Đề Xuất 2/2023 # Văn Hóa Nhật Bản: 3 Điểm Khác Nhau Giữa Đền Và Chùa # Top 4 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 2/2023 # Văn Hóa Nhật Bản: 3 Điểm Khác Nhau Giữa Đền Và Chùa # Top 4 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Văn Hóa Nhật Bản: 3 Điểm Khác Nhau Giữa Đền Và Chùa mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Đền và chùa là một phần quan trọng trong văn hóa Nhật Bản. Đây cũng được xem là một trong những địa điểm hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Có đến 80,000 ngôi đền và 75,000 ngôi chùa trên toàn nước Nhật. Cùng Sông Hàn Tourist khám phá Nhật Bản qua sự khác nhau giữa đền và chùa qua diện mạo và phương thức thờ cúng.

Sự khác nhau giữa đền và chùa trong văn hóa Nhật Bản (Nguồn: Shutterstock)

1. Tôn Giáo

Trong tiếng Nhật, ngôi đền được gọi là jinja. Trong Thần đạo, người dân Nhật Bản tin rằng có linh hồn và thần linh tồn tại ở Shinrabansho (tất cả mọi thứ về vũ trụ). Họ tôn thờ núi rừng, đá, cây cối và tất cả những thứ khác trong tự nhiên tựa như các vị thần.

Đền thờ là biểu tượng của Thần đạo – nơi cất giữ những giá trị xưa cũ và là địa điểm dừng chân của những ai theo đạo. 

Mặc khác, trong truyền thống nước Nhật chùa được gọi là tera – khởi sinh từ Ấn Độ và Trung Quốc. Phật Giáo thường được thờ cúng tại các ngôi chùa – nơi các nhà sư sinh sống và thờ Phật. Những tượng Phật quan trọng thường được đặt tại trung tâm ngôi chùa. 

Chùa ở Nhật được đặt tại những nơi có vị thế tuyệt vời (Nguồn: Shutterstock)

2. Diện Mạo

Diện mạo là thứ dễ dàng nhận biết và phân biệt giữa đền và chùa. 

Đền thường gắn liền với cổng Torii – biểu tượng quan trọng trong văn hóa Nhật Bản – được đặt ngay tại cổng vào và được sơn màu đỏ nổi bật. Đó là cách nhanh nhất bạn có thể nhận ra những ngôi đền truyền thống. Một số ngôi đền khác xây dựng cổng vào bằng những nguyên vật liệu cùng bề ngoài đồ sộ hơn cổng Torii. Ngoài ra, một số chùa khác có một nghĩa trang đặt cạnh.

Diện mạo là điểm dễ phân biệt nhất giữa đền và chùa (Nguồn: Shutterstock)

Khi du lịch Nhật, bạn có thể nhìn thấy đền thờ chó (Komainu) – nơi thờ hình tượng chó, một số khác thờ những động vật khác như Cáo. Trong khi đó, tượng Niō tại các chùa được đặt với ý nghĩa bảo vệ các vị Phật. Đây là điểm đặc trưng giúp bạn dễ dàng phân biệt đền chùa khi đến Nhật.

*Tượng Niō thường đứng hai bên cổng chùa thể hiện tướng phẫn nộ trên khuôn mặt. Sở dĩ có tạo hình như vầy là do việc tính cách hóa thần bảo hộ các tượng Phật bên trong chùa.

3. Hình Thức Thờ Cúng

Nếu bạn viếng thăm các đền chùa tại Nhật, hãy hiểu rằng hình thức thờ cúng có đôi chút khác biệt. Dẫu thế, người dân Nhật Bản không nhận ra sự khác biệt và thờ phụng theo cách của đền tại các ngôi chùa. Tuy nhiên đền và chùa cũng có một số điểm chung, nổi bật nhất chính là nghi thức cúi lạy hay còn gọi là Ojigi.

Nghi lễ tôn giáo đặc biệt của người Nhật (Nguồn: Unsplash)

Tại chùa:

1. Cúi đầu ngay trước cổng chùa

2. Đi dọc theo bên đường khi đi ngang qua cổng chùa

3. Rửa tay và miệng theo nghi thức dưới ảnh

Đầu tiên, bạn rửa sạch tay trái với chiếc gáo nước rồi đến tay phải sau đó súc miệng bằng nước này. Cuối cùng kết thúc bằng việc rửa lại tay cầm của gáo với một ít nước. 

4. Chạm vào khói hương

Theo quan niệm của văn hóa Nhật Bản, khói hương là một phần của cơ thể. Vì thế khi đến chùa hãy dùng tay để vẫy khói từ lư hương về phía mình. 

5. Cầu nguyện

Trước tiên hãy xếp hàng và chờ đến lượt mình khi số lượng khách quá đông. Khi đến lượt của mình, bạn hãy cúi lạy và cho một ít tiền tùy hỷ vào thùng trước khi chắp tay cầu nguyện.

Tại đền:

Nghi thức tôn giáo của đền cũng tương tự như tại các ngôi chùa. Tuy nhiên cách thức cầu nguyện có đôi chút khác biệt. Trước hết, cúi lạy và cho tiền vào thùng tiền cúng điếu sau đó làm theo những bước cụ thể sau:

1. Lạy 2 lần

2. Vỗ tay nhẹ 2 lần

3. Gập người để cúi lạy

Địa Điểm Du Lịch Nhật Tham Quan Đền Chùa

Kiến trúc đặc biệt của đền Meiji (Nguồn: Shutterstock)

Tại Tokyo, chùa Sensoji ở Asakusa là một trong những địa danh nổi bật với chiếc cổng đỏ khổng lồ mang tên Kaminarimon. Kyoto cũng là một nơi thật tuyệt để cầu nguyện ở những ngôi chùa như Kiyomizudera hay chùa Vàng Kinkakuji – 2 ngôi chùa nổi tiếng nhất đất nước. 

