Đề Xuất 1/2023 # Vài So Sánh Giữa Triết Học Phương Đông Và Triết Học Phương Tây # Top 5 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 1/2023 # Vài So Sánh Giữa Triết Học Phương Đông Và Triết Học Phương Tây # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Vài So Sánh Giữa Triết Học Phương Đông Và Triết Học Phương Tây mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Thứ tư – 09/07/2008 07:26

Sao giờ lắm sách cổ học như kinh dịch, nho lão, tôn tử, đạo lão… thế nhỉ? Liệu hoài cổ quá có hay lắm không? Luận sâu sắc về lời Hegel – Mác dạy có khi còn ít hơn cả luận Kinh Dịch, Mạnh Tử, Tôn Tử ấy…

Bài này mong các bạn chia sẻ vài điểm khác biệt về triết học, triết lý Đông – Tây, từ đó quyết định xem cân đối kiến thức sao cho hợp lý, hiệu quả cho cuộc sống.

 - Thứ nhất, ta sẽ phân biệt đâu là Đông, đâu là Tây.

 - Thứ hai, ta so sánh bối cảnh xã hội ra đời, pt triết học phương Đông, phương Tây

 - Thứ ba, ta so sánh đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây

 - Thứ tư, ta so sánh phương pháp nhận thứ của 2 nền triết học đó

 - Thứ năm, những nhận xét về vận dụng hai dòng kiến thức đó sao cho hợp lý

 Phương Đông: Để chỉ các nước châu Á các nên văn minh trên ba lưu vực sông lớn: sông Nin, sông Hằng, sông Hoàng Hà, chủ yếu là Ai Cập, ả rập, ấn độ và Trung Hoa. Hầu hết các nền tôn giáo lớn của thế giới đều xuất hiện ở đây.

 Phương Tây: Phương Tây chủ yếu là các nước Tây âu như Anh, Pháp, Đức, Ý, Áo, Tây Ban Nha… Ngày nay chúng ta gộp cả Mỹ vào.

 Đặc điểm hai loại hình cơ sở xã hội Đông – Tây là tĩnh, ổn định đối nghịch với động, biến động nhanh. Triết học lỏng lẻo, mềm dẻo của Đông đối lại là triết học chặt chẽ, thống nhất thành hệ thống của Tây. Triết học phương Tây đi từ gốc lên ngọn (từ thế giới quan, vũ trụ quan, bản thể luận… từ đó xây dựng nhân sinh quan con người;) trong khi triết học phương Đông đi từ ngọn xuống gốc (từ nhân sinh quan, vấn đề cách sống, lối sống sau đó mới là vũ trụ quan, bản thể luận…). Đó là 2 nét chính của hai nền triết học Đông – Tây.

 Nếu như ở phương Tây, triết học được xây dựng bởi chủ yếu là các nhà khoa học, gắn liền với các thành tựu khoa học, đặc biệt là khoa học tự nhiên thì ở phương Đông, triết học gắn với những hiền triết – nhà tôn giáo, nhà giáo dục đạo đức, chính trị-xã hội.

 Vậy nên đặc điểm chủ đạo là các nhà Triết học phương Tây thiên về giải thích thế giới theo nhiều cách còn mục đích chính của phương Đông là cải tạo thế giới gồm có: ổn định xã hội, giải thoát cho con người và làm sao cho con người hoà đồng với thiên nhiên.

 Nguồn gốc là do ở phương Đông, thượng tầng kiến trúc ra đời trước và thúc đẩy dự phát triển của hạ tầng cơ sở, còn ở phương Tây hạ tầng cơ sở quyết định đến thượng tầng kiến trúc.

 Về đối tượng nghiên cứu của triết học Đông, Tây

 Đối tượng của triết học phương Tây rất rộng gồm toàn bộ tự nhiên, xã hội, tư duy mà gốc là tự nhiên. Nó ngả theo hướng lấy ngoại (ngoài con người) để giải thích trong (con người), nói chung xu hướng nổi trội là duy vật.

 Trong khi đó phương Đông lấy xã hội, cá nhân làm gốc là tâm điểm để nhìn xung quanh. Do đó đối tượng của triết học phương Đông chủ yếu là xã hội, chính trị, đạo đức, tâm linh và do vậy xu hướng là hướng nội, lấy trong để giải thích ngoài. Đa số trường phái thiên về duy tâm.

 Về phương pháp nhận thức của 2 nền triết học đó

 Triết học phương Tây ngả về tư duy duy lý, phân tích mổ xẻ còn phương Đông thì ngả về dùng trực giác.

 Cái mạnh của phương Tây là cho khoa học, kỹ thuật và về sau là công nghệ phát triển… và nhận thức luôn hướng đến nhận thức cái chân lý vô hạn cùng. Phương Tây đi gần mãi đến chân lý qua hàng loạt những trừu tượng, khái niệm, quy luật… của toàm thể vũ trụ, liên tiếp đi từ cấp độ bản chất thấp đến mức độ bản chất cao hơn… cũng do vậy họ có xu hướng cô lập hoá , cách ly hoá, làm mất đi tính tổng thể.

 Triết học phương Đông ngược lại thường dùng trực giác, tức là đi thẳng đến sự hiểu biết, vào cái sâu thẳm bản chất của sự vật, hiện tượng. Trực giác giữ được cái tổng thể mà tư duy phân tích, mổ xẻ đạt đến. Nhưng nó có tiềm tàng nhược điểm là không phổ biến rộng được. Trực giác mỗi người mỗi khác. Và không phải lúc nào trực giác cũng đúng. Thực ra 2 biện pháp kết hợp lẫn nhau, nhưng ở đây nói về thiên hướng.

 Triết học phương Tây có xu hướng tách chủ thể với khách thể để nhận thức cho khách quan còn triết học phương Đông lại cho rằng người nhận thức và đối tượng nhận thức cùng hoà hợp vào nhau (đặt cùng trong 1 hệ quy chiếu.) thì nhận thức sẽ dễ dàng.

 Phương tiện nhận thức của triết học phương Tây là khái niệm, mệnh đề, biểu thức lôgíc để đối tượng mô tả rõ ràng, thống nhất hơn thì trong triết học phương Đông lại là ẩn dụ, liên tưởng, hình ảnh, ngụ ngôn… để không bị lưới giả về nghĩa do khái niệm che phủ. Nhưng điểm yếu của triết học phương Đông chính là sự đa nghĩa, nhập nhằng khác biệt khi qua các phân tích khác nhau.

 Triết học phương Đông biến đổi tuần tự thay đổi dần về lượng, dù thay đổi bao nhiêu vẫn giữa lấy phần gốc phần lõi làm nền, không rời xa gốc đã có.

 Triết học phương Tây thay đổi theo hướng nhảy vọt về chất, nên càng tiến hoá càng phong phú hơn, xa rời gốc ban đầu. Thậm chí có xu hướng cái sau phủ định hoàn toàn cái ở giai đoạn trước.

 Trong phép biện chứng giải thích quy luật của sự vận động – phát triển cũng có nét khác biệt. Phương Đông nghiêng về thống nhất hay vận động vòng tròn, tuần hoàn. Phương tây nghiêng về sự đấu tranh và vận động, phát triển theo hướng đi lên.

