Đề Xuất 2/2023 # Về Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Trong Cơ Chế Phân Công, Phối Hợp Và Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước # Top 5 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 2/2023 # Về Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Trong Cơ Chế Phân Công, Phối Hợp Và Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước # Top 5 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Về Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Trong Cơ Chế Phân Công, Phối Hợp Và Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

1. Đặt vấn đề

Ở nước ta, quyền lực nhà nước là thống nhất, nhưng được thừa nhận bao gồm 3 quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Thông qua Hiến pháp, các quyền này được phân công cho các cơ quan khác nhau thực hiện. Không chỉ thực hiện phân công quyền lực, Hiến pháp còn định hình các nguyên tắc cơ bản nhất của cơ chế thực thi cho mỗi loại quyền lực và mối quan hệ giữa các cơ quan được trao quyền lực. Bên cạnh việc bảo đảm sự phối hợp, thì cốt lõi của cơ chế và mối quan hệ này là sự “kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp”1. Thực hiện phân công quyền lực không chỉ là thừa nhận sự tồn tại và tính tất yếu của phân công lao động quyền lực để chuyên môn hóa, nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của việc thực thi quyền lực trong quản lý xã hội, mà còn là cơ sở tiền đề bảo đảm cho việc thực hiện một yêu cầu quan trọng hơn rất nhiều, đó là kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, để quyền lực nhà nước không vượt qua giới hạn của Hiến pháp và các đạo luật (hình thức cao nhất thể hiện ý chí, lợi ích của nhân dân, của quốc gia, dân tộc), tức là để quyền lực được thực thi một cách dân chủ, luôn thuộc về nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân, bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc.

Cũng như nhiều nước khác, ở nước ta, Chính phủ được Hiến pháp phân công thực hiện quyền hành pháp (nhân dân thông qua Hiến pháp trao quyền hành pháp cho Chính phủ). Nhưng trên lý thuyết cũng như trong thực tiễn, không phải tất cả quyền hành pháp đều được trao cho Chính phủ. Theo quy định của Hiến pháp hiện hành, quyền hành pháp được phân chia giữa Chủ tịch nước và Chính phủ. Bên cạnh một số ít quyền hạn thuộc về lập pháp và tư pháp, thì phần lớn các quyền hạn của Chủ tịch nước hiện nay là thuộc về hành pháp như quyền thay mặt Nhà nước về đối nội và đối ngoại, quyền thống lĩnh các lực lượng vũ trang, quyền ra lệnh tổng động viên, ban bố tình trạng khẩn cấp… Tuy nhiên, Hiến pháp vẫn  trao phần lớn quyền hành pháp cho Chính phủ.

Để có thể thực hiện được sứ mệnh chính trị của mình, về nguyên tắc, Chính phủ phải được trao đủ quyền hành pháp và phải có đủ cơ chế đồng bộ để vận hành quyền lực một cách thống nhất, thông suốt và liên tục. Ở tầm Hiến pháp, cần làm rõ nội dung quyền hành pháp của Chính phủ đến đâu, và các nguyên tắc cơ bản của cơ chế vận hành quyền lực được trao bảo đảm tính thống nhất, thông suốt và liên tục của quản lý điều hành các mặt đời sống kinh tế – xã hội của đất nước.

Hiến pháp phân định quyền hành pháp cho Chính phủ phải bảo đảm đáp ứng các yêu cầu cơ bản sau đây:

– Chính phủ phải được trao đủ quyền lực để thực hiện được sứ mệnh chính trị của mình là tổ chức thi hành pháp luật, đưa pháp luật vào cuộc sống để quản lý thống nhất, thông suốt, có hiệu lực, hiệu quả mọi mặt đời sống kinh tế, xã hội của đất nước, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc;

– Bảo đảm tính thuộc về nhân dân, tính thống nhất của quyền lực nhà nước và sự phối hợp với các thiết chế quyền lực khác (không tạo ra sự phân lập, tách biệt, chia cắt);

– Thiết lập được cơ chế kiểm soát của cơ quan hành pháp đối với các cơ quan lập pháp và cơ quan tư pháp;

– Phù hợp với thông lệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế

– Bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện của Đảng đối với Chính phủ.

2. Xác định phạm vi và nội dung quyền hành pháp của Chính phủ

2.1. Trong quan hệ với Quốc hội

Ở nước ta, Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Tính chất này của Quốc hội đã được khẳng định trong tất cả bốn bản Hiến pháp của Nhà nước ta. Tính chất quyền lực nhà nước cao nhất của Quốc hội xuất phát từ tính chất trực tiếp đại diện cao nhất cho ý chí, nguyện vọng và lợi ích của toàn thể nhân dân. Chính vì là cơ quan trực tiếp thể hiện chủ quyền cao nhất của nhân dân mà Quốc hội mới trở thành cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất. Quyền lực nhà nước là thống nhất, và nhân dân là chủ thể và nguồn gốc của toàn bộ quyền lực nhà nước. Quốc hội là một thiết chế quyền lực nhà nước được nhân dân cả nước trực tiếp thành lập thông qua bầu cử và được Hiến pháp trao cho những quyền lực nhất định, nói cách khác, nhân dân thông qua Hiến pháp mà trao quyền lực cho Quốc hội, chứ không phải thông qua bầu cử (bầu cử đại biểu Quốc hội chỉ là cách thức thành lập Quốc hội). Quyền lực này được cụ thể hoá thành các chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn hiến định của Quốc hội. Nội dung của quyền lực cao nhất của Quốc hội bao gồm các quyền lập hiến, lập pháp, quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước.

Trong quan hệ quyền lực giữa Quốc hội và Chính phủ, có hai vấn đề quan trọng sau đây cần làm rõ:

Cơ chế kiểm soát này phải được định hình bằng các nguyên tắc cơ bản được Hiến pháp ghi nhận. Trong quá trình Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật do Chính phủ trình, Hiến pháp cần trao cho Chính phủ quyền khi thấy cần thiết thì được rút lại dự án luật đó để hoàn chỉnh lại, cân nhắc thêm. Nếu Quốc hội không đồng ý việc rút dự án luật thì việc thông qua dự án luật đó phải đạt được 2/3 tổng số đại biểu Quốc hội đồng ý. Sau khi luật được thông qua, cần phải có vai trò của Thủ tướng Chính phủ trong quy trình, thủ tục công bố luật. Luật sau khi được Quốc hội thông qua phải được gửi đến Thủ tướng để Thủ tướng ký trình Chủ tịch nước ký lệnh công bố.

2.2. Trong quan hệ với cơ quan tư pháp

Theo Hiến pháp hiện hành, giữa Chính phủ và các cơ quan tư pháp (Toà án và Viện Kiểm sát) không có sự phối hợp quyền lực (chỉ có phối hợp công tác theo Quy chế được ban hành bởi nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) và Viện kiểm sát nhân dân tối cao (VKSNDTC). Ở tầm Hiến pháp mà để tồn tại sự tách rời và phân lập giữa quyền hành pháp của Chính phủ với quyền tư pháp là chưa tuân thủ nguyên tắc phân công, phối hợp quyền lực trong tổ chức và hoạt động của Nhà nước ta; làm ảnh hưởng đến tính thống nhất của quyền lực, và nhất là không phát huy được đầy đủ sức mạnh của từng nhánh quyền lực.

Hiến pháp trao quyền công tố cho Chính phủ không chỉ là cơ sở bảo đảm cho việc nhận thức đúng đắn về quyền tư pháp, phù hợp với thông lệ quốc tế (quyền tư pháp được trao cho Toà án), mà quan trọng hơn là thiết lập cơ chế kiểm soát của cơ quan hành pháp đối với cơ quan thực hiện quyền tư pháp theo các nguyên tắc của nhà nước pháp quyền hiện đại; thúc đẩy hơn nữa cải cách tư pháp, hoàn thiện nguyên tắc kiềm chế, đối trọng giữa các cơ quan trong hoạt động điều tra, truy tố và xét xử, nhằm bảo vệ công lý, tôn trọng và bảo vệ quyền con người.

Trao quyền công tố cho Chính phủ sẽ tạo cơ sở tiền đề khắc phục một trong những bất cập lớn hiện nay là sự “cắt khúc” giữa hoạt động điều tra và công tố, đồng thời, đề cao trách nhiệm của Viện kiểm sát trong công tác phòng, chống tội phạm. Theo đó, Viện kiểm sát sẽ không đơn thuần thực hiện nhiệm vụ kiểm sát hoạt động điều tra như hiện nay mà cần được trao vai trò trực tiếp chỉ huy hoạt động điều tra vụ án hình sự, tham gia hoạt động điều tra ngay từ đầu và chịu trách nhiệm chính trong toàn bộ các hoạt động điều tra, truy tố.

Nhìn nhận ở tầm Hiến pháp, việc giao cho TANDTC quản lý công tác cán bộ và cơ sở vật chất của các Toà án địa phương đã gây ra những mối hoài nghi trên nhiều phương diện. TANDTC là cơ quan xét xử, không phải cơ quan quản lý, tại sao lại giao quyền quản lý công tác cán bộ và cơ sở vật chất của các Toà án địa phương; có vi phạm nguyên tắc hiến định: Chính phủ thống nhất quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại của Nhà nước? có bảo đảm nguyên tắc phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa hành pháp và tư pháp không?

Về bản chất và thực tiễn, quyền quản lý các Toà án địa phương về cán bộ và cơ sở vật chất là thuộc về hành pháp. Việc khôi phục lại quyền hạn này cho Chính phủ và đặt nó ở tầm Hiến pháp sẽ là cơ sở để bảo đảm sự phối hợp, kiểm soát quyền lực giữa cơ quan hành pháp và cơ quan tư pháp, phòng tránh các nguy cơ nảy sinh từ sự tách biệt, khép kín của các Toà án.   