Chùa Vàng Kinkakujin tuyệt đẹp (Nguồn: Shutterstock)

Sông Hàn Tourist với nhiều tour du lịch Nhật hấp dẫn: https://songhantourist.com/tour-du-lich/tour-nhat-ban

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Công ty TNHH TM Du lịch và Dịch vụ Sông Hàn – Chi nhánh TP.HCM

Địa chỉ: Lửng 01, tầng lửng, Tòa nhà Trung tâm Tài chính Bảo Việt, 233 Đồng Khởi, P.Bến Nghé, Q.1

Hotline: 02873012939

Email: [email protected]

Tìm Hiểu Sự Khác Nhau Giữa Đền Và Chùa Ở Nhật Bản|Kênh Du Lịch Locobee

Đền chùa là hình ảnh thường bắt gặp ở các địa phương trên mọi miền của Nhật Bản. Dù không có quá nhiều dịp để vãn cảnh đền chùa nhưng tới thăm đền chùa vào những ngày như đầu năm mới cùng với người thân, bạn bè là văn hoá của người Nhật.

Đền và chùa đều là những nơi vô cùng thiêng liêng, thần thánh. Vậy đối với người Nhật người ta phân biệt giữa đền và chùa như thế nào?

Cách nhìn độc đáo về tôn giáo của người Nhật

Ở Nhật Giáng sinh, lễ Tình nhân, gần đây còn có ngày lễ hoá trang Halloween… đều là những dịp mà mọi người vô cùng hân hoan đón chào. Tuy nhiên cũng không thể không kể đến Tết Dương lịch, ngày hội ném đậu Setsubun… những ngày mang tính chất truyền thống được truyền từ đời này sang đời khác.

Cảm nhận bốn mùa Nhật Bản: Ngày hội ném đậu Setsubun (3/2)

Có khá nhiều các trường mẫu giáo, trường học theo đạo Thiên Chúa giáo, Phật giáo ở Nhật. Nhiều người Nhật theo học những trường học khác với tôn giáo của chính mình. Ngoài ra, việc tổ chức hôn lễ theo phong cách Thiên Chúa giáo ở các nhà thờ là điều không hề hiếm.

Nghi thức tại nhà thờ ở lễ cưới Nhật Bản

Tuy có người rất sùng bái tôn giáo của mình nhưng cũng có người không quá câu nệ trong vấn đề tôn giáo. Họ chỉ đơn giản là muốn tham gia một cách vui vẻ vào các nghi thức. Không những thế còn có người tin vào những tôn giáo khác nhau và hành xử một cách linh hoạt theo từng tôn giáo.

Đền ở Nhật

Đền được dựa trên đạo Shinto là một tín ngưỡng của dân tộc Nhật Bản. Người ta tin rằng đền là nơi có sự tồn tại của thần thánh. Theo đạo Shinto thì vạn vật trên thế gian đều có một vị thần tương ứng. Thần thánh thì không tồn tại ở hình dạng như các tượng mà là đối tượng không nhìn thấy được. Người Nhật ý thức mạnh mẽ rằng các vị thần sẽ bảo vệ cho bộ tộc, xóm làng và vô cùng thân thiết đối với cuộc sống hàng ngày của con người.

Điểm đặc trưng có thể nhìn thấy ở các đền là sự có mặt của Linh Mục (神主 – Kannushi), Miko (巫女 – thiếu nữ phục vụ trong đền), cổng Torii (鳥居 – các cánh cổng được sơn đỏ), thánh điện (社殿 – shaden), sando (参道 – con đường dẫn đến miếu).

Chùa ở Nhật

Cũng giống với chùa ở Việt Nam, chùa ở Nhật cũng là nơi thuộc về Phật giáo. Trước đây nó được bắt đầu là nơi tiến hành các nghi thức của các tăng lữ. Sau đó với sự có mặt của các tượng Phật người ta xây dựng nên các Phật đường và là nơi dành cho những người tin vào Phật giáo.

Ở chùa thường có các tăng lữ, nữ tu. Đây là nơi tiến hành đọc Kinh thánh của Phật giáo, tổ chức tang lễ. Trong khuôn viên của chùa có hình thức mua bán và quản lí đất để xây mộ cho người đã mất.

Ngày Tết nên đi vãn cảnh đền hay chùa?

Ở Nhật vào những ngày thường, họ ít khi đến đền hoặc chùa. Tuy nhiên dịp đầu năm mới cũng giống người Việt Nam người Nhật thường tới những chốn linh thiêng này.

Vậy thì vào những ngày đầu năm mới, đi thăm đền hay chùa mới là đúng? Câu trả lời là cả 2 đều được. Theo thông lệ người ta có thể đến chùa để thăm mộ của tổ tiên hoặc tới tế lễ vị thần ở gần nơi mình đang sinh sống. Đó là tục lệ từ ngày xưa. Tuy nhiên gần đây người Nhật có thể đi tới ngôi đền, chùa nào mà mình muốn đi không quan trọng phải gần nơi mình ở.

Nami (LOCOBEE)

* Bài viết thuộc bản quyền của LOCOBEE. Vui lòng không sao chép hoặc sử dụng khi chưa có sự đồng ý chính thức của LOCOBEE.

Văn Hóa Nhật Bản

Kimono không chỉ là phục trang mang giá trị truyền thống mà còn là linh hồn của nền văn hóa Nhật Bản. Trải qua hàng ngàn năm thay đổi và phát triển, Kimono vẫn luôn giữ được nét riêng và mang giá trị này đến toàn thế giới.

Kimono Nhật Bản với thiết kế đầy màu sắc (Nguồn: Internet)

1. Sơ lược nguồn gốc và sự phát triển Kimono

Vào đầu thế kỉ thứ 7 dưới triều đại Heian, đường phố Nhật xuất hiện một bộ quần áo có thiết kế giống với Kimono ngày nay. Người dân nơi đây truyền tai nhau về bộ trang phục được gia công tỉ mỉ, sử dụng chất vải mềm mại thay vì cotton thời điểm đó. Tuy nhiên ít ai biết rằng, mẫu quần áo nổi tiếng này có xuất xứ từ Trung Hoa. Vì thế, vị vua đương thời không chấp nhận trang phục xuất thân ngoại quốc trở thành quốc phục của Nhật Bản.

