chậm sự tiến triển của bệnh, đặc biệt nếu được điều trị sớm.

Một số bệnh nhân bị xơ gan ứ mật nguyên phát không có bất kì triệu chứng nào trong nhiều năm sau khi được chẩn đoán, nhưng một số bệnh nhân khác lại có một vài dấu hiệu và triệu chứng thường gặp.

Các triệu chứng thường gặp bao gồm:

Các dấu hiệu và triệu chứng xuất hiện trễ bao gồm:

Đau bụng ở ¼ phía trên bên trái

Đau nhức cơ bắp, xương khớp

Vàng da vàng mắt (vàng da)

Da sạm màu. Hay đen nám không do tác dụng của nắng

Phù bàn chân và mắt cá chân

Chướng bụng do dịch tích tụ trong ổ bụng

U vàng, thường thấy nhất là trên da xung quanh mắt, mí mắt, bàn tay, bàn chân, khuỷu tay và đầu gối

Loãng xương, xương yếu và giòn,nên dễ gãy

Tăng cholesterol

Bác sĩ tham vấn thông tin:

✍ Các bác sĩ Tiêu Hoá Hello Doctor

Bệnh xơ gan ứ mật nguyên phát đến nay vẫn chưa xác định được nguyên nhân chính xác. Nhiều nghiên cứu chỉ ra bệnh chủ yếu là do tự miễn dịch, trong đó cơ thể tự chống lại các tế bào của chính nó.

Tình trạng viêm trong bệnh xơ gan ứ mật nguyên phát xảy ra khi các tế bào lympho T (T cells) bắt đầu tích tụ trong gan. Tế bào lympho T là các tế bào bạch cầu chịu trách nhiệm một phần của các phản ứng miễn dịch trong cơ thể

Bình thường, các tế bào T nhận diện và giúp cơ thể chống lại những yếu tố lạ xâm nhập như vi khuẩn. Xơ gan ứ mật nguyên phát, các tế bào T lại xâm nhập và tự phá hủy các tế bào lót bên trong các ống dẫn mật.

Qúa trình viêm trong các ỗng dẫn mật dần dần lan rộng và sau đó sẽ phá huỷ các tế bào gan gần đó. Khi các tế bào gan bị phá hủy, chúng sẽ được thay thế bằng mô xơ có thể gây xơ gan. Xơ gan là những vết sẹo của các mô gan gây khó khăn cho gan khi thực hiện các chức năng quan trọng.

Các yếu tố sau đây có thể làm tăng nguy cơ xơ gan ứ mật nguyên phát:

Giới tính: Đa số những bệnh nhân xơ hóa đường mật nguyên phát, xơ gan ứ mật nguyên phát là phụ nữ.

Tuổi: Bệnh xảy ra chủ yếu ở lứa tuổi từ 30 đến 60 tuổi.

Yếu tố di truyền: Gia đình có thành viên mắc bệnh làm tăng nguy cơ khả năng mắc bệnh của bạn.

Các nhà nghiên cứu cho rằng các yếu tố di truyền khi kết hợp với các yếu tố môi trường là một trong những nguyên nhân chính gây ra bệnh xơ hóa đường mật nguyên phát. Những yếu tố môi trường có thể là:

Nhiễm trùng: Các nhà nghiên cứu cho rằng bệnh có thể được gây ra bởi sự nhiễm khuẩn, nấm hoặc ký sinh trùng.

Chất độc ở môi trường: Một số nghiên cứu cho thấy hóa chất độc có thể đóng một vai trò trong việc phát triển bệnh xớ hóa đường mật.

Khi gan bị tổn thương, bệnh nhân bị xơ gan ứ mật nguyên phát có thể gặp một số vấn đề nghiêm trọng như:

Xơ gan: Gan bị xơ sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng gan, thường xảy ra ở giai đoạn cuối của bệnh. Xơ gan tiến triển có thể dẫn đến suy gan, các chứng năng gan không còn hoạt động bình thường được nữa.

