Đề Xuất 11/2022 # Ulis Repository: Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án (Project / 2023 # Top 18 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 11/2022 # Ulis Repository: Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án (Project / 2023 # Top 18 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Ulis Repository: Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án (Project / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Please use this identifier to cite or link to this item: http://hdl.handle.net/ULIS_123456789/943

Title: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN (PROJECT-BASED LEARNING) NHẰM NÂNG CAO Ý THỨC TỰ CHỦ TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHÔNG CHUYÊN: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

Keywords: SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO DỰ ÁN (PROJECT-BASED LEARNING) NHẰM NÂNG CAO Ý THỨC TỰ CHỦ TRONG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN KHÔNG CHUYÊN: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Issue Date: May-2016 Abstract: Dạy học theo dự án (PBL) là mô hình giảng dạy lấy người học làm trung tâm, sử dụng các tình huống thực và mở mà trong đó, người học phải thực hiện các nhiệm vụ được giao và tạo ra các sản phẩm của chính mình. PBL khuyến khích sự tham gia và phát triển ý thức chủ động của người học trong quá trình lĩnh hội kiến thức, rèn luyện cho người học các kỹ năng mềm quan trọng trong môi trường làm việc hiện đại như làm việc nhóm, công nghệ thông tin, giao tiếp, thuyết trình… PBL đang được áp dụng rộng rãi trong giảng dạy ngoại ngữ ở nước ngoài và một số trường đại học chuyên về đào tạo ngoại ngữ ở Việt Nam và đã đem lại những kết quả tích cực. Tuy nhiên, việc sử dụng PBL trong giảng dạy Tiếng Anh không chuyên chưa được triển khai rộng rãi bởi những khó khăn như sĩ số lớp đông, trình độ bất đồng đều, động cơ học tập của sinh viên không cao… Bài báo giới thiệu về PBL, khảo sát thực trạng ứng dụng PBL trong đào tạo tiếng Anh không chuyên (thông qua nghiên cứu tình huống tại Đại học Thương mại), phân tích các khó khăn trong áp dụng và đề xuất giải pháp khắc phục. Description: Dạy học theo dự án (PBL) là mô hình giảng dạy lấy người học làm trung tâm, sử dụng các tình huống thực và mở mà trong đó, người học phải thực hiện các nhiệm vụ được giao và tạo ra các sản phẩm của chính mình. PBL khuyến khích sự tham gia và phát triển ý thức chủ động của người học trong quá trình lĩnh hội kiến thức, rèn luyện cho người học các kỹ năng mềm quan trọng trong môi trường làm việc hiện đại như làm việc nhóm, công nghệ thông tin, giao tiếp, thuyết trình… PBL đang được áp dụng rộng rãi trong giảng dạy ngoại ngữ ở nước ngoài và một số trường đại học chuyên về đào tạo ngoại ngữ ở Việt Nam và đã đem lại những kết quả tích cực. Tuy nhiên, việc sử dụng PBL trong giảng dạy Tiếng Anh không chuyên chưa được triển khai rộng rãi bởi những khó khăn như sĩ số lớp đông, trình độ bất đồng đều, động cơ học tập của sinh viên không cao… Bài báo giới thiệu về PBL, khảo sát thực trạng ứng dụng PBL trong đào tạo tiếng Anh không chuyên (thông qua nghiên cứu tình huống tại Đại học Thương mại), phân tích các khó khăn trong áp dụng và đề xuất giải pháp khắc phục.

ISSN: 978-604-62-5718-9 Appears in Collections:Báo cáo Hội nghị – Hội thảo khoa học quốc gia

Bước Đầu Vận Dụng Dạy Học Theo Dự Án Trong Học Phần Phương Pháp Dạy Học Lịch Sử / 2023

Bước đầu vận dụng dạy học theo dự án trong học phần Phương pháp dạy học lịch sử

CHUYÊN ĐỀ:  BƯỚC ĐẦU VẬN DỤNG DẠY HỌC THEO DỰ ÁN TRONG HỌC PHẦN PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC LỊCH SỬ