 Một nét nữa của triết học Tây – Đông là theo thống kê thì triết học phương Tây thiện về hướng ngoại, chủ động, tư duy lý luận, đấu tranh sống còn, hiếu chiến, cạnh tranh, bành trướng, cá thể, phân tích, tri thức suy luận, khoa học, tư duy cơ giới, chú ý nhiều đến thực thể…

 Khuynh hướng nổi trội của phương Đông lại là hướng nội, bị động, trực giác huyền bí, hoà hợp, quân bình chủ nghĩa, thống nhất, hợp tác, giữ gìn, tập thể, tổng hợp, minh triết, tôn giáo, tâm lý, tâm linh, tư duy hữu cơ, chú ý nhiều tới quan hệ…

Đông (Á)

Tây (Âu)

Tinh thần – Đời người – Tĩnh lặng cảm nhận các mối quan hệ

Vật chất – Máy móc – Mạnh mẽ, quyết liệt, Sức động, quan tâm thực thể độc lập

Thiên về tôn giáo, mỹ thuật, nghệ thuật

Thiên về khoa học công nghệ

Sử dụng tình cảm, quan tâm đạo đức — Con người, đạo học

Sử dụng trí tuệ, tư tưởng, quan tâm sự vật/hiện tượng — Vũ trụ, học thuyết

Dùng trực giác, tổng thể vẫn loanh quanh những lối cũ, bề ngòai

Dùng lý trí, mất dần tổng thể, ngày càng phong phú, cụ thể

Quan tâm phần ngọn: nhân sinh quan, cách sống, lối sống

Quan tâm phần gốc: thế giới quan, bản thể luận, nhận thức luận

Ảnh hưởng tới: kinh nghiệm/hoàn thiện cá nhân, ổn định xã hội

Ảnh hưởng tới: giải thích/lý luận về thế giới, thực hành kỹ nghệ, tự do cá nhân, cách mạng xã hội

So Sánh Sự Khác Nhau Giữa Triết Học Phương Đông Và Triết Học Phương Tây Thời Cổ Đại (2)

TRẦN THU HẰNG

0

MỤC LỤC LỜI CẢM ƠN:……………………………………………………………………..1 MỞ ĐẦU:……………………………………………………………………………2 NỘI DUNG:…………………………………………………………………………………………………5 Chương 1: Khái quát chung về triết học phương Đông và phương Tây……….5 Chương 2: Những điểm khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Đông và phương Tây thời cổ đại…………………………………………9 2.1 Mối quan hệ giữa con người và vũ trụ……………………………………….9 2.2.Mặt xã hội và mặt sinh học của con người……………………………………11 2.3 Tư tưởng nhận thức luận…………………………………………………. …12 2.4 Cuộc đấu tranh giữa duy tâm và duy vật……………………………………13 2.5 Sự đấu tranh giữa biện chứng và siêu hình………………………………..14 2.6 Các bước phát riển nhảy vọt về chất………………………………………. 14 2.7 Việc được nhìn nhận như một khoa học độc lập……………………………15 2.8 Việc sử dụng hệ thống thuật ngữ ……………………………………………16 KẾT LUẬN:……………………………………………………………………………………………….18 TÀI LIỆU THAM KHẢO:……………………………………………………….20

1

MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Triết học là một hệ thống tri thức lí luận chung nhất của con người về thế giới về bản than con người và vị trí của con người trong thế giới đó. Triết học có một vai trò hết sức to lớn trong xã hội. Trước hết, triết học đặt ra và giải quyết những vấn đề thế giới quan, đó là toàn bộ những quan điểm, quan niệm của con người về thế giới xung qunnh, về bản than con người, về cuộc sống và vị trí của con người trong thế giưói đó. Bên cạnh đó, triết học còn có chức năng phương phps luận, là hệ thống các quan diểm, các nguyên tác chỉ đạo con người, tìm tòi xây dựng, lựa chọn và vận dụng các phương pháp trong nhận thức và thực tiễn. Sau cùng, triế thọc không những có vai trò to lớn đối với khoa học mà còn đối với việc rèn luyện năng lực tư duy của con người. Như Ăng ghen đã từng nói: “Một dân tộc muốn đứng trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lí luận”, và để hoàn thiện năng lực tư duy lí luận thì không có một cách nào khác hơn là nghiêm cứu toàn bộ triết hcọ thời trước. Bước đi đầu tiên của lịch sử triết học thế giới là triết học cổ đại. Những học thuyết triết học đầu tiên trong lịch sử xuất hiện vào thế kỉ thứ XIII – VI trước công nguyên. Ở phương Đông thể hiện rõ nét ở Ấn Độ, Trung Quốc. Ở phương Tây, thể hiện rõ nét ở Hy Lạp và La Mã cổ đại. Nghiên cứu và so sánh sự khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây thời cổ đại sẽ cho ta một cái nhìn khái quát và biện chứng về nhữngđóng góp có giá trị đối với tri thức nhân loại trong buổi đầu hình thành ý thức xã hội. Đồng thời giúo ta thâu tóm tri thức, trí tuệ của mỗi thời đại lịch sử được kết tinh trong triết học.

2

Thông qua những sự khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây thời cổ đại sẽ cho ta một cái nhìn toàn diện, đúng đắn về ý nghĩa, ảnh hưởng, nắm được sợi dây lien hệ giữa quá khứ và hiện tại. Bên cạnh đó, giúp tránh tư tưởng đề cao triết học phương Đông, hạ thấp triết hoc phương Tây thời cổ đại và ngược lại. Xuất phát từ những lí do nêu trên nên em đã chọn đề tài: “So sánh sự khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây thời cổ đại” làm đề tài cho bài tiểu luận của mình. 2. Mục đích nghiên cứu của đề tài: – Làm rõ những đặc điểm của hai nến triết học phương Đông và phương Tây thời cổ đại, từ đó thấy được những nét đặc sắc riêng của mỗi nền triết học, chúng bổ sung cho nhau và đều đóng góp vào sự phát triển của lịch sử nhân loại. – So sánh sự khác nhau giữa hai nền triết học, từ đó có cái nhìn khái quát và biện chứng về những đóng góp có giá trị đối với tri thức nhân loại trong những buổi đầu hình thành ý thức xã hội, giúp chống tư tưởng đề cao nền triết học này, hạ thấp nền triết học kia. 3. Nhiệm vụ nghiên cứu: – Nghiên cứu, phân tích các đặc điểm của triết học phương Đông và triết học phương Tây thời cổ đại. – Tìm ra và so sánh những điểm khác nhau căn bản giữa hai nền triết học ấy.

3

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Đặc điểm của triết học phương Đông và triết học phương Tây thời cổ đại. 5. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát, so sánh dựa trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác – Lênin.

6. Giả thuyết khoa học: Nếu so sánh được sự khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây cổ đại, ta sẽ thấy được mặt tích cực, hạn chế, mối quan hệ giữa triết học phương Đông và phương Tây, đánh giá thoả đáng vị trí của chúng trong lịch sử triết học. Qua đó, hình thành cho ta phương pháp luận và nhận thức đúng đắn khi nghiên cứu về lịch sử triết học.

4

NỘI DUNG CHƯƠNG I: Khái quát chung về triết học phương Đông và phương Tây. Thời xa xưa, con người đã muốn khám phá về thế giới và bản thân mình. Khi khoa học còn chưa phát triển và trí tuệ con người còn hạn chế, công cụ để nhận thức thế giới của họ lúc đầu là huyền thoại và thần thoại, tức là giải tích các hiện tượng tự nhiên bằng các yếu tố thần thoại. Nhưng từ khi xã hội chiếm hữu nô lệ ra đời thay thế xã hội nguyên thủy, sự giải thích thế giới bằng huyền thoại, thần thoại không còn đáp ứng nhu cầu hiểu biết ngày càng cao của con người. Một công cụ nhận thức mới của loài người xuất hiện, đó là triết học. Triết học ra đời vào khoảng thế kỉ VIII – VI trước Công nguyên gắn liền với sự ra đời của các nền văn minh cổ đại như Trung Quốc, Ấn Độ, Hy Lạp. Đó là kết quả của sự tách biệt giữa lao động trí óc và lao động chân tay, cùng với sự phát triển ở trình độ cao (trình độ hệ thống hoá, khái quát hoá, trừu tượng hoá) của tư duy nhân loại. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về triết học. “Triết” theo nghĩa chữ Hán là trí – sự hiểu biết của con người, là truy tìm bản chất của đối tượng trong quá trình nhận thức thế giới. “Triết” theo nghĩa tiếng Ấn Độ là “Darshna”, là sự suy ngẫm con đường đến chân lí, là sự hiểu biết nói chung “Triết học” theo tiếng Hy Lạp là “Philosophya” – sự ham mê hiểu biết cộng với sự thông thái. Như vậy, dù là Trung Quốc, Ấn Độ hay Hy Lạp, dù ở phương Đông hay phương Tây, triết học thời cổ đại đều có nghĩa là sự hiểu biết chung, sự nhận thức chung của con người về thế giới. Do nghiên cứu những qui luật chung nhất của thế giới nên triết học với tư cách là một khoa học đề cập tới nhiều vấn đề. Trong những vấn đề ấy, nổi