Mỗi bộ trang phục Kimono thể hiện tài năng và sự tinh tế của người thiết kế (Nguồn: Internet)

Đến năm 984, các thợ dệt vải bắt đầu thiết kế một bộ trang phục tương đồng nhưng lại mang cốt cách của văn hóa Nhật Bản. Từ một bộ quần áo cotton, người Nhật đã chắt lọc những tinh túy, thổi hồn vào trang phục và sớm biến nó trở thành quốc phục của xứ Phù Tang. 

Phục trang Kimono thay đổi hoàn toàn nền thời trang Nhật từ nghìn năm trước (Nguồn: Internet)

Nhiều năm sau, khi thời đại Samurai phát triển và có sức lan tỏa, các võ sĩ samurai thường diện kimono khi thi đấu. Đó cũng là lúc Kimono trở nên thân thuộc hơn đối với người dân Nhật. Vào thời kỳ Edo (1603 – 1868), Kimono có sự thay đổi và cải cách lớn trong thiết kế. Những chiếc thắt lưng obi làm từ vải được thêm vào giúp bộ quốc phục thêm gọn gàng, đẹp mắt, tạo điểm nhấn cho quốc phục.

2. Nét đặc trưng trong thiết kế của Kimono 

Thiết kế nguyên thủy của Kimono là loại trang phục được may với cánh tay xẻ tà dài chạm đất. Bên trong là nhiều lớp áo mỏng được phối màu một cách đặc sắc. Thời gian này, chi phí cho một bộ Kimono là cực kỳ đắt đỏ. Vì thế, chỉ có giới thượng lưu tại xứ hoa anh đào sử dụng trong các dịp lễ lớn.

Kimono thể hiện đường may sắc sảo của người thợ (Nguồn: Internet)

Mỗi bộ Kimono là một tác phẩm nghệ thuật đặc sắc. Kimono được may với các đường nét cắt thẳng, sử dụng vải lụa. Đặc biệt, các nghệ nhân may hoàn toàn bằng tay và thêm các chi tiết hoa văn đẹp mắt vào phục trang. Điều này giúp Kimono thêm phần lộng lẫy, rực rỡ so với quốc phục ở các nước khác. Nhiều tour du lịch Nhật Bản vào mùa hoa anh đào thường kết hợp thưởng thức màn trình diễn Kimono mãn nhãn.

Du lịch Nhật Bản và chụp lại những bộ hình đặc sắc khi diện Kimono (Nguồn: Internet)

3. Một số loại Kimono đặc trưng tại Nhật Bản

Kimono có rất nhiều loại được sử dụng với nhiều ý nghĩa khác nhau. Nếu là người yêu thích văn hóa Nhật Bản, chắc chắn bạn sẽ ngạc nhiên về một số loại Kimono đặc trưng đấy!

Yukata

Yukata là một loại Kimono thường được sử dụng nhất trong thời đại ngày nay. Chúng chỉ có một lớp áo bên ngoài đồ lót, tạo cảm giác thoải mái và không rườm rà so với các phục trang cổ. Yukata thường được mặc vào mùa hè hoặc tại các quán trọ truyền thống. Nếu có dịp du lịch Nhật Bản, bạn nhất định không thể bỏ qua trải nghiệm văn hóa vô cùng độc đáo này. Chắc chắn, cơ hội diện bộ yukata truyền thống và thả bước trên những con phố đẹp mơ mộng sẽ đem lại cho bạn những kỉ niệm tuyệt vời.

Nét trẻ trung, rạng ngời của các cô gái Nhật Bản khi diện trang phục truyền thống (Nguồn: Internet)

Furisode 

Furisode là trang phục dành riêng cho những bạn nữ chưa kết hôn. Nó tôn vinh nét đẹp trong sáng của các bạn nữ và được dùng trong ngày lễ Thành nhân tại Nhật. Hầu hết các thiết kế của Furisode có màu sắc và họa tiết tươi sáng, rực rỡ. Ngày nay, các bậc phụ huynh dành tặng con gái bộ phục trang Furisode trong lễ Thành nhân như món quà cho sự trưởng thành.

Các thiếu nữ Nhật Bản thường mặc Furisode trong Lễ thành nhân (Nguồn: Internet)

Tomesode

Trái ngược với Furisode, Tomesode là phục trang truyền thống của người Nhật sau khi đã lấy chồng. Trang phục này thường được mặc trong các dịp lễ quan trọng, mang tính truyền thống cao.

Thiết kế đặc sắc của bộ phục trang Tomesode trong văn hóa Nhật Bản (Nguồn: Internet)

Shiromuku

Shiromuku là loại trang phục dành riêng cho các cô dâu Nhật vào ngày cưới. Theo truyền thống văn hóa Nhật Bản, các cô dâu sẽ diện trang phục lộng lẫy nhất trong các loại Kimono. Phục trang này mang màu trắng, thể hiện sự thuần khiết của con gái lấy chồng. Ngày nay, người ta thường chỉ thuê Shiromuku chứ không mua, bởi giá thành của một bộ trang phục này thường cao ngất ngưởng!

Kimono cưới lộng lẫy dành cho cô dâu Nhật Bản (Nguồn: Internet)

Mofuku

Mofuku là loại kimono chỉ có duy nhất một màu đen. Đây là trang phục chỉ được mặc trong đám tang với ý nghĩa trang trọng và tôn vinh giá trị của những người đã khuất. 

