Đề Xuất 12/2022 # Vận Dụng Kỹ Thuật Kwl Trong Giảng Dạy Các Học Phần Tâm Lý Giáo Dục Đáp Ứng Chương Trình Giáo Dục Tiểu Học Mới / 2023 # Top 13 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Vận Dụng Kỹ Thuật Kwl Trong Giảng Dạy Các Học Phần Tâm Lý Giáo Dục Đáp Ứng Chương Trình Giáo Dục Tiểu Học Mới / 2023 # Top 13 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Vận Dụng Kỹ Thuật Kwl Trong Giảng Dạy Các Học Phần Tâm Lý Giáo Dục Đáp Ứng Chương Trình Giáo Dục Tiểu Học Mới / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Tóm tắt Bài viết tập trung vào cơ sở lý luận và vận dụng của kĩ thuật KWL trong việc giảng dạy các học phần tâm lý giáo dục. Kĩ thuật này sẽ giúp người dạy đánh giá được sinh viên đã có kiến thức nền tảng gì để lựa chọn nội dung và định hướng cho sinh viên mở rộng thêm vấn đề để sinh viên mở rộng nghiên cứu. Đồng thời sinh viên cũng có thể tự đánh giá bản thân và học hỏi từ bạn bè thông qua kĩ thuật KWL. Thông qua kĩ thuật KWL, sinh viên có thể hình thành những kĩ năng cần thiết để tiếp cận với đổi mới chương trình giáo dục tiểu học mới. Từ khóa: kĩ thuật KWL, chương trình giáo dục tiểu học mới…  