3. Nguyên tắc cơ bản trong cơ chế vận hành và thực thi quyền hành pháp của Chính phủ

3.1. Về tính chất, vị trí của Chính phủ

Với Hiến pháp 1959, lần đầu tiên Chính phủ được xác định tính chất là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Các Hiến pháp 1980 và Hiến pháp 1992 tiếp tục ghi nhận tính chất này của Chính phủ. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của các học thuyết về tổ chức quyền lực nhà nước khác nhau trong từng thời kỳ mà tính chất này của Chính phủ trong mỗi một Hiến pháp được hiểu khác nhau. Học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa cho rằng, không có sự phân chia quyền lực nhà nước và mọi quyền lực đều tập trung vào Quốc hội; quyền lực của Chính phủ là quyền phái sinh từ Quốc hội, phụ thuộc vào Quốc hội, do vậy, Hiến pháp 1959 khẳng định, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Hiến pháp 1980 đã vận dụng một bước triệt để hơn học thuyết tập quyền xã hội chủ nghĩa khi quy định Chính phủ là “cơ quan chấp hành và cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất”, Chính phủ trở thành một cơ quan của Quốc hội, phụ thuộc vào Quốc hội. Đến Hiến pháp 1992, mặc dù đã quan niệm quyền lực nhà nước bao gồm ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, nhưng lại cho rằng, tính chấp hành là thể hiện tính chất hành pháp của Chính phủ, nên tiếp tục quy định, Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội.

Luật do Quốc hội ban hành nhưng không thể nói luật là của Quốc hội. Nói luật là của Quốc hội thì không khác gì cách nói Quốc hội “đẻ ra luật”. Trong nhà nước pháp quyền, luật là thể hiện ý chí của nhân dân, ý chí của quốc gia. Ý chí của nhân dân, ý chí của quốc gia được phản ánh cụ thể thông qua ý chí của Quốc hội. Quốc hội ban hành Hiến pháp và luật, nhưng Quốc hội không thể đứng trên Hiến pháp và các đạo luật. Làm khác đi, Quốc hội không còn tính chính đáng, không còn là Quốc hội của dân, do dân và vì dân, không còn là Quốc hội pháp quyền. Như vậy, luật do Quốc hội ban hành là luật của nhân dân, luật của quốc gia, luật của tất cả mọi người. Chính phủ được thành lập, tổ chức và hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Luật tổ chức Chính phủ, tức là theo ý chí của nhân dân. Chính phủ, vì vậy, là Chính phủ của nhân dân. Chính phủ tổ chức thi hành luật, đưa luật vào cuộc sống là chấp hành ý chí của nhân dân, là trực tiếp phục vụ lợi ích của nhân dân, lợi ích của quốc gia, dân tộc. Chính vì vậy, Chính phủ là Chính phủ của nhân dân, vì nhân dân. Chính phủ thi hành luật pháp là chấp hành ý chí của nhân dân, phục vụ lợi ích của nhân dân, của dân tộc, chứ không phải chấp hành ý chí của Quốc hội, càng không phải phục tùng lợi ích, thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội, do vậy Chính phủ không thể là cơ quan chấp hành của Quốc hội.

Trên thực tế, tính chất chấp hành chưa phản ánh đầy đủ và chính xác vị trí, vai trò thực tế của Chính phủ với tư cách là cơ quan nắm giữ quyền hành pháp. Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, nhưng trong quan hệ với cơ quan lập pháp, Chính phủ có vai trò độc lập tương đối và là nhân tố thúc đẩy hoạt động của cơ quan lập pháp trên nhiều phương diện, nhất là trong công tác lập pháp, khởi thảo các chính sách, chủ động xây dựng các dự án luật trình Quốc hội thông qua (95% các dự án Luật, pháp lệnh là do Chính phủ xây dựng, trình Quốc hội).

Hành pháp theo quan điểm hiện đại, phải được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất là tổ chức thi hành luật; thứ hai là chủ động khởi thảo, hoạch định chính sách đối nội, đối ngoại và tổ chức thực thi các chính sách đó. Do vậy, Hiến pháp mới cần khẳng định rõ tính chất của Chính phủ là cơ quan hành pháp cao nhất thay cho quy định “Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội”. Quy định như vậy, sẽ bảo đảm tính độc lập tương đối của Chính phủ, tạo cơ sở phát huy hơn nữa tính chủ động, sáng tạo của Chính phủ trong thực thi quyền hành pháp, đặc biệt là tạo cơ sở cho việc hình thành cơ chế kiểm soát của Chính phủ đối với Quốc hội trong việc thực thi quyền lập pháp.

Có đủ quyền hành pháp là tiền đề để Chính phủ trở thành cơ quan hành chính nhà nước cao nhất. Khẳng định Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của đất nước là đề cao hành pháp, đề cao tính tập trung, thống nhất, thông suốt, có hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động quản lý, điều hành của Chính phủ đối với mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội của đất nước. Chính phủ là thiết chế có thẩm quyền và trách nhiệm cao nhất về mặt hành chính đối với đất nước. Điều này thể hiện cụ thể tư tưởng của Hồ Chí Minh về xây dựng một chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của dân. Quy định này cần phải được kế thừa trong sửa đổi, bổ sung Hiến pháp 1992.

3.2. Nguyên tắc hoạt động của Chính phủ

Một trong những thay đổi quan trọng nhất của Hiến pháp 1992 là đổi mới cơ chế hoạt động của Chính phủ. Cụ thể hoá nguyên tắc tập trung dân chủ vào tổ chức và hoạt động của Chính phủ phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi) đã định ra ba nguyên tắc then chốt cho hoạt động của Chính phủ. Đó là:

– Nguyên tắc Thủ tướng Chính phủ “lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Uỷ ban nhân dân các cấp”3;

– Nguyên tắc “Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực mình phụ trách trong phạm vi cả nước”4.

Tuy nhiên, những quy định cụ thể của Hiến pháp về nhiệm vụ, quyền hạn của hai thiết chế này còn quá chung chung, dẫn đến có phần không rõ, chồng chéo, thậm chí chưa đúng nguyên tắc. Khoản 1 Điều 112 Hiến pháp quy định, Chính phủ có nhiệm vụ “Lãnh đạo công tác của các bộ, các cơ quan ngang bộ và cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp”; trong khi đó, Khoản 1 Điều 114 Hiến pháp quy định Thủ tướng có nhiệm vụ “Lãnh đạo công tác của Chính phủ, các thành viên Chính phủ, Ủy ban nhân dân các cấp”. Rõ ràng rất khó có thể phân định rõ nét sự khác nhau về tính chất, nội dung, yêu cầu và đối tượng, phạm vi “nhiệm vụ lãnh đạo” của Chính phủ và của Thủ tướng. Việc Hiến pháp trao quyền cho Thủ tướng lãnh đạo các thành viên Chính phủ là trái với nguyên tắc hoạt động của Chính phủ với tư cách là một Hội đồng, làm việc theo chế độ tập thể, trong đó Thủ tướng là một thành viên, Thủ tướng không phải là thủ trưởng của Tập thể Chính phủ.

3.3. Quan hệ quyền lực giữa Chính phủ với chính quyền địa phương

Theo nguyên tắc tổ chức nhà nước theo kiểu đơn nhất, chính quyền địa phương là bộ phận thuộc hành pháp có chức năng tổ chức thực thi pháp luật để quản lý nhà nước ở địa phương, bảo đảm sự thống nhất, thông suốt của nền hành chính. Tuy nhiên, việc Hiến pháp dành một chương riêng quy định về Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân với các quy định về cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương và cơ quan chấp hành của cơ quan quyền lực này, và thực tiễn thi hành các quy định này đều cho thấy rõ, có sự phân biệt và tách rời rất rõ giữa quyền hành pháp của Chính phủ với quyền lực của chính quyền địa phương, rõ nhất là việc Hiến pháp không trao cho Thủ tướng quyền bổ nhiệm người đứng đầu cơ quan hành chính cấp tỉnh. Ở chừng mực nào đó, thực tế cho thấy, tổ chức quyền lực theo lãnh thổ ở nước ta không khác gì chế độ nhà nước liên bang.

Hiến pháp chỉ khẳng định các nguyên tắc về mối quan hệ hành chính giữa Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ với chính quyền địa phương. Nhưng do tách rời quyền hành pháp của Chính phủ, nên mối quan hệ hành chính này trở nên hình thức, lỏng lẻo.

Trên thực tế, Hiến pháp không xác định được tính chất của “quyền lực nhà nước ở địa phương” của HĐND là gì, thuộc về hành pháp hay lập pháp. Chính vì vậy đã quy định, HĐND vừa chịu sự “hướng dẫn, kiểm tra” của Chính phủ, vừa chịu sự “giám sát và hướng dẫn” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH). Không dừng lại, Hiến pháp còn quy định, UBTVQH có quyền giải  tán HĐND cấp tỉnh. Những quy định như vậy rõ ràng là chồng chéo, không minh bạch về thẩm quyền và trách nhiệm của UBTVQH và Chính phủ đối với HĐND. Tính chất và hoạt động của HĐND không phải là lập pháp. UBTVQH không phải là một cơ quan quản lý, do vậy, nó không thể giám sát, hướng dẫn hoạt động đối với HĐND.

Ths. Nguyễn Phước Thọ – Văn phòng Chính phủ;  ThS Cao Anh Đô – Viện Nhà nước và pháp luật

www.nclp.org.vn

Chế Độ Chính Trị Và Tổ Chức Quyền Lực Nhà Nước Trong Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992

Chế độ chính trị hay thể chế chính trị thể hiện hệ tư tưởng, phương thức tổ chức quyền lực và năng lực lãnh đạo của Đảng cầm quyền đối với xã hội ở mỗi quốc gia. Đối với các nước theo chế độ dân chủ hay pháp quyền thì nền tảng và khung khổ của thể chế chính trị là Hiến pháp. Đối tượng điều chỉnh của Hiến pháp nước ta là toàn bộ nhân dân, kể cả những công dân Việt Nam đang làm việc, định cư tại nước ngoài và những người, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam, nên không thể đưa hết các nội dung chính trị quan trọng của Cương lĩnh, Điều lệ của Đảng vào Hiến pháp. Thêm nữa, cần kế thừa, phát huy giá trị của Hiến pháp 1946 về cách trình bày khái quát, cô đọng và hàm xúc, “câu ngắn, ý dài”; tính đảng, tính chính trị nên trình bày rất khái quát hoặc hóa thân vào tính nhân dân, dân tộc để mọi người dân đều tìm thấy mình trong Hiến pháp, để Hiến pháp thể hiện được ý chí của toàn thể dân tộc và là “khế ước xã hội” giữa nhân dân với Nhà nước và các chủ thể cầm quyền. Với quan điểm và cách tiếp cận như trên, chúng tôi xin góp ý vào một số nội dung hoàn thiện thể chế chính trị nước ta, tập trung ởChương 1 – Chế độ chính trị của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 (Dự thảo).

