Đề Xuất 12/2022 # Viêm Gan C, Cấp Tính / 2023 # Top 12 Like | Cuocthitainang2010.com

Đề Xuất 12/2022 # Viêm Gan C, Cấp Tính / 2023 # Top 12 Like

Cập nhật nội dung chi tiết về Viêm Gan C, Cấp Tính / 2023 mới nhất trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng thông tin trong bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu ngoài mong đợi của bạn, chúng tôi sẽ làm việc thường xuyên để cập nhật nội dung mới nhằm giúp bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất.

Nguyên nhân gây viêm gan C là do vi-rút RNA, loại này thường lây truyền qua đường tiêm. Đôi khi bệnh gây ra các triệu chứng điển hình của bệnh viêm gan vi-rút, bao gồm chán ăn, mệt mỏi, và vàng da nhưng có thể không có triệu chứng. Viêm gan tối cấp và tử vong hiếm khi xảy ra. Viêm gan mạn phát triển ở khoảng 75% bệnh nhân và có thể dẫn đến xơ gan nhưng hiếm khi thành ung thư biểu mô tế bào gan. Chẩn đoán bằng xét nghiệm huyết thanh học. Điều trị theo hướng hỗ trợ. Không có vắc-xin

Tại Mỹ, có khoảng 2000 trường hợp nhiễm viêm gan C cấp tính được báo cáo hàng năm. Tuy nhiên, vì nhiều trường hợp không được phát hiện hoặc không được báo cáo, CDC ước tính rằng số ca nhiễm mới là gần 30.000 mỗi năm (xem CDC Hepatitis C FAQs).

Vi-rút viêm gan C (HCV) là một flavivirus RNA sợi đơn, vi-rút này gây viêm gan vi-rút cấp và là một nguyên nhân phổ biến của viêm gan vi-rút mạn tính. Sáu phân nhóm (subtype) lớn của HCV tồn tại với trình tự axit amin khác nhau (kiểu gen); những phân nhóm này khác nhau về địa lý, độc tính và đáp ứng với điều trị. HCV cũng có thể thay đổi cấu trúc axit amin theo thời gian ở người bị bệnh, tạo ra các chủng biến đổi (quasispecies).

Nhiễm HCV đôi khi xảy ra đồng thời với các rối loạn hệ thống cụ thể, bao gồm:

Cryoglobulin máu thể hỗn hợp

Bệnh porphyrin da (khoảng 60 đến 80% bệnh nhân rối loạn porphyrin bị nhiễm HCV, nhưng chỉ có số ít bệnh nhân bị nhiễm HCV bị rối loạn porphyria)

Cơ chế còn chưa rõ ràng.

Đường lây nhiễm thường gặp nhất là đường máu, chủ yếu khi bệnh nhân tiêm chích ma túy sử dụng chung bơm kim tiêm, nhưng cũng có thể do xăm mình hoặc bấm khuyên.

Lẫy truyền viêm gan C qua đường tình dọc hoặc lây truyền dọc từ mẹ sang con khá hiếm gặp.

Hiềm gặp lây truyền viêm gan C qua truyền máu kể từ khi áp dụng xét nghiệm sàng lọc máu hiến.

Một số trường hợp lây nhiễm đơn lẻ mà không có yếu tố nguy cơ rõ ràng.

Tỷ lệ nhiễm HCV thay đổi theo vùng địa lý và các yếu tố nguy cơ khác.

Viêm gan C có thể không có triệu chứng trong nhiễm trùng cấp tính. Mức độ nặng của bệnh thường dao động, đôi khi gây viêm gan tái phát và nồng độ aminotransferase thay đổi liên tục trong nhiều năm hoặc thậm chí hàng thập kỷ. Viêm gan tối cấp rất hiếm gặp.

HCV có tỷ lệ trở thành mạn tính cao nhất (khoảng 75%). Bệnh nhân viêm gan C mạn tính thường không có triệu chứng hoặc triệu chứng lành tính nhưng tiến triển thành xơ gan ở 20 đến 30% bệnh nhân; xơ gan thường xuất hiện sau hàng thập kỷ. Ung thư biểu mô tế bào gan có thể là hậu quả của xơ gan do HCV gây ra nhưng rất hiếm gặp ở bệnh nhân nhiễm vi-rút mạn nhưng không xơ gan (khác với viêm gan B).