1. Đặt vấn đề Chương trình giáo dục phổ thông mới với những thay đổi nhằm giúp học sinh ở phổ thông năng động, làm chủ nội dung kiến thức. Tuy nhiên, một số giáo viên phổ thông vẫn còn những băn khoăn trong cách tiếp cận đổi mới chương trình dạy học. Với mong muốn giúp sinh viên tiểu học sau khi tốt nghiệp ra trường trang bị năng lực và yêu nghề, đáp ứng đổi mới chương trình thì kĩ thuật KWL là một trong số các kĩ thuật đáp ứng được mục tiêu này. Bài viết chỉ tập trung nghiên cứu trên khách thể là sinh viên tiểu học và chương trình giáo dục tiểu học mới. 2. Mục tiêu nghiên cứu Trình bày cơ sở lý luận về chương trình giáo dục phổ thông mới. Trình bày cơ sở lý luận về kĩ thuật KWL trên cơ sở đó ứng dụng cho một bài học trong học phần Tâm lý – Giáo dục. 3. Kết quả nghiên cứu 3.1. Cơ sở lý luận 3.1.1. Chương trình giáo dục phổ thông mới Chương trình môn học là văn bản xác định vị trí, vai trò môn học trong thực hiện mục tiêu Giáo dục phổ thông, mục tiêu và yêu cầu cần đạt, nội dung giáo dục cốt lõi của môn học mỗi lớp hoặc cấp học đối với tất cả học sinh trên phạm vi toàn quốc, định hướng kế hoạch dạy học môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, đánh giá kết quả giáo dục của môn học. Theo Nghị quyết 88 của Quốc hội, từ năm học 2018 – 2019 bắt đầu triển khai áp dụng chương trình giáo dục phổ thông và sách giáo khoa mới theo hình thức cuốn chiếu đối với mỗi cấp tiểu học, trung học cơ sở và trung học phổ thông. Những mục tiêu trong chương trình giáo dục tiểu học: Đối với môn ngữ văn: Giúp học sinh phát triển năng lực nghe nói, đọc viết… những kiến thức căn bản. Thông qua đó, học sinh được phát triển những phẩm chất cao đẹp như lòng yêu thiên nhiên, quê hương… Đối với môn Toán: Học sinh thực hiện các thao tác tư duy đơn giản, có kiến thức cơ bản về đại lượng số và đo lường các đại lượng thông thường. Đối với Tiếng Anh: Học sinh được học Làm quen từ lớp 1 và lớp 2 nhằm hình thành kỹ năng tiếng Anh theo ngữ cảnh, chuẩn bị để học chính thức lớp 3 và hình thành sự yêu thích môn học. Nội dung của tiếng Anh lớp 1,2 xoay quanh màu sắc, tập đếm, số lượng, hình dáng đơn giản. Từ lớp 3 đến lớp 5, tập trung cho trẻ giao tiếp đặc biệt chú trọng nghe và nói. Đối với môn Đạo đức: hình thành và phát triển cảm xúc tích cực, ý thức đúng đắn về chuẩn mực đạo đức trong quan hệ với chính bản thân, gia đình, quê hương cộng đồng và có cách cư xử phù hợp. Đối với Giáo dục thể chất: giúp học sinh có kỹ năng vận động đúng, hình thành thói quen tập luyện, biết giữ gìn vệ sinh thân thể và chăm sóc sức khỏe, hình thành cách thức tổ chức hoạt động đơn giản. Đối với môn Âm nhạc: Nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ và tình yêu âm nhạc, trải nghiệm và khám phá nghệ thuật âm nhạc thông qua nhiều hình thức hoạt động, làm quen với sự đa dạng trong âm nhạc. Đối với môn Mỹ thuật: có kiến thức cơ bản ban đầu về mĩ thuật, biết biểu đạt cảm xúc, trí tưởng tượng, suy nghĩ và cảm nhận của những người xung quanh về thế giới xung quanh. Đối với hoạt động trải nghiệm: Sử dụng các kiến thức của các học phần để trải nghiệm cuộc sống gia đình, lao động, xã hội, cộng đồng và khám phá bản thân. Dễ dàng nhận thấy, chương trình giáo dục tiểu học mới đã chú trọng vào liên hệ thực tiễn, để học sinh không chỉ học giỏi mà còn có sự kết nối với thực tế cuộc sống. 3.1.2. Kĩ thuật KWL (2) a. KWL b. Mục đích sử dụng sơ đồ KWL – Tìm hiểu kiến thức có sẵn của người học về bài đọc. – Đặt ra mục tiêu cho hoạt động đọc. – Giúp người học tự giám sát quá trình đọc hiểu của bản thân. – Cho phép người học đánh giá quá trình đọc hiểu của bản thân. – Tạo cơ hội cho người học diễn tả ý tưởng của các em vượt ra ngoài khuôn khổ bài đọc. – Sử dụng sơ đồ để minh họa các ý tưởng và hình thành tư duy logic. c. Các bước tiến hành trong dạy học sử dụng kỹ thuật KWL? Bước 1: Chọn bài đọc: phương pháp này hiệu quả với các bài đọc mang ý nghĩa gợi mở, tìm hiểu và giải thích. Bước 2: Tạo bảng KWL: người dạy vẽ một bảng lên bảng, người học cũng có một mẩu bảng của các em. d. Sơ đồ KWLH Xuất phát từ biểu đồ KWL, Ogle bổ sung thêm cột H (how can we learn) ở sau cùng, với nội dung khuyến khích học sinh định hướng nghiên cứu. Sau khi người học đã hoàn tất nội dung ở cột L, các em có thể muốn tìm hiểu thêm về một thông tin. Các em sẽ nêu biện pháp để tìm thông tin mở rộng. Những biện pháp này sẽ được ghi nhận ở cột H. 3.2. Vận dụng kĩ thuật KWL trong giảng dạy các học phần tâm lý giáo dục đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới Học phần: Giáo dục học Tiểu học Mođun 1: Những vấn đề chung của Giáo dục học Chủ đề V: Nhân cách người giáo viên tiểu học Số tiết: 02 Lớp: Giáo dục Tiểu học K43 Khi đặt câu hỏi: Một người giáo viên cần có phẩm chất, năng lực nào thì sinh viên đều liệt kê được một số đặc điểm. Điều này có thể lý giải bởi trong suốt thời gian học ở phổ thông, sinh viên đã được tiếp xúc, quan sát và có cái nhìn ban đầu đối với nhân cách của người giáo viên. 3.2.2. Tiến trình thực hiện Bước 1: Yêu cầu lấy ra 1 tờ giấy và chia làm 4 cột. Chủ đề V. Nhân cách người giáo viên tiểu học Tên sinh viên: K: Điều đã biết