5

lên vấn đề cơ bản là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại. Vấn đề cơ bản của triết học có hai mặt. Mặt thứ nhất trả lời câu hỏi giữa tư duy với tồn tại, giữa ý thức với vật chất, giữa tinh thần và tự nhiên thì cái nào có trước cái nào có sau; và cái nào có vai trò quyết định đối với cái nào? Mặt thứ hai trả lời câu hỏi con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không? Trong lịch sử triết học, có rất nhiều quan điểm khác nhau, thậm trí đối lập nhau khi giải quyết vấn đề cơ bản của triết học. Đây chính là tiêu chuẩn để phân biệt lập trường tư tưởng của các nhà triết học, hình thành nên các trường phái triết học khác nhau. Đi sâu giải quyết vấn đề cơ bản của triết học, các nhà triết học phương Đông và phương Tây thời cổ đại có nhiều quan điểm không giống nhau. Điều này đã một phần tạo nên sự khác biệt giữa triết học phương Đông và phương Tây nói chung và thời cổ đại nói riêng. Dù lịch sử triết học là quá trình hình thành, biến đổi, tác động và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các trào lưu, tư tưởng triết học nhưng nó có tính quy luật. Sự hình thành và phát triển triết học có những đặc điểm chung như sau: Thứ nhất, tư tưởng triết học là một hình thái ý thức xã hội được hình thành và phát triển trên cơ sở kinh tế – xã hội trong một giai đoạn lịch sử xã hội nhất định là sự phản ánh của tồn tại xã hội và chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Như vậy, sự phát triển của lịch sử triết học gắn liền với điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, gắn với sự biến đổi, thay thế nhau giữa các chế độ xã hội… Điều này hình thành nên tính giai cấp trong triết học. Từ đó, tạo nên sự khác nhau giữa các trào lưu, tư tưởng triết học, giữa triết học phương Đông và phương Tây. Thứ hai, lịch sử triết học là quá trình thống nhất và đấu tranh của hai trường phái triết học duy vật và duy tâm, hai phương pháp biện chứng và siêu hình.

6

Thứ ba, lịch sử triết học luôn gắn bó chặt chẽ không thể tách rời với các thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội cùng với các thành tựu khoa học tự nhiên và khoa học xã hội cùng sự thâm nhập tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa các trào lưu, tư tưởng triết học cùng sự tác động của các hình thái ý thức xã hội khác như: Tôn giáo, chính trị, nghệ thuật, văn hoá,… Thứ tư, chiến tranh là một tác nhân quan trọng ảnh hưởng đến sự biến đổi của tư tưởng triết học. * Tóm lại: Triết học là một khoa học bao gồm hệ thống tri thức lí luận chung nhất về thế giới của con người và vị trí, vai trò của con người trong thế giới đó. Triết học là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội và chịu sự qui định của tồn tại xã hội. Đồng thời, triết học là một yếu tố của kiến trúc thượng tầng, là sự phản ánh cơ sở hạ tầng, chịu sự qui định của cơ sở hạ tầng. Đây cũng là nét chung của triết học mọi thời đại cũng như triết học phương Đông và triết học phương Tây cổ đại. Tuy nhiên, do điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, văn hoá, bối cảnh lịch sử, khác nhau nên triết học phương Đông và phương Tây cổ đại có những nét đặc thù, riêng biệt, tạo nên thiên hướng riêng của nó. Dựa vào phần khái quát chung làm cơ sở nền tảng, sự khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây thời cổ đại được phân tích cụ thể ở mục tiếp theo.

7

8

CHƯƠNG II: Những điểm khác nhau giữa triết học phương Đông và triết học phương Tây thời cổ đại 2.1. Mối quan hệ giữa con người và vũ trụ Nếu như triết học phương Tây cổ đại tách con người ra khỏi vũ trụ, coi con người là chủ thể còn thế giới quan là khách thể mà con người cần nghiên cứu, chinh phục thì triết học phương Đông thời cổ đại lại nhấn mạnh mặt thống nhất trong mối quan hệ giưũa con người và vũ trụ. Chúng ta có thể lí giải cho sự khác biệt này bởi con người phương Đông sống gần gũi, gắn bó với thiên nhiên, được thiên nhiên ưu đãi, nguồn sống nông nghiệp dồi dào, đã hoà quyện con người với thiên nhiên và với vụ trụ. Chính điều này đã được khái quát thành tư tưởng “thiên nhân hợp nhất”, trong đó con người được xem như là một “tiểu vũ trụ”. Hơn thế các nền vă minh của phương Đông chủ yếu được hình thành ở lưu vực các con song. Nền văn minh Ấn Độ được hình thành trên lưu vực song Ấn và song Hằng, nền văn minh Trung Hoa được xây dựng trên sự hợp lưu của hai song Hoàng Hà và Trường Giang. Do vậy nền văn minh phương Đông chủ yếu dựa trên sự phát triển nông nghiệp của một chế đọ nhà nước quân chủ lập quyền. “Thiên nhiên hợp nhất” là tư tưởng xuyên suốt nhiều trường phái, học thuyết ở Trung Quốc. Đạo gia cho rằng; con người và vũ trụ không ở ngoài nhau mà cùng hoà hợp, lien thong thành một khối. Lão tử nói: “Người phỏng theo đất, đất phỏng theo trời, trời phỏng theo đạo, đạo phỏng theo tự nhiên”. Trời, đất, người liên thong với nhau băng một đạo.

9

Những điều này đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức của từng con người và văn hoá Trung Quốc. Có lẽ vì thế mà khoa học tự nhiên và chủ nghĩa duy vật trong triết học Trung Quốc phát triển không mạnh. “Thiên nhiên hợp nhất” lại được thể hiện theo cách khác ở Ấn Độ. Trong kinh thánh Vêđa, để cắt nghĩa các hiện tượng tự nhiên mà con người kông thể lí giải, người Ấn Độ đã xây dựng hệ thống các vị thần. Thần linh và con người có nhiều mối quan hệ với nhau, có tính cách như nhau, các vị thần cũng mang tính người. Triết học Ấn Độ khẳng định tính hợp nhất của con người và vũ trụ. Vạn vật trong thế giới đồng nhất thể, con người và vũ trụ có chung bản chất. Như vậy, triết học phương Đông lấy con người mà đặc biệt là phương diện tâm linh làm đối tượng chủ yếu để nghiên cứu. Những triết học lớn thời đó đều xoay quanh những vấn đề lien qian tới số phận, đạo đức của con người. Trái lại, triết học phương Tây thời cổ đại lại tách con ngưòi ra khoie vũ trụ, coi con người là chủ thể còn thế giới khách quan là khách thể mà con người cần nghiên cứu, chinh phục. Với tư tưởng quan tâm tới bản nguyên thế giới thì các nhà triết học Hy Lạp cổ đại đã giải thích sự xuất hiện của thế giới khách quan theo nhiều cách khác nhau. Các nhà duy vật giải thích bằng sự xuất hiện của một dạng vật chất cụ thể như: nước, lửa, không khí… Đại diện đầu tiên là Talet, ông cho rằng nước là yếu tố đầu tiên, là bản nguyên của mọi vật trong thế giới. Mọi vật đều sinh ra từ nước và khi phá huỷy, nó cũng trỏ thành nước. Đại diện thứ hai là Amximen, ông cho rằng: không khí và bản chất, là nguồn gốc của mọi sự việc, vì nó giữ vai trò rất quan trọng trong đời sống.