                                                                                                                            ThS. Nguyễn Thị Kim Hằng

                                                                                                                              Bộ môn: Sử – Địa 1. Lý thuyết về dạy học theo dự án 1.1. Khái niệm dự án Thuật ngữ dự án trong tiếng Anh là “Project”, có nguồn gốc từ tiếng La tinh được hiểu theo nghĩa phổ thông là một đề án, một dự thảo hay một kế hoạch. Dự án là một dự định, một kế hoạch cần được thực hiện trong điều kiện thời gian, phương tiện tài chính, nhân lực, vật lực xác định nhằm đạt được mục đích đã đề ra. Dự án có tính phức hợp, tổng thể, được thực hiện trong hình thức tổ chức dự án chuyên biệt. Một dự án nói chung có những đặc điểm cơ bản sau: – Có mục tiêu được xác định rõ ràng. – Có thời gian qui định cụ thể. – Có nguồn tài chính, vật chất, nhân lực giới hạn. – Mang tính duy nhất (phân biệt với các dự án khác). – Mang tính phức hợp, tổng thể. – Được thực hiện trong hình thức tổ chức dự án chuyên biệt. 1.2. Khái niệm dạy học theo dự án Theo định nghĩa của Bộ Giáo dục Singapore “Học theo dự án (Project work) là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho học sinh tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống” . 1.3. Mục tiêu của dạy học theo dự án – Hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn kết nội dung học với cuộc sống thực tế. – Phát triển cho người học kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề; kĩ năng tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá). – Rèn luyện nhiều kĩ năng (tổ chức kiến thức, kĩ năng sống, kĩ năng làm việc theo nhóm, giao tiếp…). – Cho phép người học làm việc “một cách độc lập” để hình thành kiến thức và cho ra những kết quả thực tế. – Nâng cao kĩ năng sử dụng công nghệ thông tin vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm. 1.4. Đặc điểm của dạy học dự án – Định hướng hứng thú người học: Người học được tham gia chọn đề tài, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân. Ngoài ra, hứng thú của người học cần được tiếp tục phát triển trong quá trình thực hiện dự án. – Mang tính phức hợp, liên môn: nội dung dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một nhiệm vụ, vấn đề mang tính phức hợp. – Định hướng hành động: trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa nghiên cứu lý thuyết và vận dụng lý thuyết vào trong hoạt động thực tiễn, thực hành. Thông qua đó, kiểm tra, củng cố, mở rộng hiểu biết lý thuyết cũng như rèn luyện kỹ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học. – Tính tự lực của người học: trong dạy học theo dự án, người học cần tham gia tích cực, tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học. Điều đó cũng đòi hỏi và khuyến khích tính trách nhiệm, sự sáng tạo của người học. Giáo viên (GV) chủ yếu đóng vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ. Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với kinh nghiệm, khả năng của người học và mức độ khó khăn của nhiệm vụ. – Cộng tác làm việc: các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm, trong đó có sự cộng tác làm việc và sự phân công công việc giữa các thành viên trong nhóm. Dạy học theo dự án đòi hỏi và rèn luyện tính sẵn sàng và kỹ năng cộng tác làm việc giữa các thành viên tham gia, giữa sinh viên (SV) và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác tham gia trong dự án. – Định hướng sản phẩm: trong quá trình thực hiện dự án, các sản phẩm được tạo ra không chỉ giới hạn trong những thu hoạch lí thuyết, mà trong đa số trường hợp các dự án học tập tạo ra những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành. Những sản phẩm này có thể sử dụng, công bố, giới thiệu. 1.5. Phân loại các dạng của dạy học theo dự án – Phân loại theo chuyên môn + Dự án trong một môn học: trọng tâm nội dung nằm trong một môn học. + Dự án liên môn: trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn khác nhau. + Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học, ví dụ dự án chuẩn bị cho các lễ hội trong trường. – Phân loại theo sự tham gia của người học: dự án cho nhóm SV, dự án cá nhân. Dự án dành cho nhóm SV là hình thức dự án dạy học chủ yếu. Trong trường phổ thông còn có dự án toàn trường, dự án dành cho một khối lớp, dự án cho một lớp học. – Phân loại theo sự tham gia của GV: dự án dưới sự hướng dẫn của một GV, dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV. – Phân loại theo quỹ thời gian: chúng tôi đề nghị cách phân chia như sau: + Dự án nhỏ: thực hiện trong một số giờ học, có thể từ 2-6 giờ học. + Dự án trung bình: dự án trong một hoặc một số ngày (“Ngày dự án”), nhưng giới hạn là một tuần hoặc 40 giờ học. + Dự án lớn: dự án thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là một tuần (hay 40 giờ học), có thể kéo dài nhiều tuần (“Tuần dự án”). Cách phân chia theo thời gian này thường áp dụng ở trường phổ thông. Trong đào tạo đại học, có thể quy định quỹ thời gian lớn hơn. – Phân loại theo nhiệm vụ Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo các dạng sau: + Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng. + Dự án nghiên cứu: nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện tượng, quá trình. + Dự án thực hành: có thể gọi là dự án kiến tạo sản phẩm, trọng tâm là việc tạo ra các sản phẩm vật chất hoặc thực hiện một kế hoạch hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác. + Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên. Các loại dự án trên không hoàn toàn tách biệt với nhau. Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng 1.6. Tiến trình thực hiện dạy học theo dự án – Xây dựng kế hoạch thực hiện: trong giai đoạn này SV với sự hướng dẫn của GV xây dựng đề cương cũng như kế hoạch cho việc thực hiện dự án. Trong việc xây dựng kế hoạch cần xác định những công việc cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành và phân công công việc trong nhóm. – Thực hiện dự án : các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm và cá nhân. Trong giai đoạn này, SV thực hiện các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành, những hoạt động này xen kẽ và tác động qua lại lẫn nhau. Kiến thức lý thuyết, các phương án giải quyết vấn đề được thử nghiệm qua thực tiễn. Trong quá trình đó sản phẩm của dự án và thông tin mới được tạo ra. – Thu thập kết quả và công bố sản phẩm : kết quả thực hiện dự án có thể được viết dưới dạng thu hoạch, báo cáo, luận văn… Trong nhiều dự án, các sản phẩm vật chất được tạo ra qua hoạt động thực hành. Sản phẩm của dự án cũng có thể là những hành động phi vật chất, chẳng hạn việc biểu diễn một vở kịch, việc tổ chức một sinh hoạt nhằm tạo ra các tác động xã hội. Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm sinh viên (SV), có thể được giới thiệu trong nhà trường, hay ngoài xã hội. – Đánh giá dự án: GV và SV đánh giá quá trình thực hiện và kết quả cũng như kinh nghiệm đạt được. Từ đó rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các dự án tiếp theo. Kết quả của dự án cũng có thể đuợc đánh giá từ bên ngoài. Hai giai đoạn cuối này cũng có thể được mô tả chung thành giai đoạn kết thúc dự án. 1.7. Ưu điểm và nhược điểm của dạy học theo dự án – Ưu điểm: Các đặc điểm của DHDA đã thể hiện những ưu điểm của PPDH này. Có thể tóm tắt những ưu điểm cơ bản sau đây của dạy học theo dự án: · Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội; · Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học; · Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm; · Phát triển khả năng sáng tạo; · Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp; · Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn; · Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc; · Phát triển năng lực đánh giá [1, tr.150]. Chuyên gia về PBL Thom Markham nhận định: “Học sinh không chỉ tìm hiểu kiến thức thuộc chương trình giảng dạy mà còn áp dụng những gì các em biết để giải quyết các vấn đề thực.” PBL đồng thời cũng tập trung hơn vào việc giáo dục học sinh, chứ không chỉ đơn thuần tập trung vào chương trình giảng dạy – đây là một sự thay đổi bắt buộc mang tính toàn cầu, tài sản mang lại cho thế giới khi ấy chính là niềm đam mê, sự sáng tạo, sự đồng cảm, và khả năng học được cả những điều không được giảng dạy trong sách giáo khoa [6]. – Nhược điểm · DHTDA không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tính trừu tượng, hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kỹ năng cơ bản; · DHTDA đòi hỏi nhiều thời gian. Vì vậy DHDA không thay thế cho PP thuyết trình và luyện tập, mà là hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho các PPDH truyền thống. · DHTDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp [2]. 2. Vận dụng dạy học theo dự án trong giảng dạy học phần phương pháp dạy học Lịch sử 2.1. Giới thiệu về học phần Học phần Phương pháp dạy học Lịch sử (3 tín chỉ) trang bị cho sinh viên SP Địa – Sử K42 cơ sở để xác định, lựa chọn hệ thống phương pháp dạy học Lịch sử ở trường THCS; trình bày rõ đặc trưng của từng hệ thống các phương pháp, phương tiện dạy học Lịch sử ở trường THCS; những kỹ năng, biện pháp sử dụng các phương pháp trong thực tiễn dạy học Lịch sử nhằm phát huy tính tích cực của học sinh. Trình bày các hình thức dạy học, kiểm tra đánh giá bộ môn lịch sử ở trường THCS, những kỹ năng soạn giáo án trong đó có giáo án điện tử; xác định những yêu cầu, cách tiến hành công tác ngoại khóa bộ môn lịch sử ở trường THCS. Trên cơ sở đó, sinh viên có thể đáp ứng yêu cầu dạy học ở trường THCS. 2.2. Vận dụng Dạy học theo dự án trong học phần Phương pháp dạy học Lịch sử Cụ thể, sau khi trình bày lý thuyết về phương pháp dạy học dự án, GV tổ chức hoạt động nhóm, yêu cầu các nhóm từ nội dung GV yêu cầu chuẩn bị trước: + Nhóm 1: tài liệu, trong đó có ít nhất 1 video về nội dung dạy học lịch sử ở trường THCS hiện nay kèm nhận xét. + Nhóm 2: tài liệu, trong đó có ít nhất 1 video về phương pháp dạy học lịch sử ở trường THCS hiện nay kèm nhận xét. + Nhóm 3: tài liệu, trong đó có ít nhất 1 bài kiểm tra lịch sử ở trường