W: Điều cần biết

L: Điều học được

H: Hướng nghiên cứu Bước 2: Yêu cầu sinh viên liệt kê những phẩm chất và năng lực cần có của một người giáo viên. Người dạy có thể đặt câu hỏi: Xã hội có yêu cầu phẩm chất và năng lực của giáo viên khác nhau giữa các thời kì hay không? Nếu có, theo bạn xã hội ngày nay đòi hỏi giáo viên phải có những năng lực, phẩm chất nào? Bước 4: Người dạy giới thiệu những nội dung cơ bản trong bài học. Đưa ra các tình huống để sinh viên phân biệt các đặc điểm tâm lý của người giáo viên và liên hệ bản thân. Bước 5: Người dạy thu giấy của một số sinh viên , trả lời một số câu hỏi trong ô W, hoặc hỏi các bạn khác để giúp sinh viên tự trả lời. Bước 6: Yêu cầu sinh viên ghi vào ô L những gì mà mình đã học được. Bước 8: Yêu cầu sinh viên ghi thêm vào ô H những gì mà sinh viên muốn tìm hiểu sau khi học nội dung nhân cách người giáo viên. Người dạy có thể để các em trao đổi với nhau về chính những điều mà các em muốn tìm hiểu thêm. 3.2.3. Kết quả thực hiện kĩ thuật KWL Sinh viên hứng thú trong việc bàn luận những phẩm chất, năng lực nào là cần có ở người giáo viên tiểu học trong giai đoạn hiện nay. Sinh viên thực hành được kĩ năng trình bày vấn đề, tư duy logic và định hướng kiến thức và phát triển bản thân sau khi kết thúc bài học. Giảng viên nắm được mức độ quan tâm của sinh viên đối với vấn đề nhân cách người thầy để từ đó có thể tác động vào vùng phát triển gần nhất giúp sinh viên hiểu và vận dụng nội dung bài học. 3.2.4. Những lưu ý khi sử dụng kĩ thuật KWL đáp ứng chương trình giáo dục tiểu học mới Việc người dạy nắm được những gì mà người học đang biết là điều cần thiết để người dạy gợi ý những câu hỏi để định hướng sinh viên trong việc tự tìm ra câu trả lời. Người dạy có thể sử dụng sản phẩm của người học để chấm điểm và kiểm tra mức độ nhận thức thay đổi qua từng các ô để gợi ý sinh viên hướng đển việc trả lời câu hỏi. 4. Kết luận Chương trình giáo dục tiểu học mới đòi hỏi người giáo viên phải có khả năng tổng hợp logic và tổ chức các hạt động liên hệ thực tế. Kĩ thuật KWL là một trong số những kĩ thuật hiện đại giúp người giáo viên tiểu học gần gũi với học sinh, định hướng cho học sinh giải quyết vấn đề và xâu chuỗi những nội dung được học. Giáo dục Việt Nam đang trên đà phát triển với nhiều định hướng và cải cách, chính vì vậy kĩ thuật KWL sẽ giúp sinh viên có được những kĩ năng cần thiết, đáp ứng năng lực khi trở thành người giáo viên . TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1] Ogle D.M (1986), K.W.L: A teaching model that develops active reading of expository text. Reading Teacher, 39, 564 – 570 [2] Giáo dục học (Tài liệu đào tạo giáo viên tiểu học), NXB Giáo dục, 2006 [3] Từ Internet: https://bit.ly/2ql1bNT

Th.S Huỳnh Thị Bích Thuộc

Tổ Tâm lý – Giáo dục, Khoa Lý luận cơ bản

Những Điểm Mới Chương Trình Giáo Dục Phổ Thông Cấp Tiểu Học / 2023

14.01.2019 15:59

189540 đã xem

Bộ giáo dục và Đào  tạo ban hành Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 26/12/2018 Chương trình tổng thể Chương trình giáo dục phổ thông mới, trong đó đối với cấp tiểu học bao gồm những điểm mới như sau:

I. Quan điểm xây dựng chương trình Chương trình giáo dục phổ thông được xây dựng theo hướng mở, cụ thể là: 1. Chương trình bảo đảm định hướng thống nhất và những nội dung giáo dục cốt lõi, bắt buộc đối với học sinh toàn quốc, đồng thời trao quyền chủ động và trách nhiệm cho địa phương và nhà trường trong việc lựa chọn, bổ sung một số nội dung giáo dục và triển khai kế hoạch giáo dục phù hợp với đối tượng giáo dục và điều kiện của địa phương, của cơ sở giáo dục, góp phần bảo đảm kết nối hoạt động của nhà trường với gia đình, chính quyền và xã hội.       2. Chương trình chỉ quy định những nguyên tắc, định hướng chung về yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của học sinh, nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và phương pháp đánh giá kết quả giáo dục, không quy định quá chi tiết, để tạo điều kiện cho tác giả sách giáo khoa và giáo viên phát huy tính chủ động, sáng tạo trong thực hiện chương trình.       3. Chương trình bảo đảm tính ổn định và khả năng phát triển trong quá trình thực hiện cho phù hợp với tiến bộ khoa học – công nghệ và yêu cầu của thực tế.       4.  So với chương trình TH2000 đang thực hiện, chương trình giáo dục phổ thông mới cấp tiểu học theo định hướng vừa hình thành kiến thức vừa phát triển năng lực, phẩm chất học sinh tiểu học, dạy học không chỉ cung cấp kiến thức mà phải phát triển hài hòa cả phẩm chất và năng lực, chương trình GDPT mới 3 yếu tố này được hình thành và phát triển hài hòa trong một đứa trẻ và vững như ‘kiềng 3 chân”, nếu chỉ thiếu hay coi nhẹ 1 yếu tố thì sẽ không phát triển hài hòa đối với quá trình phát triển nhân cách, tư duy của học sinh tiểu học.        II. Mục tiêu của chương trình       Chương trình giáo dục tiểu học giúp học sinh hình thành và phát triển những yếu tố căn bản đặt nền móng cho sự phát triển hài hòa về thể chất và tinh thần, phẩm chất và năng lực; định hướng chính vào giáo dục về giá trị gia đình, quê hương, cộng đồng và những thói quen, nề nếp cần thiết trong học tập và sinh hoạt.       III. Kế hoạch giáo dục       1. Các môn học        a) Các môn học và hoạt động giáo dục bắt buộc: Tiếng Việt; Toán; Đạo đức; Ngoại ngữ 1 (ở lớp 3, lớp 4, lớp 5); Tự nhiên và Xã hội (lớp 1, lớp 2, lớp 3); Lịch sử và Địa lí (lớp 4, lớp 5); Khoa học (ở lớp 4, lớp 5); Tin học và Công nghệ (ở lớp 3, lớp 4, lớp 5); Giáo dục thể chất; Nghệ thuật (Âm nhạc, Mĩ thuật); Hoạt động trải nghiệm.       b) Các môn học tự chọn: Tiếng dân tộc thiểu số; Ngoại ngữ 1 ( ở lớp 1, lớp 2).       Điểm mới rõ nhất lần đầu tiên ở tiểu học xuất hiện môn Hoạt động Trải nghiệm. Đó là trải nghiệm ở tiểu học và hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp ở bậc THCS, THPT. Nội dung cơ bản của chương trình này xoay quanh các mối quan hệ giữa cá nhân học sinh với bản thân, giữa học sinh với người khác, cộng đồng và xã hội; giữa học sinh với môi trường; học sinh với nghề nghiệp.       Hoạt động trải nghiệm là hoạt động giáo dục, trong đó học sinh dựa trên sự tổng hợp kiến thức của nhiều lĩnh vực giáo dục và nhóm kỹ năng khác nhau để trải nghiệm thực tiễn đời sống nhà trường, gia đình và tham gia hoạt động phục vụ cộng đồng dưới sự hướng dẫn và tổ chức của nhà giáo dục, qua đó hình thành những phẩm chất chủ yếu, năng lực chung và một số năng lực thành phần đặc thù của hoạt động này: năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động; năng lực thích ứng với sự biến động của nghề nghiệp và cuộc sống. Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được thực hiện xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12.        Giáo dục thể chất góp phần hình thành các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung cho học sinh; đồng thời, thông qua việc trang bị kiến thức về sức khoẻ, quản lý sức khỏe và rèn luyện, giáo dục thể chất giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực thể chất và văn hoá thể chất, ý thức trách nhiệm đối với sức khỏe của bản thân, gia đình và cộng đồng; biết thường xuyên tập luyện và phát triển năng khiếu thể thao phù hợp với bản thân; biết thích ứng với các điều kiện sống, lạc quan và chia sẻ với mọi người; có cuộc sống khoẻ mạnh về thể lực và tinh thần.       Nội dung chủ yếu của môn Giáo dục thể chất là Thể dục và Thể thao, rèn luyện kỹ năng vận động và phát triển tố chất thể lực cho học sinh bằng những bài tập thể chất đa dạng như rèn kỹ năng vận động cơ bản, đội hình đội ngũ, các bài tập thể dục, các trò chơi vận động, các môn thể thao và phương pháp phòng tránh chấn thương trong hoạt động.       2. Thời lượng giáo dục       Chương trình Thực hiện dạy học 2 buổi/ngày, mỗi ngày bố trí không quá 7 tiết học, mỗi tiết học 35 phút, chương trình tiểu học mới dạy học thông qua các hoạt động, thời lượng dạy học từ 2,7 giờ/ngày của chương trình hiện nhành nay giảm xuống dạy học còn 1,8 giờ/ngày       Cơ sở giáo dục chưa đủ điều kiện tổ chức dạy học 2 buổi/ngày thực hiện kế hoạch giáo dục theo hướng dẫn của Bộ GDĐT.       