Nội dung của chế độ chính trị trong Hiến pháp có ba vấn đề cơ bản: (1) bản chất của quyền lực nhà nước của nước ta là gì? (2) mối quan hệ quyền lực giữa Nhà nước và Nhân dân? (3) cơ chế phân công, phân chia trong bộ máy nhà nước giữa các cơ quan được trao ba loại quyền lực khác nhau?

Đầu tiên, cần làm rõ nội hàm của cụm từ “quyền lực nhà nước” được dùng trong bản Dự thảo. Quyền lực có nghĩa cơ bản là khả năng gây ảnh hưởng, sai khiến người khác thực hiện ý chí của mình. Trong Hiến pháp 1946 và các tác phẩm chính trị của mình, Hồ Chí Minh gọi quyền lực của nhân dân là “quyền bính”, “quyền hành” hoặc là “quyền hạn và lợi ích” (bài Dân vận – xem chú thích 1). Người không dùng “quyền lực nhà nước” để chỉ quyền lực tối cao của nhân dân vì quyền hành và nguồn lực, lực lượng to lớn hơn, phong phú hơn nội hàm khái niệm quyền lực; Nhân dânkhông chỉ là chủ thể của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước mà còn cả quyền lực công dân, quyền lực con người, các nguồn lực của quốc gia như nguồn tài nguyên thiên nhiên, nguồn nhân lực, nguồn lực văn hóa…

Tư tưởng mọi quyền hành/quyền lực thuộc về nhân dân của Hồ Chí Minh là sự phát triển có tính kế thừa tư tưởng “chủ quyền (thuộc về) nhân dân” của Giăng Giắc Rútxô (Jean Jacques Rousseau: 1712-1778), một trong những nhà tư tưởng vĩ đại nhất của trường phái Khai sáng ở Pháp thế kỷ XVIII. Trong tác phẩm “Khế ước xã hội” của ông, chủ quyền nhân dân là ý chí chung của nước, có tính tự nhiên, trực tiếp, không trao, chuyển nhượng hết cho ai. Nếu nhân dân có trao cho các cơ nhà nước nắm giữ các nhiệm vụ khác nhau (trao quyền cho cơ quan đại diện) thì cũng phải xem các cơ quan đó là công cụ của chủ thể nhân dân và lệ thuộc vào chủ quyền nhân dân[2]. Như vậy, tính chính đáng, quyền lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước có nguồn gốc từ sự trao quyền, ủy quyền của nhân dân và mối quan hệ giữa chủ quyền nhân dân với chủ thể cầm quyền phục vụ nhân dân là nền tảng của thể chế, chế độ chính trị nước ta.

Theo tư tưởng của phái Khai sáng thì chủ quyền nhân dân cao hơn quyền lực nhà nước bởi vì khi nhà nước đi ngược lại ý chí và quyền lợi của nhân dân, thì nhân dân có thể dùng dân chủ cách mạng để thay thế nhà nước đó bằng một nhà nước mới, tiến bộ hơn. Vì vậy, nếu viết như câu thứ 2 của Điều 2 Dự thảo: “Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân…” là chưa sát, chưa lột tả hết tư tưởng nhân dân là chủ quốc gia và xã hội của Hồ Chí Minh và trường phái Khai sáng tiến bộ, vì quyền lực nhà nước chỉ là một loại quyền lực chính trị.

Từ quan điểm này, chúng tôi đề nghị bỏ bớt đi một lần cụm danh từ XHCN vì “Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” cũng là Nhà nước pháp quyền XHCN rồi; viết lặp lại làm cho câu dài thêm không cần thiết; và cần bỏ đi đoạn câu cuối trong Điều 2 là “mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức”.

Thứ hai, cần làm rõ nội hàm của cụm từ ” Quyền lực nhà nước là thống nhất”. Câu hỏi đặt ra là ai là người thống nhất? Vì sao phải thống nhất và thống nhất vì ai?

Chúng ta thường quan niệm rằng, quyền lực nhà nước thống nhất dưới sự lãnh đạo của Đảng và do Đảng thực hiện. Điều này đúng nhưng chưa đủ. Nguyên nhân sâu xa, bản chất của sự thống nhất giữa các hình thức quyền lực nhà nước chính là từ chủ quyền nhân dân, do nhân dân là chủ thể tối cao của các quyền lực như đã nói trên. Quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị của Đảng không phải tự nhiên mà có, mà do nhân dân trao quyền nên nó có tính chất là tạm quyền. Bản chất dân chủ của chế độ chính trị nước ta đã quy định mục đích Nhà nước sinh ra là để phục vụ nhân dân. Nhân dân trao quyền cho Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội vì đã tin tưởng vào khả năng và công lao của Đảng đối với nước và dân tộc trong suốt hơn 80 năm qua. Không một lực lượng, chính đảng nào khác ở nước ta có thể so sánh được được với Đảng ta trong lĩnh vực này. Tuy nhiên, sự trao quyền của nhân dân cho Đảng không phải là vĩnh viễn và vô điều kiện, Đảng phải luôn luôn cố gắng rèn luyện, đấu tranh và tiếp tục xả thân vì lợi ích của nhân dân, để giữ được niềm tin và sự tín nhiệm với nhân dân; đồng thời Đảng và Nhà nước phải chịu sự giám sát của nhân dân. Đây là tính chính đáng của sự cầm quyền, đồng thời cũng là sự chế ước quyền lực, cơ chế thực hành quyền lực chính trị của Đảng. Nhân dân đã trao quyền, ủy quyền cho Đảng, Nhà nước nhưng vẫn giữ lại một số quyền lực của mình để thực thi quyền dân chủ trực tiếp, trong đó có quyền con người, quyền xây dựng Hiến pháp, pháp luật, quyền bầu cử, ứng cử…

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội (CNXH) năm 2011, đã khẳng định một nội dung quan trọng về bản chất của Nhà nước nhân dân do Đảng lãnh đạo: “Nhà nước phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lạm quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân”. Đáng tiếc là nội dung này chưa được phản ánh rõ trong Dự thảo, nên cần được bổ sung.

Thứ ba, cần hiểu rõ hơn thế nào là phân công và quan hệ của nó với phân chia, phân quyền. Phân công, phân quyền là hai từ ghép Hán – Việt có chung một từ phân có nghĩa là chia ra, tách ra từng phần. Nghĩa của từ phân công là chia công việc ra cho phù hợp khả năng, nhu cầu của người làm[3]. Còn phân quyền là chia quyền hành/quyền lực cho địa phương hoặc cho nhiều bộ phận. Từ góc độ khoa học tổ chức, khoa học chính trị hay khoa học quản lý nhà nước thì giữa phân công và phân quyền không có sự khác nhau hoặc đối lập nhau về bản chất; trái lại, chúng có quan hệ chặt chẽ, tương hỗ với nhau. Vì khi phân chia công việc cho các chủ thể khác nhau thì phải căn cứ vào thẩm quyền và khả năng đảm nhiệm của họ; ngược lại, khi phân chia quyền hạn, trách nhiệm cho cá nhân, tổ chức là để tạo điều kiện cho họ hoàn thành công việc. Cả phân công hay phân chia đối với quyền lực nhà nước đều có chung một mục đính là thực hiện công việc và quản trị quốc gia có hiệu quả. Thế nhưng, trong thời kỳ trước khi đổi mới – mở cửa ở nước ta, nhận thức chính trị chung vẫn coi đây là sự khác biệt, đối lập về phương thức tổ chức bộ máy nhà nước bị quyết định từ sự đối lập về ý thức hệ và chế độ chính trị. Chúng ta hiểu một cách siêu hình về sự thống nhất của quyền lực nhà nước, không thấy được đó là sự thống nhất giữa các mặt đối lập, giữa các sự vật, hiện tượng khác nhau trong quá trình phát triển của hiện thực khách quan; là một trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật – “quy luật đấu tranh và thống nhất của các mặt đối lập”. Nếu hiểu đúng triết học Mác – Lênin và tinh hoa của khoa học chính trị, luật pháp thế giới, thì chế độ dân chủ và thực hiện chủ quyền nhân dân nhất thiết phải có sự phân chia, phân công giữa các nhánh của quyền lực nhà nước.

Nhận thức, tư duy chính trị của nước ta từ lâu đã nhận ra sự khác nhau giữa ba bộ phận hay ba hình thức quyền lực nhà nước là lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong Dự thảo lần này chúng ta đã có một bước tiến trong tư duy chính trị và lập pháp khi bổ sung một tư tưởng đã được ghi trong Cương lĩnh 2011 là thực hiện sự kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan nhà nước thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đây là một nguyên tắc cơ bản của khoa học và văn hóa tổ chức hệ thống quyền lực nhà nước của nhân loại, nhằm hạn chế tối đa sự lạm dụng, vượt quá và tha hóa quyền lực của các chủ thể cầm quyền. Tuy vậy, vẫn cần bổ sung thêm hệ thống giám sát, kiểm soát của chủ thể tối cao từ bên ngoài bộ máy nhà nước bằng các thiết chế dân chủ đại diện không thuộc nhà nước (Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể nhân dân, hội…) và các thiết chế dân chủ trực tiếp (như bầu cử, bỏ phiếu tín nhiệm, nêu ý kiến…).

Như vậy, Điều 2 nên có nội dung là (các chữ in nghiêng là do chúng tôi sửa chữa, bổ sung):

“Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam là Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền hành và nguồn lực của nước ta đều thuộc về nhân dân.