Mofuku là lễ phục được dùng để dự đám tang của dòng họ thân thiết (Nguồn: Internet)

Có thể nói, sức lan tỏa của Kimono luôn mạnh mẽ, thể hiện được những giá trị đặc sắc trong văn hóa Nhật Bản. Mặc dù ngày nay, người Nhật không mặc Kimono thường xuyên, tuy nhiên Nhật Bản luôn cố gắng gìn giữ nét truyền thống đẹp đẽ này.

Bạn có thể đăng ký tham gia chuyến du lịch Nhật Bản mùa hoa anh đào tại Sông Hàn Tourist để chiêm ngưỡng cảnh đẹp và ngắm nhìn phục trang Kimono với bề dày lịch sử hàng nghìn năm. 

THÔNG TIN LIÊN HỆ

Công ty TNHH TM Du lịch và Dịch vụ Sông Hàn – Chi nhánh TP.HCM

Địa chỉ: Lửng 01, tầng lửng, Tòa nhà Trung tâm Tài chính Bảo Việt, 233 Đồng Khởi, P.Bến Nghé, Q.1

Hotline: 02873012939

Email: [email protected]

So Sánh Văn Hóa Nhật Bản Và Văn Hóa Việt Nam

Theo cách phân chia thông thường hiện nay thì Việt Nam và Nhật Bản ở vào hai khu vực văn hoá khác nhau. Nhật Bản là một nước Đông á, còn Việt Nam thuộc Đông Nam á. Không dễ gì đem văn hoá thuộc hai khu vực khác nhau để so sánh, nhưng chúng ta lại rất cần đến nghiên cứu so sánh để có thể hiểu sâu thêm từng đối tượng và hiểu rộng thêm mối quan hệ giữa các đối tượng này. Mặt khác, sự phân chia thành các khu vực văn hoá, thực chất cũng chỉ là một cách làm của các nhà khoa học nhằm phân lập một cách tương đối một thực thể nào đó, chứ hoàn toàn không có nghĩa là chia cắt chúng một cách tuyệt đối. Hơn thế, do tác động của hoàn cảnh lịch sử, các dân tộc thuộc các khu vực văn hoá khác nhau lại có nhiều mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp, vì vậy so sánh để tìm ra những mối liên hệ, rút ra những điểm tương đồng và dị biệt lại là việc làm hết sức cần thiết và bổ ích. Nhật Bản và Việt Nam có thể coi là những trường hợp như thế. Hơn nữa, Việt Nam và Nhật Bản lại cùng chịu nhiều ảnh hưởng từ văn minh Trung Hoa, nên có không ít những điểm tương đồng, nhưng nếu nghiên cứu sâu hơn những biểu hiện của ảnh hưởng này lại tìm ra những khác biệt đáng kể.

Chọn Nhật Bản để so sánh, tác giả muốn đạt tới sự nhận thức sâu sắc hơn về văn hoá Việt Nam và qua đó, góp phần hiểu thêm về mối quan hệ Đông á và Đông Nam á.

Có nhiều phương pháp so sánh nhưng phương pháp được sử dụng trong bài này là so sánh theo tiêu chí. Theo chúng tôi có thể chọn 5 tiêu chí sau đây:

1. Điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái.

Với nhận thức của khoa học ngày nay, điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái được coi là tác nhân cực kỳ quan trọng đến sáng tạo văn hoá của con người. Sự tác động qua lại giữa tự nhiên và con người là nhân tố chính tạo nên đặc trưng văn hoá.

2. Sự hình thành nhà nước đầu tiên.

Đây là sự kiện có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với mọi dân tộc vì sự xuất hiện nhà nước vừa là cái mốc bước nhảy vọt của một cộng đồng cư dân đưa họ bước vào thời đại văn minh vừa là sự kết tinh của những thành tựu về văn hoá đã đạt được trước đó, bước đầu định hình một bản sắc văn hoá.

3. Những đặc điểm về cư dân và đặc trưng văn hoá truyền thống.

Nói tới văn hoá, không thể không xem xét chính chủ thể của văn hoá, nên nguồn gốc, quá trình tộc người và đặc điểm của cả cộng đồng là những yếu tố không thể bỏ qua. Còn đặc trưng của văn hoá truyền thống ở đây là xét trên những đặc trưng chung nhất của 4 thành tố cấu thành văn hoá.

4. Các hình thức tổ chức nhà nước trong lịch sử.

Từ khi nhà nước hình thành, mặc dù là sản phẩm của văn hoá do chính con người tạo ra nhưng các hình thức tổ chức nhà nước có tác động rất mạnh mẽ đến chiều hướng phát triển của lịch sử và chi phối những đặc trưng của xã hội.

5. Ứng xử với văn hoá ngoại lai.

Văn hoá được sản sinh trong một không gian nhất định và giới hạn của nó thường là môi trường tự nhiên, nhưng văn hoá không bao giờ là đóng kín. Sự lan toả những giá trị của một nền văn hoá này tới những nền văn hoá khác là một hiện tượng tự nhiên, nhưng cách ứng xử trước hiện tượng tự nhiên ấy là phụ thuộc vào, và vì vậy, phản ánh đặc trưng của chính những nền văn hoá chịu những tác động ấy. Vì vậy đây có thể coi là một trong những tiêu chí để có thể xét sự tương đồng và khác biệt giữa các nền văn hoá.

Xét theo tiêu chí thứ nhất về điều kiện tự nhiên và môi trường sinh thái, có thể thấy Việt Nam là một bán đảo với diện tích tự nhiên hơn 33 vạn km2 và hơn 3000 km bờ biển. Chỉ số duyên hải (ISCL) tính được ” 106. Trong khi đó, Nhật Bản là một quần đảo với 3.600 hòn đảo lớn nhỏ quây quần xung quanh 4 hòn đảo lớn. Tổng diện tích tự nhiên ” 377.000 km2 và 29.000 km bờ biển, chỉ số ISCL ” 13 (1).