10

Đại diện thứ ba tiếp tục đứng trên quan điểm duy vật là Heraclit, ông đã dựa trên quan điểm của duy vật đẻ giải quyết vấn đề “cơ sở đầu tiên” của thế giới từ một dạng vật chất cụ thể. Nhưng ông cho rằng mọi vật sinh ra từ lửa, là bản nguyên của thế giới. Cũng có quan điểm cho rằng: bản nguyên đầu tiên của thế giới là những phần nhỏ bé, siêu cảm giác, không thấy được qua đất, nước, không khí, lửa; chúng gọi là mầm sống,hạt giống của muôn vật. Tuy rằng, trong triết họcphương Đông như Ấn Độ, Trung Quốc cũng chứa những tue tưởng triết học duy vật sơ khai, chất phác về bản nghuyên của htế giới, nhưng các nhà triết học phương Đông vẫn luôn xem xét sự phát sinh, phát triển của vũ trụ, của thế giới khách quan trong sự gắn kết với con người. Ngược lại, triết học phương Tây lại đặt trọng tâm nghiên cứu vào thế giới, vấn đề con người được bàn tới chỉ nhằm mục đích giải thích thế giới. Do vậy, vấn đề bản thể luận của triết học phương Tây được thể hiện rất đậm nét, trong khi vấn đề bản thể luận của triết học phương Đông lại thể hiện một cách mờ nhạt hơn. 2.2. Mặt xã hội và mặt sinh vật của con người. Trong khi triết học phương Đông chú trọng vào việc giải thích mối quan hệ giữa người với người và đời sống tâm linh của con người, hầu như rất ít quan tâm tới mặt sinh vật. Traid lại, triết học phương Tây cổ đại lại chủ yếu quan tâm tới khía cạnh sinh vật, về nguồn gốc xuất hiện của sinh vật, hầu như ít quan tâm tới mặt xã hội của con người. Những mặt hạn chế của hai nền triết học cổ đại này sau đã được khắc phục bởi triết học Mac-Lênin. `Triết học Trung Quốc cổ đại khi nghiên cứu đã lấy con người làm gốc, lấy triết lí nhân sinh làm nội dung. Theo Khổng Tử, cái mà con người nên biết và

11

có thể biết là bản than con người. Yêu mến con người,thờ phụng con người là bổn phận của con người. Còn theo Mạnh Tử, bản tính con người ta là thiện, nó được thể hiện ở bốn đức: Nhân, nghĩa, lế, trí. Chúng ta có thể nói rằng: triết học ở đây đề cao long nhân ái, đạo đức, và sức mạnh của đạo đức. Cũng đề cao đạo đức nhung triết học Ấn Độ cổ đại lại thông qua những tư tưởng giải thoát con người. Trong khi đó, triết học phương Tây cổ đại lại ít quan tâm đến sức mạnh đạo đức, mà chủ yếu quan tâm nghiên cứu khía cạnh sinh vật, nguồn gốc xuất hiện của con người. Như vậy, các nhà triết học phương Đông cổ đại nghiêng về nghiên cứu nội tâm, hướng nội thì các nhà triết học phương Tây cổ đại lại đi sâu vào phương diện lí trí. Do vậy phải thường xuyên trau dồi lí trí, tiép thu những quy luật của tự nhiên và quy luật của con người. 2.3. Về tư tưởng nhận thức luận Trong khi các nhà triết học phương Đông cổ đại có những phương thức tư duy triết học là nhận thức trực quan, trực giác, thì các nhà triết học phương Tây cổ đại lại đề cao vai trò của nhận thức lí tính, phát triển các tư tưởng thành lí thuyết với các chứng minh rõ rang, mạch lạc. Ở Ấn Độ cổ đại, các trường phái triết học đề cao nhận thức trực giác, thuẹc nghiệm tâm linh khi nghiên cứu thế giới, nhhư phái Vaisesika, Lokayata, kinh Uparishop.. Ở Trung Quốc cổ đại, Lão Tử và Trang tử đề cao tư duy trừu tượng và coi khinh nghiên cứu sự vật hhiện tượng cụ thể. Cho dù các nhà triết học phương Đông cổ đại đã có sự sang tạo phương thức tư duy trực quan, nhưng do thiếu luận chứng và phân tích, lại dùng phương

12

pháp tư duy giácc ngộ bằng trực giác nên đã làm cho các khái niệm thiếu logic, khoa học. Trái lại, các nhà triết học phương Tây cổ đại lại không đặt mình vào giữa đối tượng để suy nghiệm, mà tách con người ra khỏi đối tượng nhận thức để đảm bảo được tính khách quan. Mặc dù vẫn có quan điểm như Epiquga nhưng ông đã thừa nhận tác động của vật chất vào các giác quan của con người. Hầu hết các triết gia Hy Lạp đã đưa ra quan điểm về nhận thức luận đúng đắn, đó là nhận thức một quá trình kinh nghiệm đến nhận thức lí tính. Vì thế, logic học đã được phát triển ở phương Tây cổ đại. 2.4. Cuộc đấu tranh giữa duy tâm và duy vật: Ở triết học phương Đông cổ đại, các trào lưư, học thuyết thường đan xen yếu tố duy vật và duy tâm. Chính vì thế mà cuộc đấu tranh giữa duy vật và duy tâm không gay gắt như ở phương Tây. Ở Trung Quốc cổ đại với trường phái nho giáo mà đại diện là Khổng Tử. Trong quan niệm của ông, bên cạnh các yếu tố duy tâm là các yếu tố duy vật. Ông đưa ra thuyết “Thiên mệnh”, và coi việc hiểu biết mệnh trời là một hiểu biết tất yếu cần có để trở thành một con người hoàn thiện. Song ông lại phê phán sung bái, mê tín. Trong phật giáo, sự đan xen giữa yếu tố duy vật và duy tâm cũng thể hiện rất rõ nét. Còn ở Triết học Ấn Độ cổ đại, các quan niệm tự nhiên về các vị thần dần mờ nhạt, thay vào đó là những nguyên lí trừu tượng, duy nhất, tối cao được coi là nguồn gốc của vũ trụ, đó là thần sang tạo tối cao. Tuy nhiên trong thời kì này cũng xuất hiện một làn song đấu tranh chống lại chủ nghĩa duy tâm. Không như ở phương Đông, triết học phương Tây cổ đại lại có những cuộc đấy tranh gay gắt. Ở đây, mỗi nhà triết học, mỗi trường phái lại có một ý

13

kiến riêng biệt về bản nguyên của thế giới, về mầm mống ban đầu của thế giới. 2.5. Sự đấu tranh giữa biện chứng và siêu hình: Trong triết học phương Đông cổ đại, yếu tố bịên chứng và siêu hình cùng tồn tại với nhsu, đan xen nhau, không có sự đấu tranh gay gắt. Điều này trái ngược với triết học phương Tây cổ đại. Với triết học Trung Hoa cổ đại, ta xem xét đại diện là Lão Tử. Ông cho rằng trời không phải căn cứ của đạo mà trái lại, đạo có trước thần linh, hiện tượng trong vũ trụ ông gọi là đạo thường. Ở đây, tư tưởng biện chứng được thể hiện rõ nét. Ông cũng chỉ ra rằng, bất cứ sự vật nào cũng là thể thống nhất của hai mặt đối lập, vừa xung khắc lại vừa dựa vào nhau, và lien hệ, rang buộc bao hàm lẫn nhau. Ở phương Tây, Hêraclit là người có đóng góp to lớn trong lịch sử phát triển biện chứng. Đối lập với ông là phép biện chứng phủ định của trường phái Êlê với chủ nghĩa vạn vật bất biến, không sinh thành, không diệt vong. Có nhiều quan điểm đối lập nhau khau và khác nhau rất nhiều về thế giới. Quan điểm biện chứng về thế giới của các nhà triết học phương Tây cổ đại có ý nghĩa to lớn đối với lịch sử triết học. tuy nhiên, nó mới chỉ là quan điểm mang tính tự phát.

2.6. Các bước phát triển nhảy vọt về chất: Ở triết học phương Tây, mỗi giai đoạn lịch sử bên cạnh những tư tưởng triết học cũ, luôn xuất hiện những trường phái triết học mới với quan điểm có tính phát triển nhảy vọt, tính cách mạng. Trong khi đó, triết học phương Đông cổ đại ít có những bước nhảy mang tính cách mạng.