Nếu xét nghiệm atni-HCV dương tính, HCV-RNA cần được đo để phân biệt giai đoạn cấp với nhiễm viêm gan C cũ (xem Bảng: Xét nghiệm Hepatitis C).

Trong viêm gan C, anti-HCV trong huyết thanh phản ánh nhiễm trùng mạn tính, lây nhiễm trước đây hoặc cấp tính; kháng thể không có tác dụng bảo vệ. Khi các ca bệnh không rõ ràng hoặc nghĩ nhiều đến viêm gan C, cần được đo HCV-RNA. Anti-HCV thường xuất hiện trong vòng 2 tuần bị nhiễm trùng cấp tính nhưng có thể muộn hơn; tuy nhiên, HCV-RNA dương tính sớm hơn.

Hiện có một số thuốc kháng vi-rút tác động trực tiếp mới được sản xuất và có hiệu quả cao đối với viêm gan C và có thể làm giảm khả năng tiến triển mạn tính của bệnh. Tuy nhiên, phác đồ điều trị rất tốn kém và chưa được nghiên cứu trên bệnh nhân có biểu hiện cấp tính. Hiện nay các khuyến cáo là theo dõi bệnh nhân trong 6 tháng để bệnh nhân đào thải rồi sau đó điều trị những bệnh nhân có vi-rút trong máu kéo dài (ví dụ, viêm gan C mạn tính [ 1]).

Trong những trường hợp nhất định, bác sĩ lâm sàng có thể quyết định rằng điều trị sớm hơn so với khuyến cáo có hiệu quả hơn tự đào thải HCV ( 1) như trong những trường hợp sau:

Nên hạn chế uống rượu vì làm tăng tổn thương gan. Hạn chế vận động và ăn uống kiêng khem, bao gồm chỉ định thường gặp là nghỉ ngơi tại giường là không có cơ sở khoa học.

Hầu hết bệnh nhân có thể trở lại làm việc bình thường sau khi vàng da đã thuyên giảm, ngay cả khi mức AST hoặc ALT vẫn tăng nhẹ.

Đối với viêm gan ứ mật, cholestyramine 8g đường uống một lần/ngày hoặc hai lần/ngày có thể giảm ngứa.

Viêm gan vi-rút nên được báo cáo cho sở y tế địa phương hoặc tiểu bang.

Bệnh nhân nên được khuyến cáo tránh những hành vi có nguy cơ cao (ví dụ như dùng chung bơm kim tiêm, xăm và bấm khuyên).

Máu và các chất dịch cơ thể khác (ví dụ, nước bọt, tinh dịch) được coi là có khả năng lây nhiễm. Nguy cơ nhiễm trùng sau một lần phơi nhiễm với kim tiêm vào khoảng 1,8%. Các biện pháp bảo vệ là cần thiết, nhưng cách ly bệnh nhân không có giá trị trong phòng ngừa viêm gan C cấp.

Nguy cơ lây truyền từ nhân viên y tế bị nhiễm HCV là khá thấp, và các khuyến cáo của CDC đều không hạn chế đối với các nhân viên chăm sóc sức khoẻ mắc viêm gan C.

Nhiễm trùng sau truyền máu được giảm thiểu bằng cách tránh truyền máu không cần thiết và sàng lọc HBsAg và HCV cho tất cả người hiến. Việc sàng lọc đã làm giảm tỉ lệ nhiễm viêm gan sau truyền máu, có thể vào khoảng 1/100.000 đơn vị máu được truyền.

Không có sản phẩm nào có thể dự phòng miễn dịch với HCV. Xu hướng HCV tự thay đổi bộ gen của mình làm việc phát triển vắc-xin gặp khó khăn.