Tăng áp lực tĩnh mạch cửa: Máu từ ruột, lách và tuyến tụy trở về gan qua một mạch máu lớn gọi là tĩnh mạch cửa. Khi mô gan bị xơ, làm cản trở sự lưu thông đó dẫn đến tăng áp lực trong tĩnh mạch cửa. Hơn nữa, khi dòng máu bị ứ lại sẽ làm giảm chất lượng lọc máu và chất độc.

Lách to: Do hậu quả của sự tăng áp lực tĩnh mạch cửa làm ứ lại bạch cầu và tiểu cầu.

Sỏi mật và sỏi ống mật: Nếu mật bị tắc nghẽn trong các ống mật, nó có thể gây đau và nhiễm trùng, về lâu dần có thể hình thành sỏi.

Giãn tĩnh mạch: Khi máu trở về gan qua tĩnh mạch cửa bị tắc nghẽn do gan bị tổn thương, máu có thể theo con đường tĩnh mạch khác về gan chủ yếu là tĩnh mạch ở dạ dày và thực quản. Các mạch máu này có thàneh mỏng nên dễ dẫn đến tăng áp lực mạch máu sau đó vỡ gây chảy máu. Đây là một trường hợp cấp cứu đe dọa mạng sống cần phải có xử trí cấp cứu kịp thời.

Ung thư gan: Xơ gan tiến triển tăng nguy cơ ung thư gan.

Loãng xương: Bệnh nhân bị xơ hóa đường mật xương giòn và dễ gãy hơn so với bình thường.

Thiếu Vitamin: Thiếu mật do tắc nghẽn sẽ ảnh hưởng đến khả năng hấp thu chất béo và vitamin tan trong chất béo:A, D, E và K.

Bệnh não gan: Bệnh nhân bị xơ hóa đường mật có kèm theo suy gan thường có vấn đề về trí nhớ, sự tập trung và sự thay đổi tính cách.

Nguy cơ gia tăng các bệnh khác: Bệnh nhân bị xơ hóa đường mật chính có thể có các rối loạn về hệ thống miễn dịch hoặc trao đổi chất khác, bao gồm các vấn đề về tuyến giáp, chứng loãng xương và viêm khớp dạng thấp.

Các xét nghiệm và thủ thuật sau đây được chỉ định để chẩn đoán bệnh xơ hóa đường mật:

Các ống dẫn mật dẫn mật từ gan đi đến ruột non. Khi các ống dẫn mật bị tổn thương ảnh hưởng đến các tế bào gan. Trầm trọng hơn của bệnh này là có thể dẫn đến suy gan

Nếu các xét nghiệm trên vẫn chưa thể chẩn đoán xác định, bác sĩ có thể thực hiện sinh thiết gan. Một mẫu nhỏ mô gan được lấy ra và gửi đi xét nghiệm để xác định chẩn đoán hoặc mức độ (giai đoạn) của bệnh.

Định lượng các marker chỉ điểm gợi ý các bệnh tự miễn: Xét nghiệm định lượng kháng thể kháng ti thể (AMAs). Loại kháng thể này gần như không bao giờ xuất hiện ở người không có bệnh Xơ hóa đường mật nguyên phát. Do đó, nếu phát hiện dùng kháng thể này đễ chẩn đoán bệnh có giá trị tin cây khá cao. Tuy nhiên, trên một số ít cá thể bị Xơ hóa đường mật nguyên phát không có sự xuát hiện của kháng thể này.