14

Triết học phương Đông có phát triển nhưng chỉ là sự phát triển cục bộ, đi sâu vào từng chi tiết, từng tư tưởng trên cơ sở cái cũ, có cải tiến về phương diện nào đó. Điều đó thể hiện ở chỗ, những nhà tư tương ở giai đạon lịch sử sau thường cho mình là học trò, là người kế tục sự nghiệp của những nhà sáng lập ở giai đoạn trước. Những tư tươnngr mới mà họ đưa rachỉ là để giải thích sâu hơn hoặc nhằm bảo vệ những ý tưởng của nhũng vị tiền bối. Vì vậy ở giai đoạn sau ít thấy những trường phái triết học mới xuất hiện, điều đó cho chúng ta thấy tính bảo thủ, trì trệ, kiệm tiến của triết học phương Đông cổ đại. Ngược lại, ở phương Tây lại có những trường phái triết học mới, thể hiện sự đột phá về tư tưởng. Ở Hy Lạp, triết học đã đi sâu và bàn đến vấn đề con người, đặc biệt về thuyết nguyên tử của Đemocrit đã tạo ra bbước nhảy vọt về chất trong lịch sử triết học cổ đại. Đặc điểm này còn được thể hiện qua quan điểm mới của Hêraclit và nhận thức luận của Empedoclo. Chính những điều đó đã tạo ra những bước phát triển nhảy vọt về chất của triết học phương Tây cổ đại. 2.7. Việc được nhìn nhận như một khoa học độc lập: Những tư tưởng triết học phương Đông cổ đại ít khi tồn tại dưới dạng triết học thuần tuý mà thường được trình bày xen kẽ hoặc ẩn dấu đằng sau những vấn đề chính trị, xã hội, đạo đức, tôn giáo, nghệ thuật Ngược lại, triết học phương Tây cổ đại là một hệ thống các tư tưởng được trình bày trực tiếp, rõ rang, triết học được coi là một khoa học độc lập.

15

Với triết học Trung Hoa thời cổ đại, khổng Tử thể hiện tư tưởng triết học về con người, về xã hội thong qua một số chính sách, bài học vè trị quốc. Ở Ấn Độ, triết học mang đậm máu sắc tôn giáo, triết học và tôn giáo luôn hoà nhập với nhau, rất khó phân biệt rõ rang. Triết học phương Tây cổ đại là một hệ thống triết học thuần tuý, ngay từ khi ra đời đã chứa đựng các khoa học khác. Xen lẫn trong các học thuyết Hy Lạp cổ đại là những định luật toán học, vệt lí, hay thiên văn học. Với các nhà triết học điển hình như Talet, Pitago, Democrit..đều là nhũng nhà khoa học tự nhiên. 2.8. Việc sử dụng hệ thống thuật ngữ của triết học : Trong triết học phương Đông cổ đại, thường dung châm ngôn, ngụ ngôn, ẩn ngữ có tính hình tượng để diễn đạt quan điểm, càng đi sâu vào suy nghĩ thì càng thấy sự sâu sắc của triết học phương Đông cổ đại. Còn triết học phương Tây cổ đại thì các tư tưởng triết học được diễn đạt, lập luận với ngôn ngữ và phong cách tư duy mạch lạc, khoa học, có tính hệ. Về bản thể luận: Phương Tây dùng thuật ngữ: “giới tự nhiên”, “bản thể”, “vật chất”; còn phương Đông lại cùng “thái cực”, “đạo sắc, hình, vạn pháp,… Để nói về bản chất của vũ trụ, đặc biệt mối quan hệ giữa con người với vũ trụ, phương Đông dùng phạm trù khách thể – chủ thể, con người – tự nhiên, vật chất – ý thức, tồn tại – tư duy, còn phương Đông lại dùng Tâm vật, năng – sơ, lí – khí, hình – thần”. Nói về tính chất, sự biến đổi của thế giới: Phương Tây dùng thuật ngữ biện chứng, siêu hình, vận động, dứng im,…, thì phương Đông dùng bằng thuật ngữ động – tỉnh, biến dịch, bô thường, vô ngã…

16

Khi diễn đạt về mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng trên thế giới thì phương Tây dùng thuật ngữ “liên hệ”, “quan hệ”, “quy luật”, còn phương Đông dùng thuật ngữ “đạo”, “lý”, “mệnh”, “thần”… Có nhịp điệu là hài hoá âm dương, còn vũ trụ là tập hợp khổng lồ các xoắn ốc.

17

KẾT LUẬN Qua nghiên cứu và trình bày như ở trên , ta thấy rằng giữa hai nền triết học có những đặc điểm khác xa nhau, mỗi nền triết học lại có những néy đặc sắc riêng, nhưng chúng lại bổ sung cho nhau và đều có những đóng góp to lớn và lịch sử phát triển triết học của nhân loại. Ở phương Đông, ta tìm thấy sự sâu sắc, ý vị, tinh thần, đạo đức, tính nhân đạo, màu sắc đời sống. Trong khi đó, tinh thần khoa học của triết học phương Tây cổ đại lại làm cho triết học có tính logic và trở thành khoa học của các ngành khoa học. Sự khác biệt này do nhiều nguyên nhân chi phối song nguyên nhân chủ yếu chính là sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và kinh tế – xã hội. Bởi lẽ triết học là một hình thái ý thức xã hội va chịu sự qui định của tồn tại xã hội. Việc nghiên cứu triết học phương Đông và triết học phương Tây cổ đại có ý nghĩa hết sức to lớn. Bởi lẽ, thông qua hoạt động nghiên cứu triết học, chúng ta đã thấy được sự phát triển lịch sử tư tưởng triết học của nhận loại thời cổ đại, nắm bắt được quá trình hình thành và phát triển của những phương pháp nhận thức khoa học. Từ đó, cho ta biện pháp hữu hiệu để nghiên cứu, đánh giá một học thuyết triết học trong triết học cổ đại nói riêng và trong lịch sử triết học nói chung, đồng thời, góp phần hình thành và phát triển phương thức tư duy khoa học. Việc chỉ ra sự khác nhau giữa triết học phương Đông và phương Tây cổ đại đã giúp ta có cách đánh giá thoả đáng vị trí hai nền triết học này trong lịch sử. Triết học phương Đông cổ đại ra đời từ rất sớm và là cái nôi của triết học nhân loại. Triết học phương Tây cổ đại ra đời muộn hơn nhưng “đã có mồng mống và đang nảy nở hầu hết tất cả các loại thế giới quan sau này”

18

(Ph.Ăngghen). Tuy nhiên, cả hai đều tồn tại những hạn chế nhất định. Điều này được khắc phục dần trong những học thuyết triết học sau này. Và phái khi triết học Mác-lênin ra đời thì triết học mới thực sự là một công cụ nhận thức và cải tạo thế giới.

19

Sự Khác Biệt Chính Giữa Triết Học Phương Đông Và Phương Tây Là Gì?

Sự khác biệt chính giữa triết học phương Đông và phương Tây là gì?

Trong câu trả lời sau đây, theo triết học phương Đông, tôi chủ yếu xem xét sáu trường phái triết học Ấn Độ

Nhìn chung, sự khác biệt là:

Triết học phương Tây đi theo một sự phát triển theo chiều dọc, nó có thể được hiểu là những lời dạy của Plato, Socrates, Epicurus, Aristotle dẫn đến các nhà triết học theo thuyết duy lý và chủ nghĩa kinh nghiệm, Kant thống nhất ở một mức độ nào đó hai ý nghĩ này. Ý tưởng của Kant sau đó được các nhà triết học khác sử dụng.

Triết học phương Đông đi theo sự phát triển theo chiều ngang song song, các trường phái triết học khác nhau phát triển Độc lập với nhau, mỗi trường hoàn thành theo khía cạnh riêng của nó. Ví dụ, Phật giáo, Jainism, Sankhya, trường phái tư tưởng Yoga khá phát triển và khác biệt với nhau.

Triết học phương Tây là sự tò mò trí tuệ về các khía cạnh nhận thức luận hoặc siêu hình học. Mặt khác, mục đích chính của triết học phương Đông là giải thoát cá nhân, chấm dứt sự đau khổ hay Niết bàn của anh ta. Tất cả các trường phái triết học phương Đông, ngoại trừ Charvaka đều chú trọng đặc biệt đến sự giải thoát, và tất cả những người thúc đẩy chính của triết học phương Đông đều đạt được sự giải thoát theo cách riêng của họ, có thể là Phật, Mahavira, Shankaracharya. Trái ngược với điều này, không một triết gia phương Tây nào thực sự có thể tuyên bố đã đạt được giải thoát.