Viêm Gan B, Cấp Tính / 2023

Xét nghiệm huyết thanh học

Trong chẩn đoán ban đầu của viêm gan cấp tính, viêm gan vi-rút nên được chẩn đoán phân biệt với các rối loạn gây vàng da khác (xem Hình: Tiếp cận chẩn đoán rút gọn viêm gan vi-rút cấp). Nếu nghi ngờ viêm gan vi-rút cấp tính, các xét nghiệm sau đây cần được thực hiện để sàng lọc vi-rút viêm gan A, B và C:

Kháng thể IgM kháng HAV (IgM anti-HAV)

Kháng nguyên bề mặt viêm gan B (HBsAg)

Kháng thể IgM kháng vi-rút viêm gan B (IgM anti-HBc)

Kháng thể kháng vi-rút viêm gan C (anti-HCV) và PCR tìm ARN viêm gan C (HCV-RNA)

Nếu bất kỳ xét nghiệm viêm gan B nào có kết quả dương tính, cần phải làm thêm xét nghiệm huyết thanh học để phân biệt giai đoạn cấp với nhiễm trùng cũ và nhiễm trùng mạn (xem Bảng: Viêm gan B *). Nếu xét nghiệm huyết thanh học gợi ý đến viêm gan B, xét nghiệm kháng nguyên viêm gan B (HBeAg) và kháng thể kháng vi-rút viêm gan B (anti-HBe) thường được chỉ định để tiên lượng và định hướng điều trị liệu pháp kháng vi-rút. Nếu xét nghiệm huyết thanh học xác định nhiễm HBV mức độ nặng thì cần đo kháng thể kháng vi-rút viêm gan D (anti-HDV).

Viêm gan B có ít nhất 3 hệ thống kháng nguyên kháng thể khác nhau có thể làm xét nghiệm được:

HBsAg

Kháng nguyên lõi của viêm gan B (HBcAg)

HBeAg

HBsAg xuất hiện đặc trưng trong giai đoạn ủ bệnh, thường là 1-6 tuần trước khi có biểu hiện trên lâm sàng hoặc xét nghiệm sinh hóa. Kháng nguyên này thể hiện mức độ lây nhiễm của máu. Kháng nguyên biến mất trong quá trình hồi phục. Tuy nhiên, HBsAg cũng có lúc xuất hiện lại trong thời gian ngắn. Các kháng thể đáp ứng (anti-HBs) xuất hiện sau vài tuần hoặc vài tháng sau khi bệnh nhân đã hồi phục lâm sàng và thường kéo dài suốt đời; vì vậy, việc phát hiện các kháng thể này cho thấy bệnh nhân đã nhiễm HBV trong quá khứ và có miễn dịch tương đối với bệnh. Ở 5 đến 10% bệnh nhân, HBsAg vẫn tồn tại và kháng thể không được hình thành; những bệnh nhân này sẽ trở thành những người lành mang vi-rút hoặc tiến triển viêm gan mãn tính.

HBcAg thể hiện lõi của vi-rút. Kháng nguyên này có thể được tìm thấy trong tế bào gan bị nhiễm bệnh nhưng không phát hiện được ở trong huyết thanh trừ khi sử dụng các kỹ thuật đặc biệt. Kháng thể kháng HBcAg (anti-HBc) thường xuất hiện trong giải đoạn khởi phát các triệu chứng lâm sàng; sau đó, hiệu giá kháng thể giảm dần, thường là qua nhiều năm hoặc kéo dài suốt đời. Sự có mặt của kháng thể này kèm theo anti-HBs cho thấy bệnh nhân đã hồi phục từ lây nhiễm HBV trước đó. Anti-HBc cũng có mặt ở những người lành mang HBsAg mạn tính, những người không có phản ứng với anti-HBs. Trong nhiễm trùng cấp tính, anti-HBc chủ yếu là IgM, trong khi ở nhiễm trùng mạn tính, IgG anti-HBc chiếm ưu thế hơn. IgM anti-HBc là một chỉ điểm nhạy cảm của nhiễm HBV cấp tính và đôi khi là dấu hiệu duy nhất của nhiễm trùng mới mắc, kháng nguyên này phản ánh giai đoạn cửa sổ giữa sự tiêu biến của HBsAg và sự xuất hiện của anti-HBs.