Do địa hình dốc, mưa theo mùa tạo thành mạng lưới sông ngòi dày đặc (trên có tới gần 3.000 con sông lớn nhỏ), xoè theo hình nan quạt ở phía bờ biển. Do bồi lấp không hoàn chỉnh, vùng đồng bằng hay có úng lụt, tạo thành vùng sinh thái có nhiều mặt nước chiếm chỗ. Người Việt gọi Tổ quốc mình là nước.

Khí hậu Việt Nam tương đối đa dạng. ở miền Bắc có 4 mùa Xuân, Hạ, Thu, Đông rõ rệt. Miền Nam chia thành 2 mùa Khô và Mưa. Đặc điểm chung là nóng, ẩm, rất thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, nhưng cũng là môi trường thuận lợi cho dịch bệnh. Cùng vớí chế độ nhiệt đới gió mùa, hằng năm có bão, thiên nhiên cũng đặt ra không ít những thử thách hiểm nghèo. Mưa, lũ, bão, ẩm, dịch bệnh là những thiên tai mà người Việt thường xuyên phải đối phó.

Do lãnh thổ trải dài trên 15 vĩ tuyến, lại có nhiều mạch núi cắt ngang, tạo thành nhiều âu khí hậu khác nhau mà rõ nhất là Bắc, Trung, Nam Bộ. Cùng với sự đa dạng về địa hình, sự khác biệt về khí hậu là những yếu tố tự nhiên nên sự đa dạng, phong phú về văn hoá phân bố theo vùng, miền.

Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng và phong phú, nhưng nhìn chung trữ lượng không cao. Ưu thế tài nguyên chủ yếu là đất. Nông nghiệp đã xuất hiện sớm và là ngành kinh tế chủ đạo trong suốt mọi thời kỳ lịch sử.

Một đặc điểm nổi bật của điều kiện tự nhiên Việt Nam là vị trí địa lí giao tiếp, là nơi giao lưu của nhiều dòng văn hoá và là nơi luôn bị tác động của khu vực và thế giới. Lãnh thổ quốc gia được mở rộng dần theo thời gian.

Tuy có diện tích tự nhiên rộng hơn, nhưng khác với Việt Nam, Nhật Bản có tới 75% diện tích là núi và 67% rừng xanh che phủ. Với lượng mưa không lớn (trung bình khoảng 300mm/năm) và do địa hình núi gần biển, Nhật Bản không có nhiều sông. 13 con sông được ghi trong các sách địa lý đều ngắn, nhỏ và nghèo phù sa. Nhật Bản hầu như không có đồng bằng châu thổ (2). Ngay cả những vùng được gọi là đồng bằng như vùng Kanto và Kansai, thực chất cũng chỉ là những thung lũng lớn được tạo thành bởi nham thạch của núi lửa. Nhật Bản có tới 200 núi lửa, 60 ngọn trong số đó vẫn còn đang hoạt động. Chính vì vậy mà biểu tượng của người Nhật là núi lửa Fuji.Cả nước có khoảng 300 thung lũng, bị chia cắt thành 7 vùng núi lửa.

Bù lại sự chật hẹp về đất đai cư trú và trồng trọt, Nhật Bản có hệ thống cảng biển dày đặc.

Khí hậu Nhật Bản có sự cách biệt khá xa. Có vùng lạnh như Siberi (đảo Hokkaido), lại có vùng ấm như Đông Nam á (Okinawa và các đảo cực nam). Quanh năm có 4 mùa rõ rệt nhưng độ ẩm không cao. Khí hậu nói chung không thật thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Trong khi đó, Nhật Bản được coi là nước thiên tai rất khắc nghiệt với sự hoành hành thường xuyên của động đất, lũ quét, sóng thần, bão biển và núi lửa.

Do địa hình chia cắt, văn hoá Nhật Bản có thể chia thành nhiều vùng – địa phương. Nghèo về tài nguyên (3) kể cả đất canh tác, Nhật Bản chỉ có khoảng 2,5 triệu ha đất có thể canh tác được nhưng chỉ trong một vụ xuân hè.

Nhật Bản nằm giữa biển, nhưng trong các giai đoạn lịch sử trước khi có sự xuất hiện của người châu Âu, vị trí địa lý của quần đảo tương đối cách biệt nên ít chịu tác động tự nhiên mà thường chủ động du nhập các yếu tố văn minh từ bên ngoài.

Những nét tương đồng có thể thấy qua những đặc điểm mang tính hình thức như diện tích tự nhiên (33 vạn/38 vạn km2), địa hình, khí hậu đa dạng với đủ các vùng rừng núi, đồng bằng và duyên hải. Cả hai quốc gia đều phải đối phó với những thiên tai hiểm nghèo… Phân tích sâu hơn những tham số tự nhiên thì thấy những điểm dị biệt là rất đáng kể. Trước hết đó là sự khác nhau giữa một bán đảo với một quần đảo, do đó chỉ số ISCL chênh nhau tới hơn 8 lần (13/106). Do đặc điểm này mà tác động của yếu tố biển tới đời sống văn hoá của mỗi dân tộc rất khác nhau. Sự khác biệt còn thể hiện ở mức độ thuận lợi và thử thách do thiên nhiên đem lại như khắc nghiệt của thiên tai, sự phong phú giàu có về tài nguyên và ảnh hưởng của vị trí địa lý.

Trong tiêu chí thứ hai: cư dân và đặc trưng văn hoá, Việt Nam luôn được nhận diện như một quốc gia đa tộc người, ít nhất có tới 54 tộc người với ngôn ngữ và truyền thống văn hoá khác nhau, nhưng có một dân tộc chủ thể là người Kinh (hay Việt).

Đặc trưng văn hoá Việt được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài do tác động của nhiều nhân tố, nhưng về đại thể có thể coi những nhân tố sau đây có vai trò tác động chính yếu:

– Tác động của môi trường “nước”. Do tác động này mà hình thành các dạng thức văn hoá sông – nước với những tính cách của cư dân ở gần/trên sông, nước (can đảm, linh hoạt, mềm dẻo, dễ thích ứng, giỏi xử lí tình huống…).