THCS hiện nay kèm phân tích, nhận xét. Nhóm 1 đã trình bày: Video thứ nhất về trận đại phá quân Thanh của quân Tây Sơn do Quang Trung-Nguyễn Huệ lãnh đạo vào thế kỷ XVIII, đây là một kiến thức quan trọng đã được nhắc đến trong sách giáo khoa từ cấp 1 đến cấp 3. Tuy nhiên, khi được phóng viên hỏi thì nhiều học sinh không biết Quang Trung – Nguyễn Huệ là một, cũng không biết các di tích lịch sử gắn với nhân vật này. Video thứ hai, một học sinh chia sẻ: kiến thức lịch sử trong sách giáo khoa quá nặng nề, dàn trải, thiếu hình ảnh. Trong khi đó môn học Lịch sử chỉ được coi là môn học phụ. Vì vậy, cần liên hệ thực tế, lồng ghép dạy lịch sử với kiến thức sống. Trong nội dung dạy học lịch sử ở THCS, các kiến thức lịch sử được trình bày khoa học, hệ thống, có kênh hình ở mỗi bài, thông tin đa dạng từ các nguồn tài liệu lịch sử, văn học, địa lý. Tuy nhiên, nội dung kiến thức dàn trải, nhiều sự kiện, học sinh khó nhớ. GS.TS.NGND Vũ Dương Ninh đã nhận xét: “Cái chúng ta đang dạy cho học sinh phổ thông quá nặng nề, tham lam. Thay vì nhồi thật nhiều, nên chọn lọc một số sự kiện gây được hứng thú với các em, trong đó có việc bảo vệ Tổ quốc và những kinh nghiệm sống trong quá khứ”. Nội dung dạy học Lịch sử ở trường THCS vẫn còn thiên về các cuộc kháng chiến, khởi nghĩa, đấu tranh quân sự, chính trị và không gây ấn tượng sâu sắc trong học sinh do thiếu liên hệ thực tế. Kênh hình còn ít, chưa hấp dẫn. Chủ đề của dự án là: Đổi mới trong nội dung dạy học Lịch sử ở trường THCS, tạo hứng thú cho người học. Mục tiêu của dự án: giúp sinh viên biết kết hợp kiến thức địa lí, văn học, nghệ thuật, giáo dục công dân kết hợp với sử dụng đồ dùng trực quan và câu chuyện lịch sử vào nội dung dạy học lịch sử ở trường THCS. Dự kiến sản phẩm của dự án là một giáo án dạy học một bài trong sách giáo khoa Lịch sử THCS với nội dung được chọn lọc những sự kiện cơ bản, có tích hợp liên môn, liên hệ thực tế với đồ dùng trực quan sinh động, tạo hứng thú cho người học, đáp ứng các mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, thái độ và năng lực. Nhóm 2 đã trình bày: Trong video về đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường THCS, học sinh được đóng vai, chủ động tìm hiểu kiến thức từ nhiều nguồn, được trình bày chính kiến của bản thân. Nhờ vậy, học sinh yêu thích môn Lịch sử. Giáo viên chia sẻ, việc làm tốt vai trò định hướng của giáo viên, tổ chức nhiều hoạt động giúp việc dạy học lịch sử đạt hiệu quả. Có thể thấy, phần lớn GV Lịch sử ở trường phổ thông là những người yêu nghề, nhận thức được tầm quan trọng của dạy học theo hướng phát huy tính tích cực, độc lập nhận thức của học sinh. Do vậy, họ biết vận dụng sáng tạo, linh hoạt các hình thức tổ chức, phương pháp, phương tiện dạy học. Các trường phổ thông tổ chức nhiều hoạt động chuyên môn, sinh hoạt chuyên đề, hội giảng, thi GV dạy giỏi, viết sáng kiến kinh nghiệm, thi HS giỏi… Những hoạt động chuyên môn đó đã góp phần tác động tích cực đến hoạt động dạy học trong môn học. Tuy nhiên, những biểu hiện tích cực trên chưa được diễn ra thường xuyên mà chỉ tập trung ở một số trường chuyên, hay chỉ tập trung vào các kỳ thi, hội thi giảng hoặc các đợt kiểm tra, thanh tra các cấp chứ chưa thực sự chuyển biến trong từng ý thức của GV và cán bộ quản lý giáo dục [5, tr.5]. Chủ đề của dự án là: Đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử ở trường THCS. Mục tiêu của dự án: tổ chức cho học sinh THCS tham gia vào quá trình dạy học, tăng cường tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các em. Dự kiến sản phẩm của dự án do các em học sinh thực hiện là một video clip về chiến thắng Bạch Đằng và một tiểu phẩm về cuộc trò chuyện giữa Nguyễn Tất Thành và Tư Lê. Nhóm 3 đã trình bày: Từ hai bài kiểm tra 1 tiết, kiểm tra học kỳ của 1 em học sinh THCS, nhóm phân tích và thấy được: về nội dung kiểm tra, chủ yếu là kiểm tra kiến thức, rất ít kiểm tra kỹ năng thực hành và không có phần kiểm tra thái độ; về độ khó của các câu hỏi: chủ yếu là câu hỏi biết và vận dụng, câu hỏi hiểu chiếm số lượng ít. Việc đánh giá như vậy chưa phát huy được năng lực của người học. Thực tế hiện nay cho thấy, kiểm tra đánh giá trong môn Lịch sử được quan tâm đổi mới cùng với nỗ lực đổi mới phương pháp dạy học. Các cuộc thi học sinh giỏi môn Lịch sử (cấp thành phố và quốc gia) được tổ chức hàng năm và việc Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam trao giải cho các học sinh xuất sắc là những nỗ lực nhằm động viên, khuyến khích niềm yêu thích của thế hệ trẻ với môn Lịch sử. Tuy nhiên, các bài kiểm tra, các kì thi ở trường phổ thông còn nặng về điểm số, dạy học theo những nội dung thi, yêu cầu học sinh nhớ máy móc sự kiện, thời gian [4, tr.9]; những quy định cứng nhắc của các nhà trường khiến GV chưa biết cách vận dụng linh hoạt các hình thức kiểm tra, một số GV chưa coi trọng đánh giá và chưa coi đây là kênh phản hồi tích cực để điều chỉnh các thành tố khác của quá trình dạy học. Vì vậy, cần đổi mới kiểm tra đánh giá trong dạy học lịch sử ở trường THCS. Chủ đề của dự án là: Đổi