Triết học phương Tây ban đầu được thực hành theo một cách rất giống nhau. Bản thân Biết về bản thân mình được khắc trên tiền sảnh của đền thờ Apollo ở Delphi ở Hy Lạp cổ đại. Được thực hành nổi tiếng bởi Socrates, triết học được tham gia như một loại chăm sóc bản thân, hoặc một cuộc điều tra về cách tồn tại của bản thân và thế giới. Các triết lý của Stoics, Epicureans, Skeptics và Boethius đã được điều trị một cách rõ ràng. Nhưng sau thế kỷ 18, triết học ngày càng trở nên hàn lâm hơn; nó đã được loại bỏ khỏi sử dụng thực tế, cá nhân và chuyển đổi. Mục tiêu của triết học phương Tây đã trở thành khám phá cơ sở của sự thật khoa học và giới hạn khả năng của con người để biết điều đó.

Mảnh vỡ so với toàn diện

“Theo Fritjof Capra, sự nhấn mạnh của suy nghĩ hợp lý được tóm tắt trong tuyên bố nổi tiếng của Descartes, ‘Cognito, ergo sum’ – ‘Tôi nghĩ, do đó, tôi tồn tại.’ Điều này đã khuyến khích người phương Tây đánh đồng bản sắc của họ với lý trí của họ hơn là với toàn bộ sinh vật. Sự phân chia giữa tâm trí và cơ thể đã dẫn đến một quan điểm về vũ trụ như một hệ thống cơ học bao gồm các vật thể riêng biệt, lần lượt bị giảm đến các khối xây dựng cơ bản có tính chất và tương tác được cho là xác định hoàn toàn tất cả các hiện tượng tự nhiên.

Quan niệm cơ học này về toàn thế giới vẫn là nền tảng của hầu hết các ngành khoa học của chúng ta và tiếp tục có ảnh hưởng to lớn đến cuộc sống của chúng ta. Các ngành học trở nên rời rạc và điều này đã phục vụ như một lý do căn bản để đối xử với vũ trụ như thể nó bao gồm các phần riêng biệt được khai thác bởi các nhóm khác nhau. “

Trong triết học phương tây, chúng tôi muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của các bộ phận của một tổng thể hơn là toàn bộ. Chúng ta thấy những thứ như tâm trí và cơ thể là hai phần riêng biệt với bản sắc riêng biệt, thay vì xem chúng là hai phần bằng nhau nhưng đối lập nhau tạo thành một tổng thể lớn hơn. Tâm lý này có thể được tìm thấy hàng ngày trong xã hội Mỹ, có thể là trong chính trị, tôn giáo, hoặc thậm chí là quan hệ chủng tộc.

Triết học phương Đông, mặt khác, nhấn mạnh toàn bộ. Đó là một trong những lý do các nhà hiền triết Trung Quốc và Ấn Độ không bao giờ phân biệt giữa tôn giáo và triết học hoặc phân loại triết lý của họ thành các nhánh. Tất cả những lời dạy của họ không có nghĩa là được coi là những sự thật riêng biệt, mà là những phần cuối cùng sẽ dẫn đến sự mặc khải của một Chân lý:

“Bản chất của quan điểm thế giới phương Đông là nhận thức về sự thống nhất và mối quan hệ tương hỗ lẫn nhau của mọi sự vật và sự kiện, kinh nghiệm của tất cả các hiện tượng trên thế giới như là biểu hiện của một sự thống nhất cơ bản. Tất cả mọi thứ được coi là những phần độc lập và không thể tách rời của một tổng thể vũ trụ, như những biểu hiện khác nhau của cùng một thực tại tối hậu. Các truyền thống phương Đông đề cập đến thực tại tối thượng, không thể chia cắt này như Brahman trong Ấn Độ giáo, Dharmakaya trong Phật giáo và Đạo trong Đạo giáo. “

Các quan niệm khác nhau về Tạo hóa hoặc năng lượng sáng tạo phản ánh sự phân chia giữa triết học phương đông và phương tây. Hãy nhớ rằng trong khi chúng ta tách rời triết học và tôn giáo ở phía tây, hai người song hành với nhau trong hầu hết các truyền thống phương Đông.

Ở phía tây, có Chúa. Theo tôn giáo của bạn, bạn tôn thờ Chúa theo một cách nhất định và sống cuộc sống của bạn theo một cách nhất định. Thần Áp-ra-ham được hầu hết dân số trên thế giới tôn thờ. Vị thần này là một “anh ta” và anh ta cảm thấy giống như những cảm xúc mà con người làm: tức giận, ghen tuông, hạnh phúc, tình yêu, v.v … Vị thần này là siêu nhiên và có thể bẻ cong quy luật tự nhiên theo ý muốn của anh ta. Trớ trêu thay, mặc dù con người được cho là do Thiên Chúa tạo ra, và mặc dù người ta nói rằng mọi thứ Chúa tạo ra đều tốt, con người bị coi là bẩn thỉu, tội lỗi, xấu xa và không xứng đáng với tình yêu của Chúa. Đàn ông phải làm việc để có được tình yêu của Thiên Chúa, bằng cách tôn thờ đứa con trai duy nhất của mình, bằng cách cầu nguyện cho anh ta năm lần mỗi ngày và hành hương đến Mecca, bằng cách cắt bao quy đầu, hoặc một số hành động sùng đạo khác.

Tôn giáo phương Tây và tập trung vào các khía cạnh công khai (bên ngoài) của các truyền thống tôn giáo, và nó tập trung vào các mảnh vỡ tạo nên tôn giáo (tôn giáo của bạn, giáo phái của bạn, bạn đến nhà thờ nào, bạn ăn gì, kinh sách nào bạn đọc, v.v. .). Triết học phương Tây tập trung vào các bộ phận hơn là toàn bộ.

Đối lập ý tưởng này là viễn cảnh phía đông về Tạo hóa hoặc năng lượng sáng tạo. Trong Đạo giáo, có Đạo. Đạo không phải là một vị thần. Đó không phải là anh hay cô. Nó là nguồn gốc của mọi giới tính và do đó vượt qua nó. Đạo là nguồn gốc của mọi sự sống, và nó là thứ duy trì mọi sự sống. Nói một cách dễ hiểu hơn về phương Tây, Đạo có thể được gọi là năng lượng mạnh mẽ tạo ra và hỗ trợ sự sống. Mục tiêu của Đạo giáo là kết nối với năng lượng này bằng cách sống một lối sống tự nhiên và cân bằng hơn. Một người không tôn sùng Đạo, một người tự xếp mình với nó. Một người không cầu nguyện với Đạo, một người thiền và chiêm ngưỡng Đạo. Bạn kết nối với Đạo bằng cách sắp xếp chính mình với khái niệm âm dương, bằng cách đơn giản là đi theo dòng chảy của tự nhiên. Đạo không “siêu nhiên” theo nghĩa là nó thực hiện phép lạ; đúng hơn, đó là thứ tạo ra và chi phối “luật” của tự nhiên.

Khái niệm đạo Bà la môn của đạo Hindu tương tự như Đạo, cũng như khái niệm Phật giáo về Phật pháp. Đây không phải là các vị thần. Họ không yêu cầu chúng ta cầu nguyện với họ bằng một ngôn ngữ nhất định hoặc tôn thờ họ. Thay vào đó, họ đại diện cho thực tế cơ bản, đáng kể đằng sau một thế giới luôn thay đổi. Mọi thứ trong vũ trụ không ngừng phát triển và co lại, được sinh ra và chết đi. Mọi thứ đang trở thành một thứ khác. Nhưng đằng sau sự trở thành này là một cái gì đó mà IS. Cái mà IS là cái mà các triết học phương đông nhấn mạnh, không phải cái mà trở thành.

Các truyền thống phương Đông tập trung nhiều hơn vào các khía cạnh bí truyền (bên trong) của tôn giáo và triết học, và họ tập trung vào toàn bộ hơn là các bộ phận. Nó không quan tâm lắm đến một số nghĩa vụ cứng nhắc đối với một vị thần bí ẩn siêu nhiên, nhưng nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc vượt qua thế giới vật chất, từ đó tìm thấy bản chất bên trong thần thánh thực sự của mình và vị trí của một người trong vũ trụ.

Hòa bình so với hòa hợp

Ở Mỹ, mọi người cứ tranh cãi về quyền lợi, nhưng điều chúng ta cần là cân nhắc.