– Tác động của hoàn cảnh lao động sản xuất (nông nghiệp trồng lúa nước). Trong quá trình chinh phục đồng bằng châu thổ, đắp đê, điều tiết nước để sản xuất và hợp lực phòng chống lũ lụt, người Việt cần tới sức mạnh cộng đồng. Làng, một loại hình tụ cư đậm tính cố kết trở thành hội điểm của rất nhiều đặc trưng văn hoá. Trong bảng giá trị truyền thống, đoàn kết (cố kết cộng đồng), hiếu với cha mẹ (gia đình hạt nhân là tế bào xã hội) và trọng lão (trọng kinh nghiệm) luôn là những chuẩn mực được đề cao. Nhưng cũng do hoàn cảnh sản xuất mà người nông dân Việt không quen hạch toán và lường tính xa. Bình quân (chia đều) trở thành một phương thức hữu hiệu duy trì mối quan hệ hoà đồng trong làng xã.

– Tác động của hoàn cảnh lịch sử mà nổi bật là phải thường xuyên đối phó với chiến tranh xâm lược. Tác động này đã tạo nên truyền thống bất khuất kiên cường, có ý thức độc lập tự chủ cao. Đồng thời cũng chính do tác động này mà thiết chế cộng đồng được gia cố thêm.

Về tôn giáo, tín ngưỡng, người Việt coi trọng đạo thờ cúng tổ tiên. Trong quá trình tiếp xúc với văn minh Trung Hoa, ấn Độ và phương Tây, Nho giáo, Phật giáo, Thiên chúa giáo lần lượt được du nhập vào Việt Nam. Các tôn giáo ngoại lai và các loại hình tín ngưỡng bản địa đã dung hợp nhau cùng tồn tại và phát triển. Việt Nam trở thành một xứ sở hỗn dung tôn giáo.

Khác với Việt Nam, Nhật Bản là một quốc gia thuần chủng, có bản sắc chung rất rõ nét. Trong kết cấu cư dân hiện nay, 99,4% dân số là người Nhật, bộ phận những cư dân khác còn lại chỉ chiếm 0,6% (gồm 600.000 người Triều Tiên, 40.000 người Trung Quốc và khoảng 20.000 Ainu). Quá trình “thuần chủng hoá” này đã diễn ra trong một quá trình lịch sử lâu dài trong điều kiện quần đảo Nhật Bản sống tương đối tách biệt với thế giới bên ngoài. Địa hình bị chia cắt bởi núi non, thung lũng và đảo dẫn tới sự hình thành nhiều dạng thức văn hoá địa phương. Người ta đã từng chia Nhật Bản thành 6 vùng văn hoá là Bắc hải đạo (đảo Hokkaido), Bắc lục đạo (vùng núi phía bắc, giáp biển Nhật Bản, chủ yếu là các tỉnh Nigata, Kanazawa), Đông hải đạo (vùng đồng bằng Kanto), Kinki (vùng đồng bằng Kansai), Tây hải đạo (đảo Kyushu), Nam hải đạo (đảo Shinkoku và các đảo phía nam).

– Xét về tác động của môi trường có thể thấy biển, núi, thung lũng, khí hậu ôn đới, núi lửa và động đất là những nhân tố tự nhiên tác động mạnh mẽ và thường xuyên đến quá trình hình thành văn hoá truyền thống Nhật Bản. Do tác động đó mà tính cách Nhật Bản cứng rắn, tiết kiệm, trung thành với các giá trị truyền thống và rất cầu toàn. Vị trí địa lý tương đối biệt lập (của cả quần đảo và của từng vùng) đã tạo nên tính cách đóng kín nhưng lại luôn có mặc cảm “bị bỏ rơi” nên luôn mong muốn hội nhập và học tập cái hay ở người khác.

– Về hoàn cảnh lịch sử, có thể thấy trong suốt thời kỳ trung đại, ngoại trừ hai lần tấn công xâm lược nhưng không thành của quân Mông – Nguyên, Nhật Bản hầu như không phải đối phó với ngoại xâm. Thay vì các cuộc kháng chiến bảo vệ tổ quốc, nội chiến giữa các thế lực phong kiến địa phương diễn ra tương đối thường xuyên và kết cục dẫn đến sự hình thành thiết chế Mạc phủ mà thực chất là sự thống trị của chính quyền quân sự, đứng đầu là các dòng họ Shogun (Tướng quân) song song với sự tồn tại phần nhiều trên danh nghĩa một chính quyền dân sự do Thiên hoàng (Teno) đứng đầu. Hoàn cảnh lịch sử này đã tạo nên tính kỉ luật, đề cao vai trò người chỉ huy. Chuẩn mực đạo đức là đề cao giữ chữ tín. Sự phát triển mạnh mẽ của các phong kiến địa phương tại mỗi thung lũng đã dẫn tới sự hình thành các đơn vị thân binh (Samurai) sau thành trở thành một tầng lớp có vị trí đặc biệt quan trọng trong xã hội dưới tên gọi Vũ sĩ (Bushi). Trong xã hội truyền thống, đại bộ phận cư dân sống ở nông thôn. Họ tụ cư thành các đơn vị gọi là mura (thôn). Khác với cấu trúc làng ở Việt Nam, trong các mura của Nhật Bản, xã hội có cấu trúc theo chiều dọc, nghĩa là có trật tự, lớp lang. Mọi thành viên đều có chức năng, bổn phận rất rõ ràng. Quan niệm “cá mè một lứa” hay “cá đối bằng đầu”, một kiểu dân chủ làng xã theo lối bình quân chủ nghĩa thường thấy ở Việt Nam, rất xa lạ với xã hội Nhật Bản.