HBeAg là một protein lấy từ lõi vi-rút (không nên nhầm lẫn với vi-rút viêm gan E). Chỉ xuất hiện trong huyết thanh có HBsAg dương tính, HBeAg phản ánh vi-rút đang nhân lên và lây nhiễm ở mức độ lớn hơn. Ngược lại, sự xuất hiện của kháng thể tương ứng (anti-HBe) cho thấy khả năng lây nhiễm thấp hơn. Do đó, các dấu hiệu kháng nguyên HBe có ý nghĩa trong việc tiên lượng hơn là chẩn đoán. Bệnh gan mạn tính thường xuất hiện ở những bệnh nhân có HBeAg và ít gặp ở những bệnh nhân có anti-HBe.

HBV-DNA có thể được phát hiện trong huyết thanh của bệnh nhân nhiễm HBV hoạt động.

Bảng

Viêm gan B *

Chất chỉ điểm

Nhiễm HBV cấp tính

Nhiễm HBV mạn tính

Nhiễm HBV trước đây†

HBsAg

+

+

Anti-HBs

+‡

IgM anti-HBc

+

IgG anti-HBc

+

±

HBeAg

±

±

Anti-HBe

±

±

HBV-DNA

+

+

* Cần đo nồng độ kháng thể kháng vi-rút viêm gan D (anti-HDV) nếu xét nghiệm huyết thanh học xác định nhiễm HBV và nhiễm mức độ nặng.

†Bệnh nhân đã bị nhiễm HBV trước đó và đã hồi phục.

‡Anti-HBs cũng được xem là chất chỉ điểm huyết thanh duy nhất sau tiêm phòng HBV.

Anti-HBc = kháng thể kháng lõi vi-rút viêm gan B; anti-HBe = kháng thể kháng HBeAg; anti-HBs = kháng thể kháng HBsAg; HBeAg = kháng nguyên e của viêm gan B; HBsAg = Kháng nguyên bề mặt viêm gan B; HBV = vi-rút viêm gan B.

Các xét nghiệm khác

Xét nghiệm chức năng gan là cần thiết nếu chưa được chỉ định trước đây; các xét nghiệm bao gồm ALT, AST, phosphatase kiềm, và bilirubin.

Các xét nghiệm khác cần được thực hiện để đánh giá mức độ nặng của bệnh; bao gồm albumin huyết thanh, số lượng tiểu cầu và PT/INR.

Triệu Chứng Viêm Gan B Cấp Tính / 2023

Viêm gan B là do virus HBV tấn công vào gan, gây tổn thương tế bào gan, dẫn đến chức năng gan suy giảm. Viêm gan B nếu không được điều trị kịp thời có dẫn đến những biến chứng nguy hiểm như xơ gan, ung thư gan.

Viêm gan B gồm 2 giai đoạn là viêm gan B cấp tính và viêm gan B mãn tính. Ở giai đoạn viêm gan B cấp tính thì thời gian trị liệu ngắn hơn. Thời gian ủ bệnh ở giai đoạn cấp tính là từ 3-6 tháng, trong thời gian này, 90% người trưởng thành sẽ tự sinh ra kháng thể trong hệ miễn dịch để chống lại virus HBV, 10% còn lại sẽ chuyển sang giai đoạn mãn tính, lúc này sẽ khó điều trị hơn.

Các triệu chứng của viêm gan B cấp tính

Bệnh nhân mắc bệnh viêm gan B cấp tính thường không có các triệu chứng rõ ràng, khiến bệnh nhân chủ quan lầm tưởng những dấu hiệu của là biểu hiện của một bệnh cảm thông thường mà bỏ qua hoặc trị liệu không đúng cách.

Các triệu chứng phổ biến nhất của bệnh viêm gan B cấp bao gồm:

Sốt nhẹ ở những ngày đầu tiên phát bệnh, có khi sốt lên 39 độ. Bệnh nhân thường sốt vào buổi chiều, cơ thể thường có cảm giác mệt mỏi, mất tập trung.