Xét nghiệm chức năng gan: để kiểm tra chức năng gan, dấu hiệu bác sĩ sẽ chỉ định các xét nghiệm đo nồng độ của các enzyme cảu gan để đánh giá các bệnh về gan nói chung và đường mật nói riéng

Siêu âm, CT scan, MRI: để xác định cấu trúc bị tổn thương một cách rõ ràng, đồng thời có thể chẩn đoán được nguyên nhân gây ra bệnh

Nội soi chụp mật tụy ngược dòng (ERCP): Thủ thuật này có thể nhìn thấy đường mật của bệnh nhân trên X-quang. Xét nghiệm này xâm lấn và có thể gây biến chứng. Trên các bệnh nhân đã có thể chẩn đoán bệnh bằng MRI thì không cần thiết phải áp dụng thủ thuật này

Việc điều trị tập trung vào mục đích làm chậm tiến triển của bệnh, giảm triệu chứng và ngăn ngừa các biến chứng.

Điều trị bệnh: Các biện pháp điều trị làm chậm tiến triển của bệnh và kéo dài tuổi thọ bao gồm:

– Ursodeoxycholic acid (UDCA): Còn được gọi là ursodiol , UDCA là một acid mật giúp vận chuyển mật qua gan của bạn. UDCA không thể điều trị hết bệnh hoàn toàn, nhưng nó có thể kéo dài đời sống nếu bắt đầu sớm trong việc điều trị và thường được coi là phương pháp điều trị đầu tiên đầu tiên trong lộ trình điều trị.Mặc dù UDCA không dùng để điều trị cho tất cả các bệnh nhân mắc bệnh, nhưng những bệnh nhân giai đoạn sớm sẽ đáp ứng tốt hơn. Tác dụng phụ bao gồm tăng cân, rụng tóc và tiêu chảy.

– Ghép gan: Khi điều trị trên thất bại, chức năng gan bắt đầu suy yếu dần không hồi phục, ghép gan sẽ giúp kéo dài cuộc sống. Ghép gan là một phẫu thuật đloại bỏ gan bị bệnh và thay thế nó bằng một gan khỏe mạnh từ người hiến tặng. Hầu hết gan được hiến tặng đều đến từ những người đã chết. Nhưng trong một số trường hợp, có thể loại bỏ một phần gan từ người hiến tạng còn sống.

Tuy ghép gan có thể kéo dài được sự sống nhưng vẫn có khả năng tái phát bệnh xơ hóa đường mật trên gan được ghép. Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng những bệnh nhân xơ hóa đường mật nguyên phát khi được ghép gan có tỷ lệ sống sót đến 80-85% sau 5 năm.

– Các loại thuốc mới: Các nhà nghiên cứu tiếp tục khám phá các loại thuốc khác để điều trị xơ gan ứ mật nguyên phát. Thuốc ức chế miễn dịchđã được sử dụng rộng rãi, nhưng hiệu quả của chúng vẫn chưa được chứng minh. Nhiều loại thuốc khác, kể cả thuốc kháng vi-rút, vẫn tiếp tục được nghiên cứu.

– Điều trị triệu chứng: Bác sĩ có thể khuyên bệnh nhân điều trị để kiểm soát các dấu hiệu và triệu chứng của bệnh xơ gan ứ mật nguyên phát để bệnh nhân cảm thấy thoải mái hơn chẳng hạn như điều trị ngứa, khô mắt khô miệng,…

– Ngăn ngừa biến chứng:

Điều trị mệt mỏi: Mặc dù bệnh là nguyên nhân gây ra mệt mỏi làm thay đổi thói quen hàng ngày của bạ, đồng thời mệt mỏi có thể là hậu quả của các biện pháp điều trị. Cần thêm nhiều nghiên cứu để xác định vai trò của nó trong bệnh xơ gan ứ mật nguyên phát nguyên phát.

Điều trị ngứa

Điều trị khô mắt khô miệng

Chăm sóc tốt sức khoẻ tổng thể có thể giúp bệnh nhân cảm thấy tốt hơn và cải thiện một số triệu chứng của bệnh:

Tăng áp lực tĩnh mạch cửa: Tầm soát tăng huyết áp khi bệnh nhân được chẩn đoán bệnh lần đầu tiên và mỗi vài năm sau đó. Nếu bệnh nhân được chẩn đoán là tăng huyết áp cần phải điều trị thuốc ngay từ lúc đó.