mới cách kiểm tra, đánh giá Lịch sử theo định hướng phát triển năng lực người học. Mục tiêu của dự án: giúp sinh viên soạn câu hỏi theo mức độ tư duy và nội dung phù hợp, nhằm phát triển năng lực của học sinh. Dự kiến sản phẩm của dự án là một bài kiểm tra lịch sử ở trường THCS với nội dung kiểm tra bao gồm kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng lực và các mức độ tư duy: biết, hiểu, vận dụng thấp, vận dụng cao. 3. Một số lưu ý khi áp dụng dạy học theo dự án 3.1. Những điều cần làm để áp dụng phương pháp dạy học theo dự án tốt hơn – Đưa ra các vấn đề thực tế: Các vấn đề thực tế đang diễn ra có nhiều khả năng thu hút được sự quan tâm của sinh viên. Hãy để sinh viên được học thực sự bằng cách khuyến khích sinh viên sử dụng chính các công cụ và kỹ thuật mà các chuyên gia sử dụng để tiến hành điều tra và giải quyết các vấn đề trong thực tế đời sống. – Có thời gian để cải thiện dự án: Mặc dù dự án có thời điểm bắt đầu và kết thúc rõ ràng nhưng cũng có thể có những ngoại lệ. Giảng viên nên dành thời gian cho sinh viên khi mà các em vẫn còn những băn khoăn, xáo trộn về dự án của mình thông qua việc nhận thông tin phản hồi và đồng ý sửa đổi đề tài dự án. Hãy chắc chắn rằng sinh viên biết cách làm thế nào để đưa ra và nhận được phản hồi quan trọng từ giảng viên, khuyến khích sinh viên học hỏi từ những thất bại và quay lại với dự án của mình theo một con đường khác thích hợp hơn. – Tập trung vào các nhóm: Việc hợp tác đang ngày càng quan trọng cả ở trong và ngoài lớp học. Chính vì vậy, cần khuyến khích làm việc nhóm thực sự trong quá trình thực hiện dự án. Sinh viên cần hiểu làm việc nhóm có trách nhiệm quan trọng như thế nào và tại sao một nhóm tốt là phải khai thác được tài năng của tất cả các thành viên trong nhóm. Lấy các ví dụ từ thực tế để giúp sinh viên thấy làm việc nhóm hiệu quả sẽ có kết quả cao hơn cá nhân làm việc độc lập. – Chia sẻ kết quả: Sinh viên sẽ thấy hào hứng hơn khi các em biết công việc của mình sẽ hướng tới một đối tượng thực tế. Để sinh viên thuyết trình bảo vệ kết quả dự án sẽ giúp phát triển sự tự tin và bản lĩnh của các em. Triển lãm dự án cũng giúp các bậc phụ huynh và các thành viên khác trong cộng đồng có cơ hội nhìn nhận những gì mà sinh viên đang thực hiện thông qua PBL. 3.2. Những điểm cần tránh trong PBL – Không nên để việc thực hiện dự án sau khi học: Dự án là trọng tâm của chương trình giảng dạy chứ không chỉ là một hoạt động thú vị sau khi quá trình học kết thúc. – Đừng ngại hỏi ý kiến đồng nghiệp, chuyên gia: Hãy hỏi để nhận được phản hồi về ý tưởng dự án từ những người đồng nghiệp đang dạy các cấp lớp hoặc các môn khác nhau. Việc hỏi ý kiến các chuyên gia để có được lời khuyên sẽ giúp dự án của bạn mang tính thực tế cao hơn. – Đừng bỏ hẳn các hoạt động dạy và học hiệu quả trong phương pháp truyền thống khi chuyển sang PBL: Thay vì giảng bài cho cả lớp, bạn có thể giảng những “bài giảng ngắn” qua các câu hỏi với từng nhóm sinh viên. Thay vì lên kế hoạch cho các hoạt động độc lập như các chuyến đi thực tế hay các buổi mời các diễn giả về nói chuyện, bạn có thể kết nối những sự kiện này trong quá trình nghiên cứu dự án. Hãy suy nghĩ về những cách bạn có thể kiểm tra được sự tiến bộ của sinh viên và sử dụng những cách này để đánh giá quá trình thực hiện dự án của sinh viên. – Đừng quên tự đánh giá: Tự đánh giá là hoạt động quan trọng với sinh viên cũng như giáo viên trong PBL, nên khuyến khích sự tự đánh giá của sinh viên trong suốt dự án. Hãy thử xen kẽ đánh giá bằng văn bản với các đoạn hội thoại ngắn mà sinh viên kể về quá trình thực hiện và những thử thách mà các em trải qua. Cuối dự án, hãy dành thời gian phỏng vấn sinh viên sau khi thuyết trình, đưa ra những phản hồi để khuyến khích sinh viên đặt mục tiêu cao cho các dự án tiếp theo. Bản thân giáo viên cũng có lợi khi tự đánh giá về quá trình PBL của mình. Liệt kê những điều bạn đã làm tốt và những khó khăn (với bạn hoặc sinh viên của bạn), và làm thế nào bạn có thể nâng cao chất lượng các dự án tiếp theo. Hơn thế, bạn có thể chia sẻ phần đánh giá này với đồng nghiệp. Điều này sẽ nâng cao hiểu biết của bạn về PBL hơn [3]. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Lăng Bình, Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học, NXB Đại học Sư phạm, 2010. 2. Dạy học theo dự án, https://dayhoctheoduan.wikispaces.com/D%E1%BA%A1y+h%E1%BB%8Dc+theo+d%E1%BB%B1+%C3%A1n, truy cập ngày 1/3/2018. 3. Nguyễn Thị Thắm (theo Blogs Eduweek), Áp dụng project-based learning hiệu quả – Những điều nên và không nên, https://caodang.fpt.edu.vn/blog/nhung-dieu-nen-va-khong-nen-lam-de-ap-dung-phuong-phap-project-learning-hieu-qua-hon.html, truy cập ngày 26/1/2018. 4. Nguyễn Chí Thuận, Áp dụng công nghệ dạy học dự án vào bài giảng lịch sử, Sáng kiến kinh nghiệm, 2009. 5. Hoàng Thanh Tú, Những định hướng và thực tiễn dạy học Lịch sử ở Việt Nam, http://repository.vnu.edu.vn/bitstream/VNU_123/13172/1/51.pdf, truy cập ngày 25/2/2018. 6. Markham, T. (2011), Project Based Learning, Teacher Librarian, 39 (2), 38-42.

Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án Là Gì? Áp Dụng Như Nào? / 2023

Phương pháp dạy học theo dự án là mô hình học tập mới giúp phát triển kiến thức cùng các kỹ năng bản thân của học sinh thông qua những nhiệm vụ. Nó khuyến khích việc học sinh tự tìm tòi và trau dồi kiến thức cũng như hiện thực hóa kiến thức trong quá trình tạo ra sản phẩm do chính mình làm.

I. Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án Là Gì?

Phương pháp dạy học theo dự án đang được nhiều trường áp dụng, đặc biệt các trường quốc tế, trường chất lượng cao. Với ưu điểm là giúp học sinh tự ý thức cũng như phát triển được kiến thức cùng các kỹ năng bản thân thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ. Vậy, phương pháp này là gì, việc áp dụng nó như thế nào chúng tôi sẽ giúp bạn hiểu rõ nhất thông qua bài viết này.

Phương pháp dạy học theo dự án là một hình thức dạy học mà học sinh được học dưới sự điều khiển và giúp đỡ của các giáo viên, nhưng phải tự giải quyết nhiệm vụ học của mình, nó đòi hỏi sự kết hợp cả về mặt lý thuyết và thực hành. Thông qua quá trình nó sẽ tạo ra những sản phẩm học tập.

Có thể nói, dạy học theo dự án là một mô hình học tập hiện đại mà học sinh được làm trung tâm của buổi học. Các giáo viên sẽ hướng dẫn thực hiện nhằm giúp phát triển kiến thức cùng các kỹ năng của các em thông qua các nhiệm vụ học tập. Các học sinh được khuyến khích tìm tòi và thực hành kiến thức được học để tạo ra các sản phẩm của chính mình. Đây là một chương trình học xây dựng dựa trên những câu hỏi quan trọng và được lồng ghép các nội dung chuẩn.

a) Phân loại theo thời gian thực hiện dự án

Việc phân loại theo quỹ thời gian sẽ chia phương pháp dạy học theo dự án ở mầm non làm 3 mức: dự án nhỏ, dự án trung bình và dự án lớn. Mỗi dự án lại có thời lượng khác nhau.

– Dự án nhỏ: Với dự án nhỏ này sẽ được thực hiện trong 2 đến 6 giờ và lồng ghép trong một sống giờ học.

– Dự án trung bình: Nó còn được gọi là ngày dự án khi được thực hiện vài ngày. Với giới hạn thời lượng trong 40 giờ học hoặc 1 tuần.

– Dự án lớn: Với thời gian thực hiện có lượng thời gian nhiều, kéo dài trong nhiều tuần.

b) Phân loại dự án theo nhiệm vụ

– Dự án nghiên cứu: Các dự án nghiên cứu sẽ nhằm giải thích các hiện tượng trong cuộc sống, các quá trình diễn ra sự việc.

– Dự án tìm hiểu: Nhằm khảo sát các đối tượng cụ thể.

– Dự án kiến tạo: Đó là dự án thực hiện các hành động thực tiễn hoặc tập trung vào tạo ra các sản phẩm vật chất như trang trí, sáng tác, biểu diễn, trưng bày …

c)Phân loại theo mức độ của nội dung học

Ở phần phân loại theo mức độ nội dung học sẽ được chia làm 2 dạng dự án là dự án mang tính thực hành và dự án mang tính tích hợp.

3. Đặc điểm của phương pháp dạy học theo dự án

Phương pháp dạy học theo dự án có nhiều đặc điểm riêng và rất rõ ràng để phân biệt với các phương pháp khác. Đồng thời các đặc điểm này cũng rất phù hợp và tạo nên sự tích cực cho các học sinh.

II. Áp Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án

Việc áp dụng phương pháp dạy học theo dự án cần thực hiện theo các bước chi tiết, mỗi bước sẽ có nhiệm vụ của giáo viên, nhiệm vụ của học sinh.

– Xây dựng ý tưởng buổi học, ý tưởng kiến thức

– Xây dựng nhiệm vụ học tập.