Quyền lực Nhà nước thống nhất trong mục đích phục vụ nhân dân, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan Nhà nước và chịu sự giám sát của nhân dân trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

2. Sửa đổi, bổ sung Điều 4

Điều 4 có thể viết ngắn gọn và rõ nghĩa hơn so với Dự thảo. Mặt khác, cần bổ sung nội dung vai trò cầm quyền, sứ mệnh phục vụ nhân dân và dân tộc của Đảng. Đó là tư tưởng Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh trong Di chúc và nhiều tác phẩm chính trị khác của Người. Nội dung Điều 4 cần cân nhắc kỹ trước khi quyết định chọn 1 trong 2 phương án trình bày sau đây:

“1. Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành cho lợi ích toàn thể dân tộc, là chính đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 2. Đảng có sứ mệnh phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm về những quyết định và kết quả lãnh đạocủa mình. 3. Tất cả tổ chức của Đảng và đảng viên đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

“1. Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành cho lợi ích của toàn thể dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng; là chính đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. 2. Đảng có sứ mệnh phục vụ nhân dân, gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm về những quyết định và kết quả lãnh đạocủa mình”. 3. Các tổ chức của Đảng và đảng viên đều phải hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật”.

3. Sửa đổi, bổ sung Điều 8, khoản 1 về nguyên tắc hoạt động của Nhà nước

Theo chúng tôi, cần bỏ đoạn Nhà nước “thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ” tại Điều 8, khoản 1 của Dự thảo. Đây là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng ta. Việc đồng nhất nó với nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Nhà nước là không khoa học vì trong thực tế, Nhà nước ta đang hoạt động theo các nguyên tắc khác nữa như nguyên tắc một thủ trưởng, nguyên tắc hội nghị/nghị trường… Khoản 2 cần bổ sung nội dung cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm chống sự tha hóa đạo đức, tác phong của họ. Khoản 2 cần bổ sung trách nhiệm của Nhà nước về giáo dục, tuyên truyền và bảo vệ Hiến pháp, pháp luật đồng thời cắt bỏ 5 từ lặp lại.

Vì vậy, Điều 8 cần sửa đổi, bổ sung như sau:

“1. Nhà nước tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật. 2. Nền hành chính quốc gia, chế độ công vụ được tổ chức và hoàn thiện để phục vụ nhân dân. Cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; chống tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền; thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, chống suy thoái, tha hóa về chính trị, đạo đức và lối sống. 3. Cơ quan, tổ chức, cá nhân phải nghiêm chỉnh chấp hành, giáo dục, tuyên truyền và bảo vệ Hiến pháp, pháp luật”.

4. Về các thiết chế quyền lực khác và mối quan hệ trong thể chế chính trị a. Quốc hội (Điều 74 đến hết Điều 90)

Điều 74 định danh và định vị quyền lực của Quốc hội, chúng tôi còn băn khoăn ở 3 nội dung của Dự thảo: (1) nói “Quốc hội quyết định quyền lập hiến” thì không thấy vai trò của nhân dân trong công việc trọng đại này; tại sao nhân dân không có quyền phúc quyết Hiến pháp? (2) “Quốc hội có quyền giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước” thì Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân có quyền giám sát Quốc hội không, và sự giám sát, kiểm soát đối với Quốc hội được gọi là gì? Tại sao tinh thần của Điều 2 không được thể hiện thành cơ chế kiểm soát đối với quyền lực của Quốc hội? Ai là người kiểm soát quyền lực của Quốc hội và cơ chế thực hiện như thế nào? Trong Dự thảo không có điều nào quy định rõ các vấn đề trên.

Điều cần lưu ý nữa là Quốc hội hoạt động theo cơ chế hội nghị, dân chủ nghị trường, quyết định theo đa số của các đại biểu Quốc hội; quan hệ giữa các đại biểu Quốc hội với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) không phải là quan hệ thứ bậc hành chính, cấp trên – cấp dưới; UBTVQH thực chất là một số đại biểu thay mặt, đại diện cho Quốc hội trong thời gian Quốc hội không họp, nên không thể quyết định những vấn đề thuộc về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội. Điều 79 của Dự thảo quy định nhiệm vụ, quyền hạn của UBTVQH dường như quá mức, như: khoản 7 về “quyết định thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương”; khoản 8 “quyết định việc ban bố tình trạng chiến tranh”; khoản 9 quyết định tổng động viên và ban bố tình trạng khẩn cấp.

b. Chủ tịch nước (Điều 91 – Điều 98).

Chúng tôi đồng ý với kiến nghị tăng thực quyền cho thiết chế Chủ tịch nước với tư cách là Nguyên thủ Quốc gia. Cần bổ sung nội dung quyền hạn để Chủ tịch nước có vai trò, nhiệm vụ kiểm tra, giám sát các thiết chế quyền lực nhà nước khác như Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, cơ quan Tư pháp…

Tuy vậy, chúng tôi không đồng ý với kiến nghị Chủ tịch nước đứng đầu Hội đồng Hiến pháp. Bởi vì thiết chế này không thể vừa là chủ thể cầm quyền, ký lệnh ban bố Hiến pháp, pháp luật, pháp lệnh, lại vừa là người có vai trò kiểm soát, phủ quyết các văn bản pháp luật, quyết định đã có chữ ký của mình.

c. Chính phủ (Điều 99 – Điều 105)

Tại Điều 99, cần cân nhắc kỹ quan điểm của Dự thảo cho rằng Chính phủ là cơ quan chấp hành của Quốc hội, tức là cơ quan cấp dưới của Quốc hội. Trong quan hệ với Quốc hội, Chính phủ có tính độc lập tương đối và có trách nhiệm kiểm soát lẫn nhau giữa ba cơ quan nắm ba nhánh quyền lực cơ bản của bộ máy Nhà nước; nghĩa là, Chính phủ có quyền lực không thấp hơn, có chức năng, nhiệm vụ giám sát, kiểm soát Quốc hội, cơ quan Tư pháp và ngược lại. Nhận thức vai trò, mối quan hệ thể chế của Chính phủ, ngay trong Lời nói đầu của Hiến pháp 1946 do Hồ Chí Minh chủ trì biên soạn đã nêu ra một trong ba nguyên tắc cơ bản của lập hiến nước ta là: “Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân”. Ngày nay, Chính phủ là cơ quan hành pháp có chức năng làm dự thảo luật và quản trị nền hành chính quốc gia. Việc Chính phủ hay Tòa án – cơ quan tư pháp phải báo cáo công tác trước Quốc hội là đương nhiên vì trách nhiệm trước “cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân” chứ không phải vì theo mối quan hệ giữa hai loại chủ thể cấp trên – cấp dưới hoặc quản lý và người thừa hành. Vì vậy Điều 99 trong Dự thảo nên đổi thành:

“Chính phủ là cơ quan hành pháp, hành chính Nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác với Quốc hội, UBTVQH và Chủ tịch nước”.

Về văn phong Dự thảo, tại Điều 101, đã 4 lần dùng cụm từ “thống nhất quản lý” khi xác định về những quyền hạn và trách nhiệm của Chính phủ. Theo ngôn ngữ khoa học hiện đại, đây chính là các nhiệm vụ thuộc chức năng quản trị/quản lý quốc gia của Chính phủ. Nhưng về mặt ngữ pháp tiếng Việt, trong các câu này, chủ ngữ là “quản lý” còn “thống nhất” là vị ngữ chứ không phải là ngược lại. Để diễn đạt rõ ràng 4 nội dung tại Điều 101, chúng tôi đề nghị sắp lại trật tự thành quản lý thống nhấthoặc rút gọn lại, chỉ còn là quản lý vì quản lý hay quản trị quốc gia đương nhiên là phải thực hiện thống nhất trong phạm vi toàn lãnh thổ rồi.

d. “Hội đồng Bảo hiến” thay cho “Hội đồng Hiến pháp” (Điều 120)

Hội đồng Hiến pháp là một thiết chế quyền lực nhà nước mới trong Dự thảo. Nhưng với việc thiết kế chỉ có chức năng “kiểm tra tính hợp hiến của các văn bản quy phạm pháp luật”; tổ chức bộ máy và nhân sự “do Quốc hội thành lập”; tổ chức, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động “do luật định” sẽ ảnh hưởng tới hiệu lực và tính độc lập của Hội đồng trong việc bảo vệ Hiến pháp. Theo chúng tôi, việc đặt tên như Dự thảo là chưa sát với quyền hạn, trách nhiệm của Hội đồng, dễ gây hiểu lầm là Hội đồng có thẩm quyền xây dựng, quản lý Hiến pháp. Nên đặt tên là Hội đồngBảo hiến để sát với chức năng chính là bảo vệ Hiến pháp và các thành viên của Hội đồng do Chủ tịch nước giới thiệu và Quốc hội quyết định bổ nhiệm. Để tăng tính độc lập tương đối và thẩm quyền cùa Hội đồng, nên bổ sung thêm nhiệm vụ kiểm tra tính hợp hiến của các luật. Như vậy, khoản 1 và 2 Điều 120 nên sửa đổi là:

1.Hội đồng Bảo hiến là cơ quan do Quốc hội thành lập, gồm Chủ tịch, các ủy viên do Chủ tịch nước giới thiệu, Quốc hội quyết định bổ nhiệm.

2. Hội đồng Bảo hiến kiểm soát tính hợp hiến của các luật, các văn bản quy phạm pháp luật do Quốc hội….

Trong Dự thảo, cần thay cụm từ “do luật định” bằng ” theo luật định ” và cố gắng giảm bớt số lần sử dụng, tần suất xuất hiện của cụm từ này trong Hiến pháp để thể hiện hiệu lực tối cao và trực tiếp của Hiến pháp.

thiết kế chế độ chính trị và tổ chức quyền lực nhà nước do Đảng lãnh đạo trong Hiến pháp 1992 sửa đổi cần quyết tâm và có công nghệ thực hiện được mục tiêu: Nhà nước dân chủ – của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân./.