Loãng xương: Bổ sung canxi và vitamin D. Tập luyện hầu hết các ngày trong tuần để giúp tăng mật độ xương của bạn.

Thiếu vitamin: Bổ sung vitamin A, D, E và K để chống lại sự thiếu hụt vitamin. Tránh dùng thảo mộc hoặc chất bổ sung dinh dưỡng mà không trình bày trước với bác sĩ.

Khi thấy có các dấu hiệu của bệnh xơ gan ứ mật nguyên phát bạn có thể đặt khám các bác sĩ Hello Doctor theo số điện thoại 1900 1246 nhằm khám và điều trị bệnh sớm, tránh các biến chứng cũng như diễn tiến bất thường gây hậu quả nghiêm trọng.

Giảm lượng muối ăn vào hằng ngày hoặc chọn các thực phẩm có ít Natri trong thành phần vì muối Natri góp phần vào sự tích tụ dịch trong ổ bụng của bệnh nhân cũng như có thể gây tăng huyết áp.

Tập thể dục hầu hết các ngày trong tuần có thể làm giảm nguy cơ loãng xương.

Không uống rượu. Gan sẽ là cơ quan tiêu hóa và phân giải các thức uống có cồn, và nếu uống qua nhiều rượu sẽ gây gánh nặng cho gan, nhất là trên gan của người bệnh Xơ hóa đường mật tiên pháp

Tham khảo ý kiến bác sĩ trước khi bắt đầu thuốc mới hoặc có bổ sung nào trong chế độ ăn uống. Vì gan của bệnh nhân mắc bệnh xơ gan ứ mật nguyên phát không hoạt động như bình thường nên sẽ nhạy cảm hơn với hiệu quả của thuốc cũng như một số chất bổ sung.Vì vậy hãy kiểm tra với bác sĩ trước khi dùng bất cứ thứ gì mới.

Vàng Da Ở Trẻ Sơ Sinh / 2023

Vàng da sinh lý hết sau 10 ngày đối với trẻ sinh đủ tháng và 14 ngày đối với trẻ sinh thiếu tháng. Bé bú sữa mẹ có thể bị vàng da do sữa mẹ, tuy không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng sẽ bị kéo dài hơn. Hiện tượng đỏ mặt khi rặn đi cầu và khi giật mình không cần điều trị. Khi bé khoảng 3- 4 tháng tuổi sẽ bắt đầu hoạt động lưỡi nhiều hơn, cử động miệng nhiều hơn. Bé có thể ham vui, ham nói chuyện nên không tập trung khi bú. Bạn nên chọn nơi yên tĩnh để cho bé bú và thử đổi cỡ (size) núm vú to hơn để sữa xuống nhanh hơn vì sữa xuống chậm cũng sẽ làm bé chán.

Xin chào các bác sĩ, em có một số thắc mắc như bên dưới hy vọng nhận được tư vấn của bác sĩ, e chân thành cảm ơn! 1. Em sanh mổ 37w1d bé trai 2.7kg, sau sinh 4 ngày bé bị vàng da sinh lý bác sĩ cho uống vitamin D mỗi ngày 1 giọt, đến giờ đã 3 tuần sao em thấy bé vẫn còn vàng da, có cách nào cải thiện để bé hết hẳn không ạ? Vàng da sinh lý bao lâu thì hết ạ? 2. Từ lúc 10 ngày tuổi, tự nhiên bé hay rặn đỏ mặt tía tai, đặc biệt là lúc đi ị, nhưng bé vãn ị đều ngày 6 7 lần chứ k phải táo báo và phân tốt, hoặc lúc bé đói, ngủ giật mình cũng bị đỏ mặt cả lên. Bác sĩ cho em hỏi tình trạng này là sao ạ và cải thiện như thế nào ạ? 3. Vài ngày trở lại đây bé hay thè lưỡi, nhai miệng và nuốt như có thức ăn trong miệng, như vậy có bị làm sao không bác sĩ? 4. Do bé k chịu ti mẹ nên e toàn vắt sữa ra bình cho bé bú, lúc đầu trộm vía bé bú ngoan 1 lèo có thể đến 70 80ml sữa mẹ, nhưng mấy ngày gần đây e vẫn lấy 80ml sữa bé chỉ bú đến 30 40 ml thôi thì lại ư e đỏ cả mặt, nhưng khi đút núm vú vào thì bé lại nút rất nhanh như đang đói, chỉ nút 2 3 cái lại lè ra và ư e, cứ như vậy lập đi lập lại hoài. Nên bé k bao giờ bú no được, bác sĩ cho em hỏi bé bị làm sao và khác phục thế nào ạ? Em cảm ơn.