Hoạt động của giáo viên ở bước chuẩn bị:

– Chuẩn bị các dụng cụ, tài liệu để thực hiện dự án

– Lên các nhiệm vụ cho học sinh, cách thức tiến hành của học sinh để giải quyết được vấn đề.

– Xây dựng dự án nhằm xác định ai cần học, ý tưởng ra sao.

Hoạt động của các học sinh

– Học sinh phải cùng giáo viên thống nhất các tiêu chí để đánh giá.

– Học sinh phải làm việc nhóm để hoàn thành dự án

– Dự kiến các vật liệu, phương pháp hay kinh phí thực hiện công việc.

Hoạt động của các giáo viên

– Hướng dẫn và luôn theo sát việc thực hiện của các học sinh, đánh giá kết quả thực hiện.

– Chuẩn bị các điều kiện, vật dụng cho các em thực hiện dự án.

– Tạo và chuẩn bị cơ sở, liên hệ khách mời cho học sinh nếu cần.

Hoạt động của học sinh trong phương pháp dạy học theo dự án

– Các trưởng nhóm có nhiệm vụ phân công công việc cho các thành viên để hoàn thành dự án

– Thu thập và xử lý các thông tin nhằm đem lại kết quả.

– Tìm nguồn thông tin, nhờ giúp đỡ từ giáo viên

– Lập báo cáo và hoàn thiện sản phẩm báo cáo.

– Liên tục báo cáo cho giáo viên tình hình để có phương án thay thế nếu cần.

Học sinh và giáo viên chuẩn bị các tài liệu, sản phẩm, điều kiện cho buổi báo cáo. Theo dõi lại quá trình thực hiện sản phẩm của học sinh với giáo viên. Các học sinh cần tiến hành giới thiệu, thuyết trình cho sản phẩm của mình. Đánh giá các sản phẩm của các nhóm khác.

Bình Luận Facebook

.

Dạy Học Theo Dự Án / 2023

Thứ hai – 16/01/2017 04:06

1. Mô tả Dạy học theo dự án (DHDA) là một hình thức dạy học, trong đó người học thực hiện một nhiệm vụ học tập phức hợp, có sự kết hợp giữa lý thuyết và thực hành, có tạo ra các sản phẩm có thể giới thiệu. Nhiệm vụ này được người học thực hiện với tính tự lực cao trong toàn bộ quá trình học tập, từ việc xác định mục đích, lập kế họach, đến việc thực hiện dự án, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá quá trình và kết quả thực hiện. Làm việc nhóm là hình thức cơ bản của DHDA.

2. Đặc trưng cơ bản của dạy học dự án · Người học là trung tâm của quá trình dạy học · Dự án tập trung vào những mục tiêu học tập quan trọng gắn với các chuẩn · Dự án được định hướng theo bộ câu hỏi khung chương trình · Dự án đòi hỏi các hình thức đánh giá đa dạng và thường xuyên · Dự án có tính liên hệ với thực tế. · Người học thể hiện sự hiểu biết của mình thông qua sản phẩm và quá trình thực hiện · Công nghệ hiện đại hỗ trợ và thúc đẩy việc học của người học · Kĩ năng tư duy là yếu tố không thể thiếu trong phương pháp dạy học dự án

3. Bộ câu hỏi định hướng Bộ câu hỏi định hướng giúp học sinh kết nối những khái niệm cơ bản trong cùng một môn học hoặc giữa các môn học với nhau. Các câu hỏi này tạo điều kiện để định hướng việc học tập của học sinh thông qua các vấn đề kích thích tư duy. Các câu hỏi định hướng giúp gắn các mục tiêu của dự án với các mục tiêu học tập và chuẩn của chương trìnhBộ câu hỏi định hướng bao gồm:

Câu hỏi khái quát. Câu hỏi khái quát là những câu hỏi mở, có phạm vi rộng, kích thích sự khám phá, nhắm đến những khái niệm lớn và lâu dài, đòi hỏi các kỹ năng tư duy bậc cao và thường có tính chất liên môn.

Câu hỏi bài học. Câu hỏi bài học là những câu hỏi mở có liên hệ trực tiếp với dự án hoặc bài học cụ thể, đòi hỏi các kỹ năng tư duy bậc cao, giúp học sinh tự xây dựng câu trả lời và hiểu biết của bản thân từ thông tin mà chính các em thu thập được

5. Các loại sản phẩm và thực hiện nhiệm vụ Thành quả học tập bao gồm cả thành quả có thể đo lường (lượng hóa) và thành quả khó có thể đo lường (khó lượng hóa).

7. Đánh giá dự án Đánh giá dự án không chỉ đơn thuần là đánh giá sản phẩm của dự án mà còn phải đánh giá mức độ hiểu, khả năng nhận thức và kĩ năng của học sinh đồng thời theo dõi sự tiến bộ ở các em. Một số công cụ đánh giá:

Bài kiểm tra viết và kiếm tra nói. Các bài kiểm tra có thể đưa ra được chứng cứ trực tiếp về khả năng tiếp thu kiến thức và hiểu kiến thức của học sinh.

Sổ ghi chép. Sổ ghi chép là những phản ảnh về việc học và những hồi đáp với những gợi ý ở dạng viết. Ngoài những phản hồi, các gợi ý giúp thể hiện rõ các kỹ năng tư duy cụ thể ở những phần quan trọng của dự án.