IV. Định hướng về phương pháp và đánh giá kết quả       1. Định hướng về phương pháp giáo dục       Các môn học và hoạt động giáo dục trong nhà trường áp dụng các phương pháp tích cực hoá hoạt động của người học, trong đó giáo viên đóng vai trò tổ chức, hướng dẫn hoạt động cho học sinh, tạo môi trường học tập thân thiện và những tình huống có vấn đề để khuyến khích học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động học tập, tự phát hiện năng lực, nguyện vọng của bản thân, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, phát huy tiềm năng và những kiến thức, kỹ năng đã tích lũy được để phát triển.        Các hoạt động học tập của học sinh bao gồm hoạt động khám phá vấn đề, hoạt động luyện tập và hoạt động thực hành (ứng dụng những điều đã học để phát hiện và giải quyết những vấn đề có thực trong đời sống), được thực hiện với sự hỗ trợ của đồ dùng học tập và công cụ khác, đặc biệt là công cụ tin học và các hệ thống tự động hóa của kỹ thuật số.       Các hoạt động học tập nói trên được tổ chức trong và ngoài khuôn viên nhà trường thông qua một số hình thức chủ yếu sau: học lý thuyết; thực hiện bài tập, thí nghiệm, trò chơi, đóng vai, dự án nghiên cứu; tham gia xêmina, tham quan, cắm trại, đọc sách; sinh hoạt tập thể, hoạt động phục vụ cộng đồng. Tùy theo mục tiêu cụ thể và mức độ phức tạp của hoạt động, học sinh được tổ chức làm việc độc lập, làm việc theo nhóm hoặc làm việc chung cả lớp. Tuy nhiên, dù làm việc độc lập, theo nhóm hay theo đơn vị lớp, mỗi học sinh đều phải được tạo điều kiện để tự mình thực hiện nhiệm vụ học tập và trải nghiệm thực tế.       2. Định hướng về đánh giá kết quả giáo dục       Mục tiêu đánh giá kết quả giáo dục là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, có giá trị về mức độ đạt chuẩn (yêu cầucần đạt) của chương trình và sự tiến bộ của học sinh để hướng dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học, quản lý và phát triển chương trình, bảo đảm sự tiến bộ của từng học sinh và nâng cao chất lượng giáo dục.       Căn cứ đánh giá là các yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực được quy định trong chương trình tổng thể và chương trình môn học. Phạm vi đánh giá bao gồm toàn bộ các môn học bắt buộc, môn học bắt buộc có phân hóa, môn học tự chọn và môn học tự chọn bắt buộc. Đối tượng đánh giá là sản phẩm và quá trình học tập, rèn luyện của học sinh.       Kết quả giáo dục được đánh giá bằng các hình thức định tính và định lượng thông qua đánh giá thường xuyên, định kỳ ở cơ sở giáo dục. Kết quả các môn học tự chọn được sử dụng cho đánh giá kết quả học tập chung của học sinh trong từng năm học và trong cả quá trình học tập.       Việc đánh giá thường xuyên do giáo viên phụ trách môn học tổ chức, dựa trên kết quả đánh giá của giáo viên, của phụ huynh học sinh, của bản thân học sinh được đánh giá và của các học sinh khác trong tổ, trong lớp.Việc đánh giá định kỳ do cơ sở giáo dục tổ chức.        Phương thức đánh giá bảo đảm độ tin cậy, khách quan, phù hợp với từng lứa tuổi, không gây áp lực lên học sinh, hạn chế tốn kém cho ngân sách nhà nước, gia đình học sinh và xã hội.       V. Điều kiệm thực hiện chương trình       Trường phổ thông được đổi mới căn bản và toàn diện về tổ chức, hoạt động và cơ sở vật chất, đáp ứng đủ các điều kiện tối thiểu sau để thực hiện chương trình:       1. Tổ chức và quản lý nhà trường       a) Nhà trường có sứ mệnh phát triển nhân cách cho mỗi học sinh và phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong điều kiện thường xuyên thay đổi; là trung tâm văn hoá giáo dục của địa phương; được tự chủ về chuyên môn, thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở; chấp hành chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước, sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng, chính quyền địa phương và cơ quan quản lý giáo dục các cấp.       b) Cơ cấu tổ chức bộ máy của nhà trường theo quy định của Điều lệ trường tiểu học do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.       c) Lớp học, số học sinh, điểm trường (nếu có) theo quy định của Điều lệ.       d) Quản lý dạy học và các hoạt động giáo dục khác theo chương trình giáo dục phổ thông; quản lý cán bộ, giáo viên, nhân viên, học sinh và quản lý tài sản (tài chính, đất đai, cơ sở vật chất, tài sản phi vật thể) theo quy định.       2. Cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh       a) Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng được đánh giá hằng năm từ loại đạt yêu cầu trở lên theo quy định Chuẩn hiệu trưởng trường tiểu học, được bồi dưỡng, tập huấn về lý luận chính trị, quản lý giáo dục và chương trình mới theo quy định.       b) Số lượng và cơ cấu giáo viên (kể cả giáo viên thỉnh giảng, nếu có) bảo đảm để dạy các môn học, chuyên đề học tập và hoạt động trải nghiệm theo chương trình mới; 100% giáo viên đạt trình độ chuẩn hoặc trên chuẩn; xếp loại từ đạt yêu cầu trở lên theo quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học, giáo viên được đảm bảo các quyền theo quy định của Điều lệ trường phổ thông và của pháp luật; giáo viên được bồi dưỡng, tập huấn về dạy học theo chương trình mới.       3. Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục       a) Diện tích khuôn viên và các yêu cầu về xanh, sạch, đẹp, thoáng mát bảo đảm quy định; có cổng, biển tên trường, tường hoặc hàng rào bao quanh theo quy định; có sân chơi, bãi tập, chỗ thực hành ngoài trời theo quy định.       b) Số lượng, quy cách, chất lượng và thiết bị của phòng học bảo đảm theo quy định tối thiểu của Điều lệ trường phổ thông; kích thước, vật liệu, kết cấu, kiểu dáng, màu sắc của bàn ghế học sinh bảo đảm quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Xây dựng, Bộ Y tế; kích thước, màu sắc, cách treo bảng trong lớp học bảo đảm quy định về vệ sinh trường học của Bộ Y tế.       c) Khối phòng học, khối phòng phục vụ học tập, khối hành chính quản trị đạt tiêu chuẩn tối thiểu theo quy định.       d) Thư viện đạt tiêu chuẩn thư viện trường phổ thông theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; có các tủ sách lớp học, hoạt động của thư viện có tác dụng phát triển văn hoá đọc, khuyến khích và đáp ứng nhu cầu đọc, nghiên cứu, dạy học của cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh; bổ sung sách, báo và tài liệu tham khảo hằng năm đáp ứng yêu cầu dạy học theo chương trình mới.       đ) Thiết bị dạy học tối thiểu phục vụ giảng dạy, học tập và việc sử dụng thiết bị dạy học trong các giờ lên lớp và tự làm một số đồ dùng dạy học của giáo viên bảo đảm quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo; kiểm kê, sửa chữa, nâng cấp, bổ sung đồ dùng và thiết bị dạy học hằng năm đáp ứng yêu cầu dạy học theo chương trình mới.       4. Xã hội hoá giáo dục       a) Quán triệt quan điểm phát triển giáo dục là sự nghiệp của Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện thành công chương trình giáo dục phổ thông; bảo đảm điều kiện thực hiện chương trình; thực hiện nghiêm túc các chính sách của Đảng, Nhà nước đối với giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông. Nhà trường chủ động tham mưu với cấp uỷ Đảng, chính quyền và phối hợp với các cá nhân, tổ chức đoàn thể ở địa phương để huy động đa dạng các nguồn lực tham gia các hoạt động giáo dục và hỗ trợ kinh phí, cơ sở vật chất nhà trường, xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, an toàn.       b) Phối hợp tốt giáo dục gia đình và giáo dục nhà trường. Gia đình, cha mẹ học sinh được hướng dẫn phối hợp và tham gia giáo dục con em theo yêu cầu của lớp học, cấp học; Ban đại diện cha mẹ học sinh có cơ cấu tổ chức, nhiệm vụ, quyền, trách nhiệm và hoạt động theo Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh; nhà trường tạo điều kiện thuận lợi để Ban đại diện cha mẹ học sinh hoạt động.       c) Phối hợp tốt giáo dục nhà trường và giáo dục xã hội. Nhà trường chủ động tổ chức, hướng dẫn học sinh tham gia các hoạt động Đoàn – Đội – Hội, hoạt động xã hội, tích cực góp phần thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, qua đó thực hiện giáo dục học sinh trong thực tiễn đời sống.       5. Bồi dưỡng giáo viên phương pháp dạy học       Với cấu trúc của chương trình tiểu học mới là dạy học 2 buổi/ngày và để thực hiện có hiệu quả, trường tiểu học cần đảm bảo tốt cả 4 yếu tố như: Cơ sở vật chất trang thiết bị – phòng học; Chương trình, tài liệu dạy học; Công tác quản lý, quản trị trường học; Dội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên, trong đó đội ngũ giáo viên là yếu tố quan trọng nhất cho thành công của chương trình.        Để chuẩn bị triển khai chương trình mới đạt hiệu quả, đội ngũ giáo viên tiểu học phải được bồi dưỡng cả về kiến thức và kĩ năng sư phạm, trong đó bồi dưỡng để mỗi giáo viên nắm vững cấu trúc chương trình lớp học, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học trước khi thực hiện. Đây là kinh nghiệm quý báu từ việc thực hiện chương trình tiểu học 2000 đang dạy học từ những năm học trước, tập huấn triển khai cho giáo viên khi chưa nắm vững cấu trúc chương trình lớp học.       Trong quá trình bồi dưỡng giáo viên, chú trọng nâng cao năng lực tổ chức hoạt động dạy học, trong đó bồi dưỡng kĩ năng sư phạm. Chương trình tiểu học năm 2000 hiện nay coi sách giáo khoa là Pháp lệnh và giáo viên áp dụng dạy học đồng loạt giống nhau với mọi đối tượng học sinh, qua 2 lần giảm tải và đang dạy học hiện nay vẫn còn bộc lộ các nội dung chưa hợp lý.       Chương trình tiểu học mới giao quyền chủ động cho nhà trường và giáo viên căn cứ tình hình thực tiễn tổ chức dạy học phù hợp đối tượng học sinh, do vậy giáo viên cần bồi dưỡng kĩ năng xây dựng lựa chọn nội dung chương trình dạy học, khuyến khích tinh thần sáng tạo của mỗi giáo viên, thực hiện tốt quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động chuyên môn, phát huy vai trò nòng cốt của các tổ khối chuyên môn để có nhiều hoạt động đóng góp cho việc thực hiện chương trình linh hoạt, chất lượng, hiệu quả.       Trên cơ sở chương trình, sách giáo khoa do Bộ GDĐT phát hành, giáo viên thiết kế Kế hoạch dạy học trên cơ sở đổi mới phương pháp dạy học kết hợp đổi mới đánh giá học sinh tiểu học là yếu tố rất quan trọng.        Giáo viên dạy học chương trình mới vừa cung cấp kiến thức vừa phát triển hài hòa cả phẩm chất và năng lực, trong đó hình thành và phát triển các phẩm chất “chăm học, chăm làm, trách nhiệm, trung thực, kỷ luật”, các năng lực “hợp tác, tự quản, tự học và giải quyết vấn đề”. Để hình thành và phát triển các năng lực, phẩm chất của học sinh tiểu học, giáo viên phải thiết kế để cho học sinh vừa tham gia học vừa tự học để từ đó các em được hình thành các kĩ năng thông qua các hoạt động thực tiễn, trong đó tổ chức các hoạt động trải nghiệm với các nội dung phù hợp để chính các em được tham gia, được tự hoàn thiện bản thân mình./.