[1] Ngày15/10/1949, báo Sự Thật đã đăng bài viết “Dân vận” của X.Y.Z (bút danh của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Bài báo rất ngắn gọn, nhưng vô cùng sâu sắc, súc tích và đầy đủ về chế độ dân chủ cộng hòa – chế độ dân chủ nhân dân: “Nước ta là nước dân chủ/Bao nhiêu lợi ích đều vì dân/ Bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân./ Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân./Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra./Đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên./Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân”. [2] Nguyễn Thế Nghĩa (chủ biên): Đại cương các tư tưởng và học thuyết chính trị trên thế giới, Nxb. Khoa học Xã hội, H., 1999, tr.344-346. [3] Nguyễn Lân, Từ điển Từ và ngữ Hán Việt, Nxb. Văn học, H.,2003, tr.476 Nguồn: TCNCLP

Hiến Pháp Năm 2013 Về Quyền Con Người, Quyền Cơ Bản Của Công Dân

1. Quan niệm về quyền con người, quyền cơ bản của công dân

Tư tưởng về quyền con người (human rights, droits de l’home), cũng có thể gọi là ” quyền của con người” – ” rights of human person” hình thành cùng với sự xuất hiện của những nền văn minh cổ đại, quyền con người xuất phát từ các quyền thiêng liêng, tự nhiên, vốn có của con người, không do chủ thể nào ban phát. Quyền con người là khái niệm rộng hơn quyền công dân. Ví dụ, về tính chất, quyền con người không bị bó hẹp trong mối quan hệ giữa cá nhân với nhà nước như quyền công dân, mà thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại, về phạm vi áp dụng, do không bị giới hạn bởi chế định quốc tịch, nên chủ thể của quyền con người là tất cả các thành viên của ” gia đình nhân loại “, bất kể vị thế, hoàn cảnh, quốc tịch,… Nói cách khác, quyền con người được áp dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia, tư cách cá nhân hay môi trường sống của chủ thể quyền.

Quyền con người được diễn đạt dưới nhiều giác độ khác nhau, tùy thuộc vào bối cảnh xã hội, văn hóa tín ngưỡng – tôn giáo; mục tiêu và định hướng của mỗi thể chế chính trị, mỗi kiểu nhà nước, quan điểm của từng giai cấp cầm quyền; hoàn cảnh và nhu cầu của mỗi cá nhân và của từng ngành khoa học như; triết học, chính trị học, luật học, xã hội học…

Trong lịch sử lập hiến của Việt Nam, quyền của con người luôn được cụ thể hóa bằng những quyền cơ bản của công dân (do được ghi nhận trong hiến pháp) và bao giờ cũng được xem là một chế định pháp luật rất quan trọng – đây là một trong những chế định thể hiện bản chất dân chủ, tiến bộ của một nhà nước, thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước với công dân cùng với các cá nhân trong xã hội. Thông qua đó, có thể xác định được mức độ dân chủ của một nhà nước, một xã hội.Vì vậy, những nhà lập pháp Việt Nam luôn hoàn thiện chế định pháp luật về quyền cơ bản của công dân trong đạo luật cơ bản của Nhà nước là Hiến pháp và luôn gắn liền với nghĩa vụ của công dân.

Khái niệm công dân trước hết biểu hiện tính chất đặc biệt của mối quan hệ pháp luật giữa nhà nước với một số cá nhân con người nhất định, khái niệm công dân hẹp hơn khái niệm cá nhân (con người), bởi vì trong một quốc gia không những chỉ có công dân của quốc gia đó mà còn có công dân nước khác và những người khôngquốc tịch. Như vậy, công dân xét về mặt pháp luật thuộc về một nhà nước nhất định, nhờ đó mà con người được hưởng những quyền của nhà nước quy định và đồng thời phải thực hiện một số nghĩa vụ nhất định đối với nhà nước đó. Trong Hiến pháp năm 2013, tại điều 17 cũng ghi nhận ” Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam “, nên khái niệm công dân gắn liền với khái niệm quốc tịch. Theo nghĩa, quốc tịch là mối liên hệ giữa một cá nhân con người với một nhà nước nhất định, nếu là công dân của một nhà nước thì được hưởng đầy đủ các quyền và phải thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ mà pháp luật của nhà nước đó quy định, những người không phải là công dân của nhà nước đó thì quyền lợi và nghĩa vụ đương nhiên sẽ bị hạn chế.

Khái niệm ” công dân” cũng có thể là mối quan hệ pháp lý có tính chất đặc biệt, tồn tại cả trong những trường hợp mà công dân Việt Nam đã sinh sống ở nước ngoài nhưng vẫn còn mang quốc tịch Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 tại điều 18 cũng quy định: ” Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam, giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước “. Như vậy, xuất phát từ mối quan hệ giữa Nhà nước Việt Nam với công dân nước ngoài và người không có quốc tịch, xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền con người, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế và căn cứ vào những điều ước đã kí kết giữa Nhà nước Việt Nam với nước ngoài; mối quan hệ pháp luật đặc biệt đó thông thường phát sinh từ lúc những người nước ngoài vào lãnh thổ Việt Nam và chấm dứt khi họ rời khỏi lãnh thổ Việt Nam; mối quan hệ đó thường mang tính chất nhất thời, không có sự gắn bó lâu dài như mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước.

Trong hầu hết các nhà nước, địa vị pháp lý của công dân được hình thành bởi tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh về mối quan hệ giữa một bên là Nhà nước, bên còn lại là công dân. Nội dung những quy phạm pháp luật tạo nên địa vị pháp lí của công dân, ở những nước khác nhau thì khác nhau, bởi địa vị pháp lý của công dân phụ thuộc vào các điều kiện kinh tế – xã hội, chính trị, văn hóa, truyền thống … của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, cần thiết phải thấy rằng; địa vị pháp lý của công dân ở các nước trên thế giới ngày nay cũng có nhiều nét tương đồng. Các quy phạm pháp luật về địa vị pháp lý của công dân bao gồm nhiều chế định: quốc tịch, năng lực chủ thể của công dân, các quyền tự do và nghĩa vụ của công dân, các biện pháp đảm bảo thực hiện quy chế công dân; mỗi chế định điều chỉnh một mặt trong địa vị pháp lý của công dân.

Xét về nguồn gốc lịch sử, khái niệm ” quyền công dân ” (citizen’s rights) xuất hiện cùng với các cuộc cách mạng tư sản, cách mạng tư sản đã biến con người từ địa vị thần dân trong chế độ nhà nước quân chủ thành địa vị công dân trong hình thức nhà nước tư sản. Như vậy, khi đề cập đến quyền công dân là đề cập đến một bộ phận quyền con người theo các quy định của pháp luật với tư cách là một thành viên bình đẳng trong nhà nước, cho nên có thể nói quyền con người và quyền công dân có nội dung rất gần nhau. Tuy nhiên, quyền công dân không phải là hình thức cuối cùng của quyền con người mà nó thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước và phải được thông qua một chế định pháp luật nhất định, đặc biệt là chế định về quốc tịch.

Theo từ điển tiếng Việt thì ” quyền công dân” được hiểu là ” quyền của người công dân được thừa nhận, bao gồm quyền tự do dân chủ và các quyền kinh tế văn hóa – xã hội“[1]. Như vậy, theo chúng tôi, có thể hiểu “quyền công dân” là quyền con người, được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công dân của mình, là tập hợp những quyền đượcHiến pháp và pháp luật của mỗi Nhà nước quy định và đảm bảo thực hiện. Theo quan niệm của Mác, quyền công dân là những quyền chính trị, những quyền cá nhân con người, với tư cách là thành viên ” xã hội công dân“. Như vậy, khái niệm ” quyền công dân” xuất hiện sau sự xuất hiện của khái niệm ” quyền con người” và được gắn liền với thời điểm ra đời của nhà nước tư sản và duy trì, phát triển đến xã hội ngày nay. Ở các nước Xã hội chủ nghĩa trước đây, khái niệm về quyền con người, quyền công dân ít khi được đề cập, cho nên có quan niệm quyền con người và quyền công dân là đồng nhất. Việt Nam cũng vậy, hầu hết trong các bản Hiến pháp đều không ghi nhận về quyền con người (trừ Hiến pháp năm 1992 và Hiến pháp năm 2013), chỉ ghi nhận về quyền và nghĩa vụ của công dân. Lần đầu tiên Hiến pháp năm 1992, tại Điều 50 ghi nhận về quyền con người: ” Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được quy định trong Hiến pháp và luật” – ở đây vẫn chưa có sự phân định rạch ròi giữa quyền con người và quyền công dân, quyền công dân như là hình thức pháp lý của quyền con người.

2. Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam về quyền con người, quyền công dân

Kế thừa tư tưởng của các hiến pháp trước đó về quyền con người, Hiến pháp năm 2013 ghi nhận tại Chương 2 với tiêu đề: “QUYỀN CON NGƯỜI, QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN”. Theo đó,Điều 14 quy định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng.”. Như vậy, quyền con người và quyền công dân đã được hiểu ở hai nghĩa khác nhau: quyền con người và quyền công dân là những quyền độc lập với nhau; và quyền công dân là một bộ phận của quyền con người, quyền công dân là sự biểu hiện của quyền con người, được Hiến pháp và pháp luật thừa nhận. Chẳng những Việt Nam mà cộng đồng quốc tế cũng đều mong muốn hướng tới việc bảo vệ, phát triển quyền công dân cũng như bảo vệ các giá trị về quyền con người dựa trên sự ghi nhận của Hiến pháp và pháp luật của từng quốc gia phù hợp với thông lệ và quy định mang tính quốc tế.

Sự đấu tranh bảo vệ, giải phóng loài người thoát khỏi ách áp bức, bóc lột, đi đến xây dựng xã hội dân sự, thực sự dân chủ, công bằng, văn minh là mục tiêu hàng đầu của hầu hết các dân tộc. Chính vì điều đó, quyền con người, quyền công dân là yếu tố quan trọng trong mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế – xã hội và quyền con người, quyền công dân là một trong những nội dung cơ bản nhất trong mọi hiến pháp.

Hiến pháp năm 2013 đã tiếp tục sử dụng khái niệm ” quyền con người ” với nội dung chính trị – pháp lý rộng hơn để phản ánh giá trị của cá nhân con người.

Nhìn ở góc độ về khái niệm, ” quyền con người” không loại trừ và không thay thế được khái niệm ” quyền công dân“. Hiến pháp năm 2013 đặc biệt quan tâm đặt vị trí của chương ” Quyền con người và quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” -Chương II. Có thể nói đây cũng chính là sự kế thừa ” vị trí ” của Hiến pháp năm 1946. Tuy nhiên, do nhiệm vụ chính trị của các thời kỳ là khác nhau nên có điều khác biệt, nếu như Hiến pháp năm 1946 đặt nghĩa vụ của công dân lên trước thì Hiến pháp năm 2013 lại đặt quyền của công dân lên trước. Một mặt điều này cho thấy quan điểm tôn trọng quyền con người, quyền công dân, một mặt cho thấy quyền và nghĩa vụ trong tất cả các thời kỳ là có mối quan hệ mật thiết với nhau, có sự kế thừa và phát triển của Hiến pháp sau so với Hiến pháp trước.