Rối loạn tiêu hóa với mức độ nhẹ là triệu chứng thường gặp ở bệnh nhân viêm gan B cấp tính. Người bệnh sẽ thấy khó tiêu, chán ăn, tiêu chảy, nước tiểu có màu hơi vàng.

Khi bạn gặp các triệu chứng bất thường trên thì bạn cần phải đi làm xét nghiệm kiểm tra viêm gan B ngay để có thể xác định sớm bệnh và an tâm hơn về sức khỏe.

Các xét nghiệm viêm gan B

Vì các triệu chứng của viêm gan B cấp tính thường có các biểu hiện chung chung của bệnh cảm thông thường nên bệnh nhân thường hay chủ quan bỏ qua, việc này sẽ dẫn đến tình trạng bệnh trở nên nặng hơn, khó điều trị hơn. Vì vậy, lúc này nếu bạn phát hiện cơ thể xuất hiện những triệu chứng kể trên thì việc đầu tiên là nên đến các để làm các xét nghiệm kiểm tra. Thông thường, bạn sẽ được tư vấn làm các xét nghiệm như kiểm tra chức năng gan, kiểm tra 5 hạng mục, xét nghiệm HBV-DNA, siêu âm hoặc sinh thiết gan. Qua các loại xét nghiệm này, bạn có thể chẩn đoán chính xác hơn về tình trạng bệnh và có thể xem xét có hướng điều trị thích hợp.

Dấu Hiệu Của Bệnh Viêm Gan B Cấp Tính, Mạn Tính / 2023

Viêm gan B là một trong những bệnh lý ít có triệu chứng bệnh khi mới nhiễm hoặc ở những người có đề kháng tốt. Vậy đâu là dấu hiệu của viêm gan B và các triệu chứng của viêm gan B cấp tính, mãn tính? Tham khảo ngay bài viết này để biết thêm thông tin về dấu hiệu của bệnh viêm gan B.

1. Những dấu hiệu của viêm gan B

Không phải người bệnh nào cũng nắm được những dấu hiệu bệnh viêm gan B, vì đa số những người bị viêm gan B không có triệu chứng gì rõ rệt và nhiều người không biết họ mang siêu vi trong người. Tuy nhiên, ngay cả khi không có triệu chứng gì, gan vẫn có thể đang bị siêu vi B hủy hoại.

Viêm gan B gồm thể cấp và thể mãn tính, cách nhận biết và dấu hiệu của bệnh viêm gan B ở hai thể này là khác nhau.

Triệu chứng khi bị viêm gan B cấp tính

Ở thể cấp, các dấu hiệu của viêm gan B có thể nhận biết dễ dàng hơn, thông thường giai đoạn nhiễm trùng cấp tính, viêm gan B không xuất hiện triệu chứng gì đặc biệt. Tuy nhiên, trên thực tế đã ghi nhận một số trường hợp trải qua giai đoạn cấp tính với các triệu chứng kéo dài vài tuần như: vàng da và mắt (bệnh vàng da), nước tiểu đậm màu, mệt mỏi, buồn nôn, nôn và đau bụng.

Triệu chứng viêm gan B mạn tính

Khi nhiễm bệnh viêm gan B ở thể mãn tính, người bệnh sẽ có triệu chứng như: mệt mỏi, đau tức vùng gan, ăn kém, ngứa, da vàng, mắt vàng do virus tấn công vào gan khiến gan to, xơ, men gan tăng cao đây là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến ung thư gan. Mặc dù vậy, một số trường hợp vẫn không có triệu chứng, chỉ phát hiện khi đi kiểm tra sức khoẻ.

Cách phát hiện mình có bị nhiễm viêm gan B hay không duy nhất hiện nay là sử dụng phương thức xét nghiệm máu. Vì vậy, để chắc chắn về tình trạng sức khỏe của mình ngoài việc tham khảo những dấu hiệu của viêm gan B, bạn nên đến trực tiếp những cơ sở gần nhất để được xét nghiệm, kịp thời phát hiện bệnh và xử lý.