Nguyễn Duy Hải – Trưởng phòng GDTH Sở GDĐT

Seminar: “Vận Dụng Các Phương Pháp Dạy Học Tích Cực Trong Giáo Dục Mầm Non” / 2023

Ngày nay, giáo dục mầm non được xem là chìa khóa vàng để đặt nền móng cho mỗi người, mỗi quốc gia tiến bước vào tương lai. Thực tế đó đòi hỏi người giáo viên mầm non cần phải nắm vững các kỹ thuật sử dụng từng phương pháp dạy học cụ thể.

Nhận thức rõ việc trang bị các kỹ thuật sử dụng từng phương pháp dạy học cho giáo viên có vai trò quan trọng nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ, trong những năm qua, Khoa Giáo dục Mầm non đã thực hiện nhiều giải pháp, tăng cường đổi mới chương trình đào tạo đưa chất lượng sinh viên của Khoa ngày càng tăng cao. Vừa qua, tối ngày 12/01/2021 Khoa Giáo dục Mầm non đã tổ chức Seminar: “Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực trong Giáo dục mầm non”. Tham gia buổi seminar là toàn thể giảng viên và gần 300 sinh viên Khoa Giáo dục Mầm non.

Chương trình seminar gồm hai phần chính gồm:

Báo cáo viên trình bày 3 phương pháp dạy học tích cực hiện nay (Phương pháp Montessori; Phương pháp giáo dục STEM; Phương pháp Reggio Emilia).

“Hành trình nuôi dạy một em bé hạnh phúc” đối với mỗi phương pháp đều có những nguyên tắc, lấy trẻ làm trọng tâm và cung cấp cho trẻ một môi trường học tập, phát triển tư duy nội tại, thích ứng được với một xã hội học tập thường xuyên, học tập suốt đời. Chương trình seminar đã làm rõ bản chất việc học ở trẻ em là thông qua sự bắt chước, khám phá, trải nghiệm, thực hành để hiểu về những sự vật, hiện tượng diễn ra xung quanh trẻ, đồng thời trẻ học cách biểu đạt những hiểu biết đó thông qua sự chia sẻ, trao đổi với bạn bè. Vì vậy, vai trò của giáo viên là khai thác các tình huống cũng như các vật liệu khác nhau để khuyến khích trẻ chơi, khuyến khích trẻ hoạt động cùng nhau. Giáo viên giúp trẻ suy nghĩ nhiều hơn về những gì chúng nhìn thấy và đang làm, kích thích trẻ quan sát, xem xét, phỏng đoán các sự vật hiện tượng xung quanh và chia sẻ điều trẻ nhìn thấy, điều trẻ nghĩ hoặc điều còn băn khoăn, thắc mắc.

Vũ Hoàng

Xu Hướng Áp Dụng Chương Trình Học Steam Vào Giáo Dục / 2023

Vào ngày 04.05.2017, thủ tướng chính phủ ra chỉ thị số 16/CT-TTg về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Trong đó có đề rõ nhiệm vụ của ngành Giáo dục là cần thúc đẩy triển khai giáo dục STEAM tại các cơ sở giáo dục, tăng cường nâng cao những kỹ năng, kiến thức, tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4, trong đó đặc biệt chú trọng đến chương trình học STEAM trong các cấp học – thế hệ nền tảng của đất nước.