Hiến pháp năm 2013 đã chuyển chương quyền con người và quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân từ ” vị trí” Chương V (Hiến pháp năm 1992) lên ” vị trí ” Chương II (Hiến pháp năm 2014), tăng hai điều, từ ba mươi tư điều (từ Điều 49 đến Điều 82 – Hiến pháp năm 1992) lên ba mươi sáu điều (từ Điều 14 đến điều 49 – Hiến pháp năm 2013), tăng mười tám điều so với Hiến pháp năm 1946, tăng mười lăm điều so với Hiến pháp năm 1959 và tăng bảy điều so với Hiến pháp năm 1980. Trong đó, có năm điều mới (là những điều: Điều 19, Điều 34, Điều 41, Điều 42, Điều 43), sửa đổi, bổ sung 28 điều (là những điều: từ Điều 14 đến Điều 18, Điều 20 đến Điều 33, Điều 35 đến Điều 40, Điều 45, Điều 47, Điều 48), giữ nguyên ba điều (là những điều: Điều 44, Điều 46, Điều 49), trong đó có những nội dung cực kỳ quan trọng cụ thể như sau:

– Điều 14 ghi nhận: ” Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng“. Đây thực chất là sự hiến pháp hóa quan điểm của Đảng về quyền con người ” Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định“[2] [3]. Như vậy, lần đầu tiên trong Hiến pháp Việt Nam ghi nhận ” Quyền con người“, điều này cho thấy không phải các bản Hiến pháp trước đó chúng ta không ghi nhận về ” quyền con người” (nhân quyền) mà trước đây chúng ta chưa phân biệt rõ hai khái niệm ” quyền con người” và ” quyền công dân“, hay nói cách khách chúng ta đã đồng nhất hai khái niệm trên, cũng chính vì điều này mà chúng ta bị các thế lực thù địch xuyên tạc Nhà nước ta không quan tâm đến ” quyền con người“, vi phạm nhân quyền…lần ghi nhận này có ý nghĩa hết sức quan trọng một mặt chúng ta phân biệt rõ hai khái niệm ” quyền con người” và ” quyền công dân“, ghi nhận ” quyền con người” đứng trước ” quyền công dân” cũng có nghĩa là chúng ta ghi nhận ” quyền con người” có nội hàm rộng hơn ” quyền công dân“, ” quyền công dân ” là một bộ phận của quyền con người, đồng thời cũng ghi nhận từ trước đến nay chúng ta luôn thừa nhận quyền con người đã được cụ thể hóa trong quyền công dân mà các Hiến pháp trước đây đã công nhận, có điều chúng ta chưa tách bạch độc lập về hai khái niệm trên.

– Điều 15 ghi nhậnbốn nguyên tắt hết sức cơ bản: Quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân; mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền của người khác; công dân có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước và xã hội; việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

– Điều 16 ghi nhận một vấn đề hết sức cơ bản, bằng việc tiếp thu những giá trị của nhân loại về quyền con người, đã nâng cao thêm tính công bằng công lý cho ” mọi người” (kể cả công dân Việt Nam và người nước ngoài và người không quốc tịch), mở rộng đối tượng được hưởng tính công bằng này là ” mọi người” chứ không chỉ riêng cho ” công dân” như Hiến pháp năm 1992, mặc dù về mặt nhận thức trước đây chúng ta cũng muốn công bằng cho mọi người nhưng việc thể hiện chưa sâu sắc ” Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội “.

– Điều 18 (sửa đổi, bổ sung Điều 49) là sự sáng tạo, khẳng định sức mạnh của một quốc gia độc lập ngang tầm, bình đẳng với các quốc gia khác, dân tộc khác trên thế giới “… Công dân Việt Nam không thể bị trục xuất khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, giao nộp cho Nhà nước khác. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bảo hộ công dân Việt Nam ở nước ngoài” cũng nhằm khẳng định cộng đồng người Việt Nam ở khắp nơi trên thế giới là một ” bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam “.

– Điều 19 ghi nhận ” Mọi người có quyền sống… ” đây là một điều mới, ghi nhận một quyền mới, đã thể chế một quyền hết sức cơ bản, quyền tự nhiên của con người vừa phù hợp công ước quốc tế về quyền con người vừa khẳng định tính khởi thủy của quyền con người như là một sinh vật sống và tồn tại trong thế giới khách quan.

– Điều 20 (sửa đổi, bổ sung Điều 72) thể hiện tính phù hợp hơn của tinh thần nhà nước pháp quyền, tiếp tục khẳng định vai trò của cơ quan tòa án nhưng cũng khẳng định một trong những quyền của con người là được tòa án xét xử khi bị buộc tội, như vậy có thể hiểu rằng không một cơ quan nào khác được thực hiện quyền này nhằm đảm bảo tính công bằng công lý cho tất cả những người phạm tội và việc xét xử ấy cũng chỉ được xét xử bằng chính pháp luật và chỉ bằng pháp luật, họ có thể sử dụng sự trợ giúp pháp lý của người bào chữa để có thể ” gỡ” tội cho chính mình: ” Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khoẻ, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể, sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm. Không ai bị bắt nếu không có quyết định của Toà án nhân dân, quyết định hoặc phê chuẩn của Viện kiểm sát nhân dân, trừ trường hợp phạm tội quả tang. Việc bắt, giam giữ người do luật định. Mọi người có quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác theo quy định của luật. Việc thử nghiệm y học, dược học, khoa học hay bất kỳ hình thức thử nghiệm nào khác trên cơ thể người phải có sự đồng ý của người được thử nghiệm “; trong điều này ghi nhận hai quyền cơ bản; quyền bất khả xâm phạm về thân thể; quyền hiến mô, bộ phận cơ thể người và hiến xác.

– Điều 29 ghi nhận: ” Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân“. Đây là sự phát triển Điều 53 của Hiến pháp năm 1992, tiếp tục khẳng định quyền được trưng cầu ý kiến, cách thể hiện cô đọng hơn và có sự giới hạn về độ tuổi của người dân được trưng cầu, phải là ” công dân đủ mười tám tuổi trở lên “, việc giới hạn độ tuổi như vậy cũng là cần thiết và phù hợi với điều kiện thực tiễn Việt Nam.

– Các Điều 30, Điều 31 tiếp tục kế thừa Hiến pháp năm 1992 tại các Điều 74, Điều 72 và có tiếp thu tinh thần Nghị quyết số 49 về cái cách tư pháp, cải cách hành chính và các vấn đề về quyền khiếu nại, tố cáo.

– Điều 32 (sửa đổi, bổ sung Điều 58) đã ghi nhận hết sức cơ bản về quyền sở hữu tư nhân, việc ghi nhận này đã giúp cho việc nhìn nhận của thế giới về tính công bằng giữa chế độ sở hữu tư nhân và công hữu ” Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật bảo hộ. Trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, tình trạng khẩn cấp, phòng chống thiên tai, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của tổ chức, cá nhân theo giá thị trường “. Việc ghi nhận này giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài hiểu thêm về chế độ tư hữu ở Việt Nam là hiện hữu, không thể hiểu nhầm khi họ đầu tư là sợ quốc hữu hóa về tài sản như trước đây, tránh việc các thế lực thù địch lợi dụng công kích và theo đó, cũng giúp việc ghi nhận tại Chương III quy định về chế độ kinh tế là không cần liệt kê các thành phần kinh tế như các bản Hiến pháp trước nữa mà chỉ cần ghi nhận nhà nước ta thừa nhận nền kinh tế có nhiều thành phần, cũng có thể hiểu rằng Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng quyền về tự do kinh doanh của mọi người, mở rộng hơn nữa quyền con người trong lĩnh vực kinh tế.

– Các Điều 41, Điều 42, Điều 43 là các điều mới ghi nhận những quyền thuộc về lĩnh vực đời sống tinh thần mà trước đây trong Hiến pháp năm 1992 chưa thể hiện, đó cũng do những điều kiện khách quan đang cho phép, đồng thời cũng buộc chúng ta phải ghi nhận, đặc biệt cần quan tâm ” Mọi người có quyền hưởng thụ và tiếp cận các giá trị văn hoá, tham gia vào đời sống văn hóa, sử dụng các cơ sở văn hóa” (Điều 41); ” công dân có quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp” (Điều 42); ” mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường” (Điều 43), sự thừa nhận này có thể hiểu giá trị con người cần được đề cao, đáng được đề cao và xem trọng. Đặc biệt là ghi nhận một quyền mới ” quyền được sống trong môi trường trong lành ” là điều hiển nhiên trong một xã hội văn minh, việc ghi nhận này có thể nói là khá muộn. Tuy nhiên, đã thể hiện sự cầu thị, tiếp thu, kế thừa những giá trị của nhân loại, làm điều kiện thúc đẩy môi trường xã hội văn minh, tiến bộ.

Tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, hơn suốt hai mươi năm qua các quyền con người được tôn trọng, bảo vệ và thực thi thông qua việc ghi nhận nội dung quyền con người và quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản Hiến pháp Việt Nam qua các thời kỳ, đã thể hiện rõ quan điểm của Đảng và nhân dân Việt Nam về sự quan tâm có tiếp thu, kế thừa những quan điểm, giá trị tiến bộ của truyền thống dân tộc, của thế giới, cùng những kinh nghiệm lập hiến, lập pháp của các nước tiến bộ, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội nước nhà.

Để bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam bên cạnh việc nghiên cứu góp phần làm rõ những quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền công dân, thiết nghĩ chúng ta phải hoàn thiện tất cả các văn bản quy phạm pháp luật từ Luật, pháp lệnh đến các văn bản dưới luật theo tinh thần về quyền con người, quyền công dân đã được ghi nhận trong Hiến pháp, đồng thời mọi cơ quan nhà nước, tổ chức khi thực hiện mọi hoạt động cần phải tôn trọng, bảo đảm quyền con người, quyền công dân.

Quyền Lực Công Cộng, Sự Tha Hóa Quyền Lực Công Cộng Và Tham Nhũng

Trước hết, chúng ta cần khẳng định rằng, tham nhũng là một loại bệnh của nhà nước. Do đó, nghiên cứu tham nhũng, chủ yếu phải từ nghiên cứu nhà nước, phương thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước. Hãy bắt đầu bằng khái niệm quyền lực công cộng.

Quyền lực công cộng (loại quyền lực chung của bất kỳ cộng đồng xã hội nào) là nhu cầu tất yếu, khách quan trong đời sống của con người khi đã tập hợp thành xã hội. Đó chính là nhu cầu phối hợp hoạt động chung, duy trì trật tự chung và bảo về cộng đồng xã hội khỏi sự xâm hại từ bên ngoài. Đối với một cộng đồng nhỏ, như gia đình, dòng họ, thậm chí là thị tộc, quyền lực công cộng được tổ chức rất đơn giản, thường được trao cho một người hoặc một nhóm ít người có uy tín hoặc có sức mạnh. Ví dụ, quyền lực công cộng của một cộng đồng nhỏ nhất là gia đình chẳng hạn (tế bào của xã hội) thường trao cho người đàn bà (trong chế độ mẫu hệ) hoặc cho người đàn ông (trong chế độ phụ hệ); trong dòng họ thường trao cho người vai trên, cao tuổi, người có uy tín; đối với thị tộc thường trao cho một Hội đồng thị tộc gồm những người có uy tín và các thủ lĩnh quân sự. Cơ quan quyền lực công cộng này còn gắn chặt với cộng đồng, vừa trực tiếp sản xuất vừa làm chức năng quản lý xã hội. Trong loại hình tổ chức xã hội này còn chưa có tham nhũng, vì quá trình thực thi quyền lực công cộng rất minh bạch: cùng bàn bạc, cùng quyết định, cùng thực hiện và cùng chịu trách nhiệm (hưởng hoặc không hưởng kết quả của những quyết định đó). Các chu trình thực thi quyền lực công cộng trong xã hội thị tộc là trực tiếp, khép kín, từ lúc ra quyết định đến lúc có kết quả của quyết định đó, không qua cấp trung gian nào, không qua một đội ngũ quan lại trung gian nào.

Đây là một mô hình thực thi quyền lực công cộng mang tính minh bạch lý tưởng. Tuy nhiên, mô hình như vậy chỉ có thể tồn tại ở quy mô mô thị tộc hay một cộng đồng nhỏ. Khi sản xuất phát triển hơn, quy mô dân cư tăng lên, các mối tương tác nhiều hơn cũng là khi xuất hiện nhiều hơn các hình thức liên kết cá nhân, liên kết các cộng đồng xã hội, các thị tộc. Từ đây xuất hiện các tập đoàn xã hội, các giai cấp ở phạm vi rộng lớn, đó là các quốc gia, các nhà nước.

Nói đến nhà nước là nói đến một loại cộng đồng rộng lớn, trong đó có nhiều thành phần giai cấp, ổn định, sống trong một vùng lãnh thổ được khẳng định chủ quyền, gọi là biên giới quốc gia. Quyền lực công cộng kiểu thị tộc đã không thể duy trì được nữa, khách quan yêu cầu quyền lực công cộng cho toàn xã hội trên lãnh thổ quốc gia. Bây giờ quyền lực này không những mang tính chất công cộng, mà hơn thế nữa, nó mang tính chất công cộng rộng lớn nhất bao trùm toàn xã hội và toàn bộ lãnh thổ quốc gia. Vì tính chất đó, chủ thể quyền lực công cộng này – nhân dân – không thể tự thực thi một cách trực tiếp quyền lực công cộng như trong công xã hoặc thị tộc. Nó được trao cho một cơ quan, lúc đầu là từ xã hội nhưng bây giờ đã đứng lên trên xã hội, độc lập với xã hội. Cơ quan tối cao đó của xã hội gọi là nhà nước. ở đây, chúng tôi không bàn kỹ và đầy đủ về nhà nước, mà chỉ nhấn mạnh nguồn gốc ra đời của nó với tư cách là một cơ quan công cộng của toàn xã hội. Nhà nước – cơ quan công cộng tối cao của xã hội – khi vừa ra đời đã bị chi phối bởi những kẻ mạnh, của giai cấp giàu có (giai cấp thống trị) và giai cấp này dùng bộ máy nhà nước vừa thực hiện chức năng công quyền vừa làm lợi riêng cho giai cấp mình. Trong nhiều trường hợp và dần dần chức năng công quyền chỉ còn lại tối thiểu, việc làm lợi riêng cho giai cấp cầm quyền là mục tiêu chủ yếu của nhà nước. Nhà nước trở thành công cụ bóc lột nhân dân lao động, nuôi dưỡng bộ máy quan lại, trang bị những phương tiện vật chất to lớn nhất cho bộ máy cai trị và đàn áp, nhằm bảo vệ đặc quyền của giai cấp thống trị.

Để có thể có đủ sức mạnh bảo vệ đặc quyền của giai cấp thống trị, bộ máy nhà nước thường được tổ chức đồ sộ hơn mức cần thiết, bộ máy quan liêu nhiều tầng nấc và phức tạp, đội ngũ quan lại cũng ngày càng đông đảo, chi phí cho nhà nước ngày càng tăng.

Như vậy, quyền lực công cộng của toàn xã hội (quyền lực công) đã dần dần bị biến đổi, dần dần xa rời bản chất ban đầu của nó. Nhân dân – khách quan là người đã ủy quyền để tạo nên quyền lực công – đã dần dần không còn kiểm soát được nó nữa, thậm chí mất hẳn quyền lực và trở thành nạn nhân của các tệ chuyên quyền, lạm quyền. Những người đại diện ban đầu của nhân dân đã trở thành giai cấp thống trị, trở nên xa lạ với nhân dân, thành kẻ áp bức, bóc lột nhân dân. Quyền lực công ban đầu đã dần bị tha hóa, biến thành quyền lực chính trị thuần túy của giai cấp thống trị. Trong quá trình tha hóa quyền lực nhà nước đó, giai cấp thống trị đã biến nhà nước – một cơ quan công quyền – thành một công cụ thống trị giai cấp.

Quá trình phát triển của lịch sử chính trị đã cho thấy sự tha hóa quyền lực nhà nước thường diễn ra theo hướng bảo vệ lợi ích ích kỷ của giai cấp thống trị. Vì thếQ, để có thể có đủ sức mạnh bảo vệ đặc quyền của mình, giai cấp thống trị thường tổ chức bộ máy nhà nước theo hướng: đồ sộ hơn mức cần thiết (cồng kềnh), bộ máy quan liêu nhiều tầng nấc và phức tạp hơn nhu cầu quản lý; đội ngũ quan lại ngày càng đông đảo hơn nhu cầu thực tế; chi phí cho nhà nước ngày càng tăng cao hơn mức cần thiết.

Bốn yếu tố này là điều kiện sống còn của nhà nước bóc lột chuyên chế, quan liêu. Bởi vì chỉ nhờ vào các yếu tố này nhà nước mới tự nuôi sống nó bằng các phương thức vơ vét, bóc lột nhân dân, và tham nhũng chỉ là một loại hành vi của quá trình tự nuôi sống của nhà nước quan liêu, chuyên chế hoặc gọi cách khác là dã man (khác với nhà nước văn minh) mà thôi.

Như vậyN, từ lúc tan rã của chế độ công xã thị tộc, cùng với sự xuất hiện của cải thặng dư và việc chiếm hữu của cải thặng dư, cùng với xuất hiện giai cấp và bắt đầu hình thành bộ máy cai trị của tầng lớp giàu có, khi mà thị tộc đã không thể giúp đỡ được con người, con người cần đến nhà nước và nhà nước đã ra đời, nhưng lại nằm trong tay kẻ mạnh, thì chủ quyền nhà nước – vốn từ nhân dân – tự nhiên đã thuộc về kẻ mạnh. “Chúng được tôn kính như thần thánh, chúng xét xử và trừng phạt, giải quyết các cuộc tranh chấp” ( Ghêxioot). Tầng lớp này tạo ra luật pháp để cho mọi người phải thừa nhận sự thống trị của họ. Lúc này pháp luật hoàn toàn thuộc vào kẻ mạnh.

Ăngghen cũng đã viết về tình trạng này: “Lòng tôn kính không ép buộc mà trước kia người ta tự nguyện biểu thị với các cơ quan của xã hội thị tộc, là không đủ đối với bọn quan lại nữa, ngay cả trong trường hợp họ có cả sự tôn kính đó; họ là những đại biểu cho một quyền lực đã trở nên xa lạ đối với xã hội, nên phải bảo đảm quyền này của họ bằng những đạo luật đặc biệt, những đạo luật khiến cho họ trở thành đặc biệt thần thánh và đặc biệt bất khả xâm phạm. Viên cảnh sát tồi nhất của một nhà nước văn minh vẫn có quyền uy hơn tất cả những cơ quan của xã hội thị tộc cộng lại; nhưng một vương công có thế lực nhất, một chính khách hoặc một chỉ huy quân sự lớn nhất của thời đại văn minh vẫn có thể ghen tị với một vị thủ lĩnh nhỏ nhất trong thị tộc về sự tôn kính tự nguyện và không thể tranh cãi được mà vị thủ lĩnh ấy được hưởng. Đó là vì vị thủ lĩnh thị tộc nằm ngay trong lòng xã hội, còn những người kia thì bắt buộc mong muốn đại biểu cho một cái gì ở bên ngoài và đứng trên xã hội” (C. Mác, Ph. Ăngghen, Tuyển tập, T 6,Nxb Sựthật, H. 1984, tr 263 – 264).

ở các nhà nước chuyên chế phương Đông, quá trình ra đời của nhà nước cũng không khác mấy so với ở phương Tây. Nhưng ở đây, việc vua quan thần thánh hóa mình còn tinh vi hơn. Hàng ngàn năm, vua quan được giải thích là những người thay trời trị dân, là cha mẹ dân, có trách nhiệm chăn dắt, dạy dỗ dân. Vì thế, mỗi hành vi thực hiện chức năng công quyền của quan lại đều được coi là ban ơn cho dân. Nhân dân bị bóc lột, bị tước quyền mà vẫn cảm thấy đội ơn bọn vua quan áp bức. Trong tình hình như vậy, vua quan tha hồ bóp nặn nhân dân, nạn tham nhũng trở thành phổ biến, là hành vi thông thường của kẻ quan quyền. Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, việc bổ một chức quan luôn đi kèm với sự tính toán chức quan ấy sẽ ăn được gì ở vị trí bổ nhiệm.¡ n ở đây không phải là lương mà là bổng lộc và các khoản khác gọi là lậu.

Như vậy, trong lịch sử, hiện tượng tham nhũng đã từng là một kiểu tồn tại của hệ thống quan liêu của mọi nhà nước, một kiểu bảo kê chính thức được tiến hành bởi bộ máy và quan lại nhà nước. ở đây quan liêu và tham nhũng có quan hệ ruột thịt với nhau.

xuất phát từ và bureau nghĩa gốc là cái bàn viết, cái bàn giấy. Bureaucracy – Giới quan liêu, là những người thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước. Từ cuối thế kỷ XVIII, từ này bắt đầu mang ý nghĩa xấu, muốn chỉ giới quan chức hành chính, làm việc phục vụ giới đặc quyền, xa rời nhân dân, xa rời thực tế đời sống của nhân dân. Chế độ quan liêu Bureaucratizm – chủ nghĩa quan liêu là phương thức cai trị thông qua hệ thống quan lại tách rời nhân dân, đứng trên nhân dân, trong giải quyết công việc quản lý hành chính thường cố ý tạo ta sự phiền hà nhiều tầng nấc, gây nhũng nhiễu đối với nhân dân. Khi chế độ này trở thành phương thức hành động và nhân sinh quan, thì được gọi là chủ nghĩa quan liêu. Biểu hiện của chủ nghĩa quan liêu là: biệt lập với cuộc sống của nhân dân; tính đẳng cấp (thường là một hệ thống); tính áp đặt và mệnh lệnh; tính hình thức trong hoạt động quản lý; coi trọng chức vụ hành chính.

Chế độ quan liêu khi được coi trọng và sử dụng quá mức, bị lạm dụng, vượt quá giới hạn cần thiết, không kiểm soát được, sẽ trở thành lực cản đối với sự phát triển xã hội, gây thiệt hại, tổn thất cho nhân dân. Lúc đó, chế độ quan liêu trở thành bệnh quan liêu, tệ quan liêu, nạn quan liêu. Cũng cần nhấn mạnh rằng, bệnh quan liêu đang còn tồn tại trong nhà nước xã hội chủ nghĩa. Biểu hiện của bệnh quan liêu là: quan cách, quan dạng (cố làm ra vẻ bề trên, oai vệ, quyền uy giả tạo); háo danh, tham quyền, sính hình thức; hách dịch, cửa quyền với cấp dưới, với dân, kiêu ngạo, hợm hĩnh (nịnh trên nạt dưới); xa dân, không hiểu dân, khinh dân, sợ dân; bảo thủ, trì trệ, kinh nghiệm chủ nghĩa; bản chất của chủ nghĩa quan liêu là chủ nghĩa cá nhân.

Có thể nói, chế độ quan liêu xuất hiện cùng với sự xuất hiện của nhà nước. Nó là một tất yếu trong xã hội có giai cấp , là bộ máy để giai cấp này thực hiện sự cai trị đối với giai cấp khác. Chế độ quan liêu còn là một phương thức quản lý nhà nước, vì thế nó mang tính tất yếu, nhưng nó đối lập với phương thức quản lý dân chủ (chế độ dân chủ). Quan liêu gắn với bộ máy và công chức nhà nước, chủ yếu ở những cấp trên và xa cơ sở. Ngày nay, chủ nghĩa quan liêu không chỉ xuất hiện ở bộ máy nhà nước mà còn có ở bất kỳ tổ chức bộ máy quản lý nào, dù đó là tổ chức kinh tế hay xã hội. Như vậy, hệ thống quan liêu đã là môi trường để công chức nhà nước có thể lợi dụng chức vụ quyền hạn của mình trong thực thi quyền lực nhà nước để tham nhũng.

Tham nhũng (corruption) là một hiện tượng xã hội trong đó tổ chức tập đoàn, cá nhân lợi dụng những ưu thế về chức vụ, cương vị, uy tín, nghề nghiệp, hoàn cảnh của mình hoặc người khác, lợi dụng những sơ hở của pháp luật để làm lợi bất chính. Tham nhũng có thể diễn ra trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, đạo đức. Tham nhũng trong các lĩnh vực này quan hệ với nhau bằng một mạng lưới chằng chịt, che chắn, chế ước, thậm chí đe doạ lẫn nhau. Trong những nước mà ở đó tham nhũng trở thành tệ nạn, thì tham nhũng là một hệ thống tự bảo vệ vững chắc. Cũng cần thấy rằng, có những trường hợp có quan liêu mà không có tham nhũng, hoặc chỉ có tham nhũng mà không quan liêu. Tuy nhiên, trên thực tế, tệ quan liêu và tệ tham nhũng là anh em sinh đôi. Nạn quan liêu là tiền đề cho tham nhũng, tham nhũng làm trầm trọng thêm chế độ quan liêu. Quan liêu và tham nhũng quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo tiền đề và điều kiện cho nhau, chúng đối lập với dân chủ, công khai và minh bạch. Vì vậy, về nguyên tắc, chống tham nhũng cũng đồng thời với chống quan liêu và ngược lại.

Cuộc đấu tranh chống tham nhũng, từ trước tới nay, thường không độc lập mà gắn liền với các cuộc đấu tranh chống chế độ quan liêu – chuyên chế hà khắc nói chung, chống nhà cầm quyền nói riêng. Các hình thức đấu tranh cũng vô cùng phong phú, đa dạng, đỉnh cao là những cuộc khởi nghĩa của nhân dân. Các cuộc đấu tranh đó, nhìn tổng quát trong lịch sử là một bộ phận không tách rời của các cuộc đấu tranh giai cấp. Qua các cuộc đấu tranh đó, nhà nước ngày càng tiến hóa và ngày càng văn minh hơn, chức năng công quyền ngày càng được quan niệm và thực hiện đúng hơn; hoạt động của nhà nước ngày càng được minh bạch, được sự kiểm soát chặt chẽ của toàn xã hội. Sự ra đời của nhà nước pháp quyền chính là thành quả của văn minh hóa tổ chức và hoạt động của nhà nước, chống sự tha hóa quyền lực nhà nước, và là một phương thức quan trọng chống tệ nạn quan liêu, tham nhũng. Tuy vậy, nhà nước pháp quyền cũng có những thất bại của nó, cho nên không thể có ảo tưởng rằng, cứ xây dựng nhà nước pháp quyền thì tự nhiên tham nhũng sẽ bị đẩy lùi.

Ngày nay trong bất kỳ hệ thống xã hội nào, ngoài nhà nước còn hàng loạt các tổ chức khác nhau như đảng chính trị; các tổ chức chính trị – xã hội; các tổ chức xã hội, xã hội nghề nghiệp; các tổ chức kinh tế. Nhưng không có tổ chức nào có được tính chất như nhà nước.

Một đặc điểm của tổ chức quyền lực công (quyền lực nhà nước) là một bộ máy có nhiều cấp, tổ chức bao trùm và rộng khắp toàn xã hội, những người được giao nhiệm vụ thực thi quyền lực công là những người giữ một chức vụ, có quyền hạn nhất định và được giao các phương tiện công để thực hiện quyền lực; trong đó có nhiều phương tiện đặc quyền, tức ngoài bộ máy nhà nước, không ai có thể có được. Công chức hành chính nhà nước có quyền ra quyết định hành chính bắt buộc thi hành ngay, quyền cưỡng chế hành chính, quyền trưng dụng, trưng mua. Thẩm phán các toà án có quyền xét xử các vụ án hình sự, dân sự, lao động, kinh tế, hành chính. Kiểm sát viên có quyền công tố và kiểm sát chung. Thủ trưởng các cơ quan nhà nước có quyền quản lý, sử dụng tài chính, công sản nhà nước. Người đứng đầu các tổ chức kinh tế, dịch vụ nhà nước có quyền quản lý, sử dụng vốn, tài sản nhà nước giao cho họ. Sự khác biệt giữa cơ quan tổ chức nhà nước với các tổ chức khác không phải là cơ quan công quyền là ở chỗ, toàn bộ quyền hạn của cơ quan, tổ chức, chức vụ nhà nước được pháp luật quy định, làm cho nó trở thành quyền lực hợp pháp và tối cao. Tuy nhiên, trong thực thi quyền lực nhà nước, sự xê dịch giữa đúng thẩm quyền và lạm quyền chỉ là gang tấc, ở đó dễ có khuynh hướng lạm quyền. Khi các quan chức trong bộ máy nhà nước được trao thẩm quyền công, họ có thể thu lợi tư từ sự lạm dụng thẩm quyền ấy. Đó là tham nhũng. Vì vậy, tham nhũng là sản phẩm của xã hội có nhà nước, là căn bệnh đồng hành với nhà nước. Tuy nhiên, trong mỗi chế độ nhà nước khác nhau, thì tính chất và mức độ tham nhũng cũng khác nhau, phụ thuộc vào bản chất giai cấp, phương thức tổ chức và thực thi quyền lực nhà nước, vào năng lực của đội ngũ công chức của nhà nước đó.

Tóm lạiT, tính ăn bám của nhà nước đã nói lên rằng, tham nhũng là một thuộc tính của nhà nước ăn bám. Tham nhũng là một hình thức tha hóa (biến dạng) của quyền lực nhà nước (do nhân dân ủy quyền), là một phương thức tồn tại của bộ máy quan liêu, bóc lột, chuyên chế của nhà nước. Tham nhũng và đấu tranh chống tham nhũng gắn với quá trình ra đời và vận động của nhà nước. Vì vậy, nghiên cứu tham nhũng không thể không nghiên cứu cách tổ chức và vận hành nhà nước. Có như vậy, chúng ta mới có thể ngăn chặn, đẩy lùi quốc nạn tham nhũng.

NGUỒN: TẠP CHÍ NGHIÊN CỨU LẬP PHÁP SỐ THÁNG 3/2008

Bạn đang đọc nội dung bài viết Về Quyền Hành Pháp Của Chính Phủ Trong Cơ Chế Phân Công, Phối Hợp Và Kiểm Soát Quyền Lực Nhà Nước trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!