Nhưng trong sự hài hòa, có sự cùng tồn tại.

Giáo dục

Ông mô tả sự hài hòa như bắt chéo tay của bạn với nhau. Không có gì bắt buộc với bất cứ ai. Chẳng hạn, chúng ta sống chung với thiên nhiên. Nơi hai bàn tay tôi bắt chéo là nơi chúng ta hiểu nhau. Nhưng trong khi có thể có một số điều mà chúng ta có thể không nhìn thấy, nơi cánh tay của chúng ta không chạm vào, một số điều tôi không hiểu về bạn, tôi không bận tâm. Tôi chỉ chấp nhận nó.

Sự khác biệt chính là

thái độ đối với biện chứng

.

Có rất nhiều triết lý châu Âu, và có rất nhiều triết lý từ bên ngoài châu Âu. Cố gắng để ăn mòn tất cả mọi thứ vào phương Tây và phương Đông với một số đặc điểm rõ ràng gọn gàng là một bài tập vô ích.

Một điểm khác biệt là thái độ đối với phép biện chứng. Triết học phương Tây tập trung nhiều vào tranh chấp, mang tính biện chứng nặng nề, hơn cả hầu hết các triết lý của Đông và Nam Á. Điểm này là khó khăn hơn nhiều so với lần trước bởi vì có nhiều ngoại lệ. Triết học Ấn Độ có nhiều hơn trong cách tranh luận và lập luận chặt chẽ với sự chú ý đến ngữ nghĩa hơn là triết học Trung Quốc, ví dụ. Nó vẫn dựa trên các bài thánh ca Vệ đà và những bài thơ mà bạn có thể tìm thấy trong Upanishad, có hình thức các bài thánh ca và câu chuyện thường xuyên hơn các chuyên luận, mặc dù ở đó

Chúng tôi

một số chuyên luận ở đó. Trên thực tế, sự xuất hiện của Phật giáo đến Trung Quốc từ Ấn Độ đã tạo ra sự kích thích cho các phương thức tư tưởng truyền thống ở Trung Quốc được thể hiện rõ ràng theo cách mà trước đây họ chưa từng thấy, bởi vì Phật giáo đã đưa ra một phương thức lý luận biện chứng chính xác hơn cho Trung Quốc. Một ngoại lệ khác là Mohism. Người Mohammed, người đã có nhiều tiến bộ về khoa học, toán học và kỹ thuật, đã nhấn mạnh rất nhiều đến tranh luận là phương thức lý luận và theo đuổi sự thật thống trị của họ, và Mohism thậm chí còn phát triển thêm một trường học nữa

Minh Gia

hoặc Trường Tên, tập trung vào ngữ nghĩa. Sự tập trung vào ngữ nghĩa này đã được kết hợp sâu hơn vào dòng suy nghĩ của Nho giáo, và sự cải chính của những cái tên mà thậm chí còn được đặt vào trong Luận ngữ; một số học giả nghĩ rằng đây là một phép nội suy của tư tưởng Mohist cụ thể.

Các ngoại lệ, tuy nhiên, thường chứng minh quy tắc. Trong những năm 1800, một số trí thức Trung Quốc, những người muốn Trung Quốc bắt kịp châu Âu và hiện đại hóa, đã bắt đầu tìm kiếm triết học Trung Quốc lịch sử cho một cái gì đó tương tự như tư tưởng phương Tây. Họ đã tìm thấy gì? Tất nhiên, chủ nghĩa Mohammed. Trường phái Mohist đã chết từ lâu vào những năm 1800, nhưng thực tế là các học giả Trung Quốc thời đó đã nhận ra sự tương đồng của nó với tư tưởng phương Tây sẽ cho bạn biết điều gì đó về ưu thế của phép biện chứng trong tư duy phương Tây. Mohism là biện chứng, vâng, nhưng nó đã chết vì đơn giản là nó không thể tồn tại trong bối cảnh văn hóa của nó. Bạn có thể nói điều gì đó tương tự về ảnh hưởng của Hy Lạp đối với triết học Hồi giáo. Lập luận về Người đàn ông nổi của Avicenna đã đưa ra một cái gì đó giống như thuyết nhị nguyên của Cartesian, hàng thế kỷ trước Descartes và đây là kết quả của ảnh hưởng của Hy Lạp đối với tư tưởng Hồi giáo, nhưng thành phần biện chứng của Hy Lạp trong triết học Hồi giáo không thể tồn tại xung đột với chính Hồi giáo. Chỉ có ở châu Âu nơi phương pháp biện chứng thực sự phát triển mạnh mẽ.

Câu hỏi: Sự khác biệt rất lớn giữa triết học phương Tây và triết học phương Đông là gì?

Tôi đã chờ đợi một vài ngày để trả lời câu hỏi này bởi vì tôi không chắc câu trả lời của mình có tốt không, nhưng sau nhiều suy nghĩ tôi tin rằng nó khá hoàn chỉnh.

Ở Hy Lạp cổ đại, khi triết học phương Tây đang phát triển vào thời kỳ tiền Socrates, thì thần thoại cũng là quan điểm tôn giáo của thời đại. Nhiều tên của thời đại, như Homer, cảm thấy họ có thể giải thích thế giới thông qua các tác phẩm thần thoại về các sự kiện được cho là xảy ra trong quá khứ. Những người khác, như Thales, cảm thấy như thể đang quan sát thế giới và cố gắng tìm ra cách nó hoạt động là cần thiết để đạt được kiến ​​thức. Theo thời gian, hai trường phái tư tưởng này tách ra do phương pháp mà cả hai đều sử dụng và, do đó, chúng vẫn là những hình thức tư duy riêng biệt trong thế giới phương Tây. Sẽ không đến thời Trung cổ nơi mà thần học và triết học hợp nhất khá nhiều, nhưng ngay cả khi đó sự hợp nhất này rất hạn chế. Các ý tưởng tôn giáo của các nhà triết học trong thời trung cổ, mặc dù được coi trọng, nhưng không bao giờ thực sự có được chỗ đứng và do đó hai người vẫn giữ nguyên các kiến ​​thức riêng biệt.

Vậy, một trong những khác biệt chính giữa triết học phương Tây và phương Đông là gì? Rất đơn giản,

đó là cách mà cả hai đều phản ứng với ảnh hưởng tôn giáo.

Trong khi triết học phương Tây phát triển và vẫn là một lĩnh vực kiến ​​thức riêng biệt từ thần thoại Hy Lạp và thần học Kitô giáo, thì triết học phương Đông đã trộn lẫn các quan điểm tôn giáo của thời kỳ với các triết học. Như vậy, hai triết lý khác nhau

nói chung

hỏi những câu hỏi rất khác nhau. Trong khi Triết học phương Tây luôn có một thành phần siêu hình lớn, thì Triết học phương Đông đã phát triển nhiều hơn để tập trung đặc biệt vào bản chất con người và làm thế nào chúng ta có thể đạt được hòa bình trong cuộc sống.

trong chính họ

Vì vậy, thực sự, toàn bộ sự khác biệt của triết học ‘phương Tây’ và ‘phương Đông’ là vô cùng độc đoán ngay từ đầu.

Triết học phương Tây là một truyền thống duy nhất được phát triển trong buổi hòa nhạc, triết học phương Đông không hoàn toàn liên kết với nhau, nhưng phát sinh trong các nền văn hóa khác nhau với các truyền thống khác nhau. Nói cách khác, Leibniz và Descartes và Kant đều đọc cùng một triết gia cổ đại, nhưng, Santideva đến từ một nền văn hóa Phật giáo Ấn Độ, Mozi đến từ văn hóa Nho giáo Trung Quốc, v.v. Triết học phương Tây có cấu trúc nguyên khối nhiều hơn triết học phương Đông, trên thực tế, triết học phương Đông chỉ là phương Đông theo quan điểm của văn hóa nguyên khối của triết học phương Tây.