Chắc hẳn khái niệm STEAM là gì ? (viết tắt của Khoa học – SCIENCE, Công nghệ – TECHNOLOGY, Kỹ thuật – ENGINEERING, Nghệ thuật – ART và Toán học – MATH) không còn xa lạ với các bậc phụ huynh và thầy cô giáo. Vậychương trình học STEAM là gì? Chương trình học STEAM là chương trình dạy và học được áp dụng theo phương pháp STEAM nhằm mang đến cho trẻ môi trường học chủ động, sáng tạo, mang tính ứng dụng thực tiễn cao.

Buổi học áp dụng chương trình học STEAM

Bản chất của chương trình học STEAM là trang bị cho học sinh, sinh viên các kiến thức, kỹ năng về khoa học, công nghê, kỹ thuật, nghệ thuật và toán học. Những kiến thức này được tổng hợp, lồng ghép và bổ trợ lẫn nhau trong mỗi bài học. Bên cạnh việc học lý thuyết, người học còn được thực hành song song để làm sao hiểu rõ nhất bản chất, tính ứng dụng của những lý thuyết đã được học. Chương trình học STEAM được triển khai chủ yếu thông qua hoạt động trải nghiệm – thực hành. Điều này giúp học sinh, sinh viên có thể dễ dàng ứng dụng các kiến thức đã được học vào thực tế đời sống, là nền tảng để những sản phẩm hiện đại ra đời phục vụ cho cuộc sống.

2. Xu hướng áp dụng chương trình học STEAM là xu thế tất yếu

Theo hiệp hội các giáo viên dạy khoa học quốc gia Mỹ (National Science Teachers Association – NSTA, thành lập năm 1944) khái niệm giáo dục STEAM được đề xuất ra với định nghĩa ban đầu như sau:

“Chương trình học STEAM là cách tiếp cận liên ngành trong quá trình học, trong đó các khái niệm học thuật mang tính nguyên tắc được lồng ghép với các bài học trong thế giới thực, ở đó các học sinh áp dụng các kiến thức trong khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán vào trong các bối cảnh cụ thể giúp kết nối giữa trường học, cộng đồng, nơi làm việc và các tổ chức toàn cầu, để từ đó phát triển các năng lực trong lĩnh vực STEAM và cùng với đó có thể cạnh tranh trong nền kinh tế mới”

Buổi học áp dụng chương trình học STEAM

Tại sao nói chương trình học STEAM là xu thế tất yếu?

Thứ nhất, STEAM đem đến phương pháp dạy học “liên môn” – phương pháp dạy học có sự kết hợp, bổ trợ của các môn học với nhau, khác với “đa môn” – phương pháp dạy học truyền thống, các môn học tách lẻ rời rạc và không có sự liên kết.

Thứ hai, Sự lồng ghép giữa lý thuyết và thực hành khiến bài học trở nên sống động, có ý nghĩa và mang tính thực tiễn hơn. Thay vì phải học lượng kiến thức khổng lồ và mơ hồ thì với chương trình học STEAM, học sinh sinh viên có thể học đến đâu thực hành đến đó, đem những kiến thức mình vừa được học áp dụng ngay vào thực hành để giải quyết các đề tài – dự án. Từ đó có thể chủ động tìm ra phương án tối ưu giải quyết các vấn đề trong cuộc sống.

QG Technology cung cấp giải pháp cho chương trình học STEAM một cách toàn diện, từ những chú robot giáo dục nổi bật dành cho mọi lứa tuổi như mTiny, mBot,… đến những chi tiết nhỏ lẻ tách rời, tất cả đều đạt tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng.

Chúng tôi luôn luôn tìm tòi nghiên cứu những giải pháp, công cụ giáo dục hiện đại và hiệu quả nhất nhằm mang đến những trải nghiệm học tập toàn diện, xóa bỏ khoảng cách giữa hàn lâm và thực tiễn.

QG Technology hiện đang là nhà phân phối chính thức các sản phẩm của Makeblock tại Việt Nam.

Liên hệ để đặt mua hoặc trở thành đại lý phân phối đồ chơi thông minh chính hãng Makeblock tại:

QG Technology – Nhà phân phối Makeblock tại Việt Nam

D26 shophouse, số 107 Xuân La, phường Xuân Tảo, Bắc Từ Liêm, Hà Nội

Bạn đang đọc nội dung bài viết Vận Dụng Kỹ Thuật Kwl Trong Giảng Dạy Các Học Phần Tâm Lý Giáo Dục Đáp Ứng Chương Trình Giáo Dục Tiểu Học Mới / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!