Các dấu hiệu bạn mô tả có thể gặp ở trẻ bình thường. Tuy nhiên, do con bạn có nhiều yếu tố có nguy cơ ảnh hưởng đến thần kinh như ngạt, vàng da nặng nên cần phải theo dõi phát triển tâm lý và vận động đến 2 tuổi. Bạn có thể so sánh sự phát triển của bé với các mốc phát triển bình thường (có trong sổ sức khoẻ trẻ em) hoặc đưa bé đến theo dõi định kỳ tại chuyên khoa thần kinh.

Bạn không cho biết đơn vị của định lượng men G6PD nên khó trả lời. Bạn nên cho bé khám chuyên khoa sơ sinh để xác định thêm ngoài nguyên nhân thiếu men G6PD thì bé còn có nguyên nhân nào khác (viêm gan, nhiễm trùng tiểu…) làm bé bị vàng da kéo dài không. Ngoài ra, nếu bé bú sữa mẹ hoàn toàn hoặc chủ yếu thì có thể vàng da do sữa mẹ. Bạn có thể hâm nóng sữa mẹ đến sủi tăm, để nguội và cho bé bú. Nếu chỉ do sữa mẹ thì sau 2 ngày sẽ giảm vàng da đáng kể.

Bé có thể bị vàng da do sữa mẹ. Bạn có thể hâm nóng sữa mẹ đến khi sủi tăm, để nguội và cho bé bú. Nếu vàng da chỉ do sữa mẹ thì sau 2 ngày uống sữa mẹ hâm nóng bé sẽ hết vàng da. Sau đó, bạn có thể cho bé bú sữa mẹ bình thường. Vàng da mức độ như bạn mô tả có thể không có di chứng. Tuy nhiên, bạn vẫn phải theo dõi sự phát triển vận động và tâm lý của bé theo các mốc chuẩn để có thể can thiệp kịp thời nếu có bất thường.

Chao bs be e sinh duoc 19ngay hoi sinh ơ tư du 5ngay duoc xuat vien ve .be bi vang da phai nhap vien benh vien hoc môn chieu den 3ngay roi ve nha ket hop phoi năng nay thi be het roi .nhung sau be văng mjh qua ko biet phai vang da m be như vay ko bs ..

Tran thi kim loan – 29t tuổi

Trả lời:

Chào bạn,

Thân mến

BS. Nguyễn Thị Từ Anh – Sơ sinh

Xuất Huyết Não Ở Trẻ Sơ Sinh / 2023

Sau khi sử dụng dịch vụ massage bụng sau sinh tại nhà, tôi rất hài lòng về dịch vụ của công ty, vòng bụng tôi giảm sau khi kết thúc liệu trình mang lại sự tự tin cho tôi hơn. Và nhân viên phục vụ…

Sau 10 ngày sử dụng dịch vụ tại công ty tôi thấy vòng bụng giảm rõ. Nhân viên nhiệt tình, dễ thương.