Tôn giáo giữ vị trí độc tôn ở Nhật Bản là Shinto (Thần đạo). Tôn giáo này đã hoà trộn nhiều yếu tố Nho, Phật trên nền tín ngưỡng thờ tổ tiên là nữ thần mặt trời. Các tôn giáo khác ở Nhật rất kém phát triển, trừ phật giáo Đại thừa. Nhật Bản đã có thời coi văn minh Trung Hoa là mẫu hình lý tưởng để học theo, nhưng Nho giáo khi du nhập vào Nhật Bản không phải là nguyên mẫu. Người Nhật đã chọn lựa từng bộ phận nhưng rất tuân thủ giáo lý. Hệ thống tuyển chọn quan lại bằng thi cử hoàn toàn không được người Nhật áp dụng.

Trên bình diện cư dân và đặc trưng văn hoá, những nét tương đồng của Việt Nam và Nhật Bản thể hiện ở chỗ cả hai cộng đồng đều thuộc chủng Mongoloid và có chung yếu tố Nam á.

Văn hoá truyền thống của cả hai dân tộc đều hình thành trên nền tảng sản xuất nông nghiệp trồng lúa nước nên những đặc trưng như tính cộng đồng cao, trọng kinh nghiệm, tuổi tác, kinh nghiệm đều có nhiều nét tương đồng. Cùng chịu ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa nên Nho giáo, Đạo giáo và nhiều chuẩn mực Trung Hoa có thể tìm thấy trong văn hoá cả hai nước.

Tuy nhiên, tính chất đa dân tộc của cộng đồng cư dân Việt Nam rất khác với đặc điểm thuần chủng của người Nhật. Mặt khác sự trội vượt của yếu tố phương Nam và sự thiếu vắng hoàn toàn hoạt động không du mục của cư dân Việt và tính trội yếu tố phương Bắc với sự hiện diện của kinh tế du mục trong một thời kỳ lịch sử của Nhật Bản đã dẫn tới sự khác biệt đáng kể trong hai nền văn hoá. Nếu như ở Việt Nam, ảnh hưởng từ dưới lên là đặc trưng chủ đạo thì với văn hoá Nhật Bản ảnh hưởng từ trên xuống lại là xu hướng chi phối.

Việt Nam không có quốc đạo trong khi đó ở Nhật Bản đạo Shinto được coi là quốc giáo. Sự khác biệt trong văn hoá còn thể hiện ở tính cách ứng xử của hai dân tộc. Một bên là mềm mỏng, linh hoạt, dễ thích ứng, một bên coi trọng nguyên tắc, kỉ luật. Trong bảng giá trị đạo đức, người Việt trọng hiếu còn người Nhật thì trọng tín.

Nhà nước đầu tiên ở Việt Nam được xác định vào cuối thời Đông Sơn, cách ngày nay khoảng 2500 – 2700 năm. Như vậy là tương đối sớm. Tuy nhiên đây không phải là kết quả của một quá trình phân hoá xã hội sâu sắc mà trên cơ sở phát triển nhất định của các tiền đề kinh tế xã hội, những tác động khách quan của nhu cầu sản xuất và chống xâm lấn đã đẩy nhanh quá trình này. Ngay sau khi ra đời, nhà nước Văn Lang và sau đó là Âu Lạc đã phải liên tục đương đầu với quá trình bành trướng xuống phương Nam của các đế chế Trung Hoa. Đây là điểm khác biệt lớn của lịch sử Việt Nam so với Nhật Bản. Từ giai đoạn văn hoá Yayoi (thế kỷ III TCN – III SCN), kỹ thuật luyện kim và nghề trồng lúa nước du nhập vào Kyushu đã tạo nên bước nhảy vọt trong lịch sử Nhật Bản. Cùng với sự phát triển về kinh tế, phân hoá xã hội trở nên ngày càng sâu sắc. Vào giữa thế kỉ I SCN, tầng lớp Shucho (thủ lĩnh) giàu có xuất hiện. Sau đó hàng loạt Kuni (một loại hình nhà nước sơ khai) được hình thành, trong đó mạnh nhất là nước Wa. Ngay sau khi thành lập, vào năm 57 SCN, nước này đã xin thần phục nhà Hán mở ra một thời kỳ phát triển theo quỹ đạo của văn minh Trung Hoa.

Về các hình thức tổ chức nhà nước trong lịch sử, mặc dù đã từng tồn tại nhiểu kiểu loại nhà nước khác nhau, nhưng xu hướng chủ đạo là sự thắng thế của hình thức nhà nước trung ương tập quyền. Dưới thời Lý-Trần (1009 – 1400), mô hình “tập quyền thân dân” tồn tại gần 4 thế kỷ. Cả thế kỷ XV là thời kỳ thịnh trị của mô hình “tập quyền quan liêu” và thế kỷ XIX là thời kỳ thống trị của mô hình “tập quyền chuyên chế”. Duy có giai đoạn từ năm 1600 đến 1789 trong bối cảnh chiến tranh phe phái triền miên, ở đàng Ngoài tồn tại một thiết chế khá đặc biệt với sự tồn tại song song hai chính quyền: triều Lê trên danh nghĩa và Chúa Trịnh (chính quyền quân sự) nắm thực quyền.

Ở Nhật Bản, từ thế kỷ VII, dưới tác động của mô hình cai trị của nhà Đường, Nhật Bản cũng cố gắng xây dựng một chính quyền trung ương tập quyền dựa trên một hệ thống pháp luật hoàn bị đứng đầu là Thiên hoàng. Tuy nhiên từ thế kỷ X, chính quyền trung ương suy yếu vì các vị Kokushi do chính quyền trung ương cử đến đứng đầu Kuni ngày càng có nhiều trang viên (Shoen) do được tặng biếu.

Trong thời kỳ này hình thức xin thầu khai khẩn đất hoang (Myo) rất phát triển. Người trúng thầu gọi là Tato. Người nhiều ruộng gọi là Daimyotato. Những người này có rất nhiều Samurai (người hầu cận) làm cơ sở cho việc hình thành lực lượng vũ trang riêng. Đây chính là nguyên nhân dẫn tới những cuộc chiến tranh giữa các thế lực phong kiến địa phương và sự hình thành thể chế Mạc phủ (Bakkufu) từ năm 1192 và kéo dài cho đến tận cải cách Minh Trị (1868).