Có thể có ngoại lệ cho bất kỳ tuyên bố nào về điều này, nhưng sự khác biệt chính là các triết học phương Tây (WP) là nhị nguyên và do đó duy vật trong khi phương Đông (EP) thì không. Bằng “nhị nguyên”, tôi không nói đến thuyết nhị nguyên của tâm trí / cơ thể của Descartes mà là sự đồng nhất với một tâm trí / cơ thể và hậu quả là sự đồng nhất với phần còn lại của thực tế. Điều này dẫn đến một số niềm tin sai lầm và cuối cùng chịu trách nhiệm cho tất cả đau khổ. Những niềm tin như “Tôi là một người. Vật chất là có thật, chỉ có * vật chất là có thật và nó tồn tại độc lập với tôi”.

Tất nhiên, cách tiếp cận phương tây không phải là tất cả xấu. Tốt hơn hết là đừng ngồi trong lán bùn chết vì bệnh. Nhưng bây giờ, internet đang xóa bỏ sự khác biệt giữa đông và tây, đã đến lúc tận dụng tốt nhất cả EP và WP, nhận ra rằng có, chúng ta có thể làm cho cuộc sống vật chất của mình thoải mái, nhưng đó không phải là mục đích của cuộc sống và tin rằng nó sẽ chỉ dẫn đến đau khổ.

* Gần đây Einstein đã cho thấy sự thống nhất giữa vật chất và năng lượng, vốn là vấn đề đối với chủ nghĩa duy vật vì năng lượng khó xác định, phải làm với sự biến đổi của vật chất.

Tôi đã nghiên cứu điều này trong hai ngày nay và thật khó để hiểu tất cả những khác biệt mang lại lịch sử triết học lâu dài ở phương Đông và phương Tây, nhiều trường phái triết học được thực hành ở cả hai khu vực và khó khăn trong việc xác định ‘phương đông’ và ‘miền Tây’. Tuy nhiên, tôi muốn liệt kê một vài điểm khác biệt mà một vài ngày nghiên cứu đã tiết lộ.

Hệ thống chính thức

Triết học phương Tây đã sớm thích các hệ thống chính thức. Một hệ thống chính thức là một mô hình toán học cho thực tế

.

Nó bắt đầu bằng các ký hiệu, thuộc tính của chúng (tiên đề) và các quy tắc để thao tác chúng. Hình học của Euclid là một ví dụ ban đầu của một hệ thống chính thức. Trong khi các nhà tư tưởng phương đông đã nghiên cứu toán học và hình học, họ đã không gắn nó với một chủ nghĩa hình thức gây khó khăn cho việc khái quát hóa. Ví dụ, toán học Vệ Đà đưa ra các quy tắc (hoặc thủ thuật) khác nhau để nhân các loại số khác nhau (kết thúc sau 5 giây, kết thúc sau 9 giây, v.v.) trong khi toán học phương tây hài lòng với một quy tắc chung.

Thực tế Platonic

Chủ nghĩa hoàng đế

Chủ nghĩa hoàng đế đã phổ biến hơn ở phương tây. Empericism là ý tưởng rằng “sự thật” duy nhất là nhận thức cảm tính. Triết học phương Đông đã chấp nhận nhiều hơn các phương thức nhận biết khác.

svcministry.org © 2021

So Sánh V/Hóa Phương Đông Và Phương Tây

[Sử 10] So sánh V/hóa phương Đông và phương Tây

Cố gắng thi đỗ cấp 3 trường Chuyên

[Hãy đăng kí thành viên hay đăng nhập để xem liên kết này.]

+ Phương Đông: ĐKTN thuận lợi, mưa thuận gió hòa, ở gần lưu vực các con sông nên đất phù sa màu mỡ, khí hậu nóng ẩm. Khó khăn: lũ lụt, thiên tai,…

+ Phương tây: nằm ven Địa Trung Hải, có nhiều đảo, nhiều cảng biển, thuận lợi cho giao thông trên biển và nghề hàng hải,… Khó khăn: Đất khô và cứng, phần lớn lãnh thổ là núi và cao nguyện, đất canh tác ko màu mỡ nên chỉ thích hơp với những cây lâu năm gây ra thiếu lương thực phải nhập khẩu.

– Kinh tế:

+ Phương Đông: Nông nghiệp, thủ công nghiệp và chăn nuôi.

+ Phương Tây: Kt chủ yếu là công nghiệp, thương nghiệp, buôn bán.

– Về xã hôi:

+ Phương Đông có 3 giai cấp:

_ Quý tộc (vua, quan lại): đứng đầu giai cấp thống trị bóc lột, có nhiều của cải và quyền thế.

_ Nông dân công xã (nhận ruộng đất của làng xã về canh tác): là lực lương đông nhất trong xã hôi, có vai trò to lớn trong sản xuất và phải nộp thuế.

_ Nô lệ (nông dân nghèo, không trả dc nợ): là tầng lớp thấp nhất trong xã hội, phải làm việc nặng nhọc, hầu hạ cho quí tộc.

+ Phương Tây cũng có 3 giai cấp:

_ Chủ nô: là những người rất giàu, có thế lực về kinh tế.

_ Bình dân: dân tự do có nghề nghiệp, tài sản, tự sinh sống bằng lao động của bản thân.

_ Nô lệ: là lực lương rất đông đảo, chủ yếu là phục vụ cho nhu cầu của đời sống, hoàn toàn phụ thuộc vào người chủ của mình, không có chút quyền lợi cá nhân nào.

– Về chính trị:

+ Phương Đông là chế độ quân chủ Trung Ương tập quyền. Vua là chủ tối cao của đất nước, có quyền quyết định mọi công việc của đất nước. Vua dựa vào quí tộc và tôn giáo đề cai trị đất nước, ngoài ra giúp việc cho vua còn là một bô máu hành chính quan liêu.

+ Phương Tây: chế độ dân chủ. Quyền lực đất nước ko nằm trong tay quí tộc mà tập trung trong tay hội đồng công dân. Mọi công dân có quyền quyết định công việc của nhà nước.

Nguồn: [Hãy đăng kí thành viên hay đăng nhập để xem liên kết này.] Diễn Đàn Kiến Thức – Học Tập Suốt Đời

Điều kiện tự nhiên:

– Kinh tế:

– Về chính trị:

Bạn ơii, đúng là do 4 đặc điểm này rồi, nhưng bê nguyên đoạn đó vào cũng k thể giải thích được trúng câu hỏi. : )

-Nobody will Love You like I do ♥

Facebook: [Hãy đăng kí thành viên hay đăng nhập để xem liên kết này.]

Nói nền kinh tế phát triển còn được bởi vì với điều kiện của phương Tây thuận lợi cho phát triển kinh tế (nằm ven Địa Trung Hải, có nhiều đảo, nhiều cảng biển, thuận lợi cho giao thông trên biển và nghề hàng hải,… Khó khăn: Đất khô và cứng, phần lớn lãnh thổ là núi và cao nguyện, đất canh tác ko màu mỡ nên chỉ thích hơp với những cây lâu năm gây ra thiếu lương thực phải nhập khẩu). Trong khi kinh tế Châu Á chủ yếu là nông nghiệp, có buôn bán nhưng không bằng.

Còn văn hóa ư ? Đều ngang nhau hết.

Kiến trúc : thành Rome, đấu trường La Mã, tượng Zeus, đền thờ Athens, thành Babylon, tháp thông thiên, Vạn Lý trường thành, lăng mộ Tần Thủy Hoàng, Cung A Phòng, lăng Li Sơn, Đền Taj Maha…

Thành tựu : thuốc súng, la bàn, giả kim thuật, dụng cụ thiên văn học, chữ cái, con số,…

Văn hóa : các tác phẩm quân sự chính trị như binh pháp Tôn Tử, Tam Thập Lục Kế, Cuộc chiến ở Gauls, còn nhiều nữa.

+ Phương Tây: chế độ dân chủ. Quyền lực đất nước ko nằm trong tay quí tộc mà tập trung trong tay hội đồng công dân. Mọi công dân có quyền quyết định công việc của nhà nước.

Cái này là thời Cộng Hòa La Mã, quyền lực tập trung vào viện Nguyên Lão do dân bầu, chứ thời La Mã Cổ đại với Hi Lạp nó khác hoàn toàn

.

. Đang nói thời Cổ Đại và so sánh văn hóa

.

Thay đổi nội dung bởi: abluediamond, 14-08-2013 lúc 23:06.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Vài So Sánh Giữa Triết Học Phương Đông Và Triết Học Phương Tây trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!