Nhận xét khách hàng Trần Thanh Nguyệt sau khi sử dụng dịch vụ chăm sóc mẹ và bé tại viện, dịch vụ tắm bé, chăm sóc rốn, vệ sinh vết mổ sau sinh. Nhân viên phụ trách: Cao Trường Thiên Lý, tốt…

Xuất huyết não ở trẻ sơ sinh

Chứng xuất huyết não ở trẻ sơ sinh là chỉ lớp màng xương sọ của trẻ bị xuất huyết. Đây là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tử vong, thường xảy ra đối với trường hợp đẻ non, thường gặp ở sản phụ cao tuổi sinh non. Tỷ lệ phát bệnh ở bé trai nhiều hơn bé gái.

Trẻ bị bệnh xuất huyết não ở trẻ sơ sinh thường xảy ra sau khi sinh 3 ngày, thời gian mắc bệnh nhanh nhất là sau khi sinh 2 tiếng.

Biểu hiện ban đầu của bệnh xuất huyết não ở trẻ sơ sinh:

– Hệ thống thần kinh trung ương hưng phấn (trẻ cảm thấy buốn bực, phát ra tiếng rên, có những trẻ còn phát ra tiếng hét, có những trẻ 2 mắt nhìn trừng trừng về một hướng, nét mặt hiện lên vẻ sợ hãi).

-Những trẻ sơ sinh mắc bệnh này thở tương đối nhanh, không theo quy tắc, thậm chí nhịp thở không đều.

– Mặt mày xanh xao.

– Hay trớ sữa.

Sau khi mắc bệnh từ 3 đến 5 ngày, bệnh thường có hiện tượng chuyển biến tốt, nếu không sẽ chuyển sang trạng thái ức chế. Có một số trường hợp chảy máu tương đối nghiêm trọng, ngay thời kỳ đầu đã xuất hiện trạng thái ức chế, có biểu hiện thèm ngủ, không ăn, sắc mặt nhợt nhạt, thậm chí hôn mê dẫn đến tử vong.

Sọ não xuất huyết nghiêm trọng thường dẫn đến tử vong, những trẻ mắc bệnh thường làm thần kinh tổn thương, để lại di chứng.

Phương pháp phòng tránh bệnh:

– Bà mẹ trong thời gian mang thai phải chú ý giữ gìn sức khỏe, tránh để xảy ra tình trảng sinh non.

– Khi có dấu hiệu của bệnh phải chữa trị kịp thời.

– Đề cao kỹ thuật trợ sản, thực hiện các thủ thuật trợ sản, quan sát tỉ mỉ quá trình sinh đẻ, cung cấp oxi kịp thời.

– Đối với trẻ đẻ non, đẻ khó hoặc khi đẻ ra trẻ bị ngạt thở thì sao khi sinh nên tiêm vitamin K và vitamin C…

Tuy nhiên, phương pháp tốt nhất, hiệu quả nhất đối với căn bệnh này là : bà mẹ khi mang thai phải giữ gìn sức khỏe, kiểm tra cẩn thận trước khi sinh, kịp thời xử lý các bệnh mắc phải khi mang thai, tránh để đẻ non và đẻ khó. Đối với trường hợp đẻ non, đẻ khó, đẻ thủ thuật nên đỡ đẻ cẩn thận, nên tiêm vitamin K phòng tránh chảy máu. Trong quá trình sinh đẻ không được lạm dụng thuốc kích thích đẻ và thuốc khống chế hệ thầ kinh trung ương. Nắm vững các thủ thuật trợ sản cũng là một trong những cách để giảm thiểu tỉ lệ trẻ xuất huyết sọ não.

Thế Giới Mẹ Và Bé – Nơi bạn gửi trọn niềm tin! http://sausinh.com.vn/ Hotline: 090-666-5483/ 0909-97-91-94

Bạn đang đọc nội dung bài viết Ứ Mật Ở Trẻ Sơ Sinh / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!