Những điểm tương đồng về tổ chức nhà nước của Việt Nam và Nhật Bản có thể thấy ở 3 điểm:

– Cùng chịu ảnh hưởng từ mô hình Nho giáo của Trung Hoa

– Đều chú trọng pháp luật

– Đặc biệt là thiết chế hai chính quyền ở Việt Nam từ 1600 đến năm 1789 và thiết chế Mạc phủ ở Nhật Bản từ 1192 đến 1868.

Sự khác biệt thể hiện ở chỗ:

– Việt Nam luôn thiết lập được thiết chế tập quyền mạnh còn ở Nhật Bản, chính quyền ở các địa phương mới là thế lực chi phối mọi mặt của đời sống xã hội. Thể chế Mạc phủ chỉ có thể khống chế địa phương về mặt quân sự.

– Do cần tới một đội ngũ quan lại hùng hậu, các chính quyền phong kiến Việt Nam bắt đầu từ triều Lý (1076) đã tiến hành tổ chức các kỳ thi để tuyển chọn nhân tài, từ đó hình thành một hệ thống lưỡng ban (văn và võ). Chính quyền phong kiến Nhật Bản chưa bao giờ áp dụng hệ thống này. Vì vậy tầng lớp sĩ ở Nhật Bản chính là các Samurai văn võ kiêm toàn.

Trong quá trình tiếp xúc với văn hoá ngoại lai, Việt Nam có ưu thế về vị trí địa lý. Và trên thực tế đã tiếp thu không ít những giá trị từ những nền văn hoá khác. Tuy nhiên do những đặc điểm riêng, ứng xử truyền thống của người Việt với văn hoá ngoại lai thường bắt đầu từ sự hoài nghi, rồi sau đó buộc phải chấp nhận nhưng tìm mọi cách cải biến theo chuẩn mực của mình. Trong khi đó, do hoàn cảnh lịch sử và những đặc trưng văn hoá khác biệt, người Nhật luôn cho rằng ở ngoài Nhật Bản có rất nhiều giá trị văn hoá cao hơn, nếu tiếp thu được sẽ tạo cho văn hoá của họ những bước nhảy vọt (kỹ thuật đúc đồng, lúa nước, các chuẩn mực văn minh Trung Hoa…), vì vậy ứng xử truyền thống của người Nhật là xác định đâu là đỉnh cao rồi cố chí học theo. Điều này còn bao hàm cả việc sau khi nhận ra một mô hình nào đó đã lỗi thời, họ sẵn sàng từ bỏ để đến với những chuẩn mực cao mới. Đó là trường hợp Nhật Bản quay lưng lại với mô hình Trung Hoa sau khi chiến tranh thuốc phiện chấm dứt với thắng lợi của người phương Tây. Từ đây chuẩn mực mà người Nhật quyết chí noi theo là văn minh phương Tây.

1. Ta thường nói đến sự tương đồng văn hoá giữa Việt Nam và Nhật Bản (đồng văn, đồng chủng). Điều này đúng vì cả hai dân tộc đều có những giá trị chung của châu á lấy nghề trồng lúa nước làm nền tảng kinh tế, đều chịu ảnh hưởng từ văn minh Trung Hoa và xét trên nhiều khía cạnh cụ thể cũng có thể tìm ra những điểm tương đồng, Chẳng hạn như sự tồn tại hai chính quyền quân sự và dân sự trong một thời kỳ lịch sử. Đấy là cơ sở thuận lợi trong quá trình giao lưu, hợp tác và học hỏi lẫn nhau.

2. Nhưng sẽ là sai lầm nếu cho rằng sự tương đồng giữa Việt Nam và Nhật Bản lớn tới mức có thể dùng chuẩn mực của nền văn hoá này để suy ra những đặc điểm tương tự ở nền văn hoá kia. Chẳng hạn như tính cách nông dân trồng lúa nước của Việt Nam hoàn toàn không thể dùng để quy chiếu tính cách nông dân Nhật Bản.

3. Để có thể học tập và mở rộng hợp tác, nhất thiết phải có những nghiên cứu cụ thể và sâu sắc. Điều này không chỉ đúng với trường hợp Việt Nam và Nhật Bản mà còn đúng với các trường hợp khác. Nói rộng ra về sự tương đồng và khác biệt văn hoá của hai khu vực Đông á và Đông Nam á cũng cần tính tới việc phải xem xét thật cụ thể từng trường hợp và từng tác nhân dẫn tới sự tương đồng và khác biệt đó.

GS.TSKH Vũ Minh Giang

1. Chỉ số duyên hải được tính bằng công thức: ISCL = å A / å L (Tổng diên tích tự nhiên chia cho tổng chiều dài đường bờ biển). ở Nhật Bản ISCL ” 13, Việt Nam ” 106, có nghĩa là 1 km đường bờ biển chỉ che phủ tương ứng với mỗi nước là 13 km2 và 106 km2 diện tích lục địa. Theo đó, chỉ số ISCL càng thấp thì tác động của biển tới văn hoá càng mạnh.

2. Trong một số sách địa lý của Nhật Bản có nhắc đến châu thổ sông Ota, tức vùng có thành phố Hiroshima, nhưng thực ra đấy chỉ là nói về đặc trưng thành tạo chứ quy mô bồi tụ và chất lượng phù sa của vùng này không giống với châu thổ ở các nơi khác trên thế giới.

3. Thực ra Nhật Bản đã từng có những mỏ khoáng sản lớn như đồng, bạc, vàng… nhưng tất cả hầu như nhưng đã khai thác hết từ thế kỷ XVII.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Văn Hóa Nhật Bản: 3 Điểm Khác Nhau Giữa Đền Và Chùa trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!