Phỏng vấn và quan sát dựa trên kế hoạch đã chuẩn bị. Các cuộc phỏng vấn miệng chính thức, được lên lịch với các thành viên trong nhóm để thăm dò sự hiểu bài của học sinh. Thể thức câu hỏi phỏng vấn là yêu cầu học sinh giải thích và đưa ra lý do về cách hiểu vấn đề. Các quan sát cũng được tiến hành tương tự nhưng dùng cho việc đánh giá kỹ năng, tiến trình và sự thể hiện năng lực và cũng có thể được thực hiện bởi học sinh.

Sự thể hiện – là những bài trình bày, các sản phẩm và các sự kiện mà học sinh thiết kế và thực hiện để thể hiện quá trình học tập của các em.

Kế hoạch dự án. Kế hoạch dự án giúp học sinh tự chủ trong học tập. Học sinh xác định mục tiêu, thiết kế chiến lược để đạt mục tiêu, đặt thời gian biểu và xác định các tiêu chí để đánh giá.

Phản hồi qua bạn học. Phản hồi của bạn học giúp cho học sinh tiếp thu được đặc điểm về chất lượng học tập qua đánh giá việc học của bạn học.

Quan sát các nhóm làm việc để hỗ trợ đánh giá kỹ năng cộng tác.

Các sản phẩm. Sản phẩm là những gì học sinh sáng tạo ra hoặc xây dựng nên thể hiện việc học tập của các em.

Sản phẩm và sự thể hiện năng lực

Báo cáo

Nghiên cứu lịch sử, nghiên cứu khoa học, bài báo để đăng tạp chí, các đề nghị về chính sách.

Thiết kế

Thiết kế các sản phẩm, trang trí nội thất, lên kế hoạch xây dựng hoặc trang trí trường học, các phương án giao thông.

Xây dựng

Các mẫu thiết kế, máy móc, triển lãm, tranh ảnh trang trí.

Các bài viết

Sản phẩm nghệ thuật

Làm đồ gốm, điêu khắc, làm thơ, đồ mỹ nghệ, tranh áp phích, hoạt hình, tranh tường (bích hoạ), nghệ thuật cắt dán ảnh, vẽ tranh, viết bài hát, viết lời thoại phim.

Đa phương tiện: quầy thông tin, đoạn phim, báo ảnh, slide show, sách điện tử…

Bài trình bày

Thể hiện kỹ năng

Các qui trình tại phòng thí nghiệm khoa học, hướng dẫn, kỹ năng thể thao, dạy hoặc cố vấn cho học sinh lớp dưới, những nhiệm vụ theo yêu cầu.

Tính nghệ thuật/ sáng tạo trình diễn

Múa nghệ thuật, đóng kịch, thơ hoặc kịch ngắn trào phúng, nghiên cứu tính cách, kịch dựa trên sự kiện có thật, nhà hát, kịch trên radio.

Mô phỏng

Phiên toà, sự kiện lịch sử, đóng vai.

Các công cụ đánh giá này phải được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện dự án, tại các thời điểm quan trọng hay vào giai đoạn cuối của dự án.Những kĩ thuật đánh giá trên cung cấp thông tin có giá trị cho cả giáo viên và học sinh. Mỗi kĩ thuật đưa ra những phương pháp và công cụ đồng nhất. Điều then chốt là phải hiểu được các mục đích khác nhau của chúng, chúng được thiết kế như thế nào, và cuối cùng, xử lí kết quả thu được ra sao.

8. Ưu nhược điểm của dạy học dự án a. Ưu điểm:Các đặc điểm của DHDA đã thể hiện những ưu điểm của phương pháp dạy học này. Có thể tóm tắt những ưu điểm cơ bản sau đây của dạy học theo dự án: · Gắn lý thuyết với thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội; · Kích thích động cơ, hứng thú học tập của người học; · Phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm; · Phát triển khả năng sáng tạo; · Rèn luyện năng lực giải quyết những vấn đề phức hợp; · Rèn luyện tính bền bỉ, kiên nhẫn; · Rèn luyện năng lực cộng tác làm việc; · Phát triển năng lực đánh giá.b. Nhược điểm: · DHDA không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tính trừu tượng, hệ thống cũng như rèn luyện hệ thống kỹ năng cơ bản; · DHTDA đòi hỏi nhiều thời gian. Vì vậy DHDA không thay thế cho PP thuyết trình và luyện tập, mà là hình thức dạy học bổ sung cần thiết cho các PPDH truyền thống. · DHTDA đòi hỏi phương tiện vật chất và tài chính phù hợp.

Tác giả bài viết: Phạm Ngọc Tú

Những tin mới hơn Những tin cũ hơn

Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác

Usinxki

02:23 02/12/2020 – Lê Trung

05:29 19/10/2020 – Honhha Vo

21:28 06/08/2020 – Hà Đức Toàn

04:02 25/06/2020 – Phạm Ngọc Tú

04:47 16/06/2020 – Phạm Ngọc Tú

Bạn đang đọc nội dung bài viết Ulis Repository: Sử Dụng Phương Pháp Dạy Học Theo Dự Án (Project / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!