Cho đến nay vẫn chưa có phương pháp điều trị viêm gan B triệt để. Cách điều trị tốt nhất chỉ dừng lại ở mức kiểm soát và ức chế sự phát triển của virus HBV nhằm ngăn ngừa tái phát những biến chứng và phục hồi các chức năng gan. Việc điều trị virus viêm gan B phụ thuộc vào thể trạng virus gây bệnh, tình trạng bệnh cũng như tiền sử bệnh.

Cách điều trị đối với người bệnh nhiễm viêm gan B cấp tính: Hạn chế ăn chất béo, kiêng rượu bia, tránh sử dụng các thuốc chuyển hóa qua gan; Nghỉ ngơi và dưỡng sức trong thời kỳ có triệu chứng lâm sàng; đối với thể viêm gan tối cấp: Cần điều trị hồi sức nội khoa tích cực. Có thể cân nhắc sử dụng thuốc kháng vi rút đường uống.

Cách điều trị bệnh viêm gan B mạn tính hiện nay: bằng cách Xét nghiệm ALT tăng trên 2 lần giá trị bình thường hoặc có bằng chứng xác nhận có xơ hóa gan tiến triển/xơ gan bất kể ALT ở mức nào. Lúc này người bệnh cần hết sức lưu ý và tăng cường sử dụng thuốc theo đúng chỉ định cả bác sĩ

Ngoài ra người bệnh viêm gan B cấp và mạn tính nên sử dụng nấm lim xanh tự nhiên trong quá trình điều trị viêm gan B. Theo như nghiên cứu trong nấm lim xanh chứa nhiều hoạt chất tốt cho sức khỏe, đặc biệt là với bệnh nhân nhiễm viêm gan B. Nấm lim xanh tự nhiên được ví như “Thần dược” giúp cải thiện tình trạng bệnh lý viêm gan B phát triển mạnh hơn, hỗ trợ điều trị bệnh viêm gan B song song với tây y.

CÔNG TY TNHH NẤM LIM XANH TIÊN PHƯỚC

Địa chỉ: Thôn 4, xã Tiên Hiệp, huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam

Số điện thoại: 0982419526

Email: congtynamtienphuoc@gmail.com

3. Cách phòng bệnh và tránh lây nhiễm viêm gan B

Cách phòng tránh phát khởi và lây nhiễm viêm gan B tốt nhất hiện nay vẫn là hạn chế tiếp xúc với người bệnh qua các đường tiếp xúc trực tiếp như máu và tình dục. Ngoài ra để nâng cao khả năng phòng bệnh chúng ta có thể luyện tập thể thao và sử dụng thêm các loại thảo dược như nấm lim xanh.

Đối với trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cách phòng bệnh tốt nhất là dùng vắc xin phòng viêm gan B. Nên tiêm ngay trong vòng 24 giờ đầu sau sinh, sau đó phác đồ của vắc xin viêm gan B sẽ theo vắc xin viêm gan B đơn hoặc thành phần vắc xin viêm gan B có trong các mũi vắc xin phối hợp. Người lớn cần làm các xét nghiệm HBsAg và anti-HBs (HBsAb) để biết đã bị nhiễm virus viêm gan B hay trong cơ thể đã có kháng thể kháng virus viêm gan B hay chưa. Nếu kết quả là HBsAg âm tính thì cần phải tiêm phòng vắc xin càng sớm càng tốt

Không chỉ có tác dụng trong việc hỗ trợ điều trị bệnh viêm gan B, nấm lim xanh còn được đánh giá là có tác dụng rất tốt trong việc điều trị bệnh ung thư. Bạn có thể tìm hiểu thêm trong bài Nấm lim xanh chữa ung thư.

Bạn đang đọc nội dung bài viết Viêm Gan C, Cấp Tính / 2023 trên website Cuocthitainang2010.com. Hy vọng một phần nào đó những thông tin mà chúng tôi đã cung cấp là rất hữu ích với bạn. Nếu nội